thien-long-bat-bo

THIÊN LONG BÁT BỘ THIEN LONG BAT BO THIENLONGBATBO THIEN-LONG-BAT-BO

THIÊN LONG BÁT BỘ

 

Vương Ngữ Yến

Đọc truyện hay hơn xem phim Từ Hồi 1 đến Hồi 34 (Chương 1 – 34)

Chương 1 THIÊN LONG BÁT BỘ – HỒI 1

Những huyền bí sau núi Vô Lượng


Kim Dung

Một luồng ánh sáng xanh lóe ra, cây kiếm Thanh Cương nhằm thẳng vai
bên trái gã đứng tuổi phóng tới lẹ như chớp làm cho gã không kịp vung
kiếm lên gạt, vội né tránh. Mũi Thanh Cương đi trệch sang bên phải gần sát
cổ thì bỗng đánh choang một tiếng, cây Thanh Cương đụng mạnh vào thanh
trường kiếm của gã đứng tuổi đưa thẳng lên đỡ. Dư âm chưa tắt, ánh kiếm
lập lòe, mới chớp mắt mà hai bên đã thay đổi thế kiếm đến bảy đường. Vụt
một cái, thanh trường kiếm của gã lớn tuổi nhằm giữa mặt gã trẻ tuổi chém
xả xuống. Gã trẻ tuổi né sang bên hữu tránh khỏi, rồi tiện tay trái lao cây
Thanh Cương như gió chém tạt sang chân gã đứng tuổi. Đã đến lúc hai gã
đánh mau, đỡ lẹ, bằng những đường kiếm hiểm hóc, quyết liệt tưởng chừng
như cuộc đấu ăn thua trí mạng.
Trong luyện võ sảnh, ngồi chính giữa là một ông già, tuổi ngoại năm mươi,
giơ tay lên vuốt chòm râu dài ra chiều đắc ý. Ngoài hai mươi tên đồ đệ vừa
nam vừa nữ đứng chầu hầu hai bên, ai nấy chăm chú theo dõi cuộc đấu
kiếm ngoài võ trường. Bên hành lang phía tây, trên mười người khách ngồi
trên ghế lót đệm gấm xem cuộc đấu, nhìn không chớp mắt.
Ngoài võ trường một lớn, một nhỏ giao đấu đã ngoài bảy mơi thế kiếm.
Bên nào cũng giở những thế kiếm hiểm ác với ý định hạ đối phương cho lẹ.
Hai bên đang ở thế quân bình, không phân hơn kém, đột nhiên gã đứng tuổi
vung lên một đường kiếm, dùng sức quá mạnh, xiêu hẳn người đi, dường
như sắp té nhào.
Trong đám khách ngồi xem, một cậu nhỏ mặc áo trắng thấy vậy bất giác phì
cười. Nhng cậu biết ngay thế là thiếu lịch sự, vội lấy tay che miệng.
Ngay lúc ấy, ngoài võ trường gã trẻ tuổi cầm kiếm quất vào lưng gã đứng
tuổi. Gã này thừa thế xoay mình lại, tiện đà cầm thanh trường kiếm vừa
chém vừa quát một tiếng “Mau”. Nhát kiếm đến nhanh như chớp, gã trẻ tuổi
không tài nào tránh kịp, bị chém trúng vào bắp vế bên trái. Bị thương gã
bước loạng choạng, phải chống kiếm xuống đất mới đứng vững lại được. Gã
trẻ tuổi toan đấu nữa, nhưng gã đứng tuổi đã tra kiếm vào bao tươi cười hỏi:
– Chử sư đệ! Ngu huynh cảm ơn sư đệ đã nhường cuộc thắng cho. Sư đệ có
đau không?
Gã trẻ tuổi họ Chử, sắc mặt nhợt nhạt, mím môi đáp:
– Đa tạ Cung sư huynh có lòng tốt đã nhẹ đòn cho.
Ông già râu dài vẻ mặt hớn hở, mỉm cười nói:
– Phe Đông thắng cuộc này nữa là ba. Vậy được ở lại Cung Kiếm Hồ năm
năm nữa. Tân sư muội có ý kiến gì nữa chăng?
Một vị đạo cô đứng tuổi ngồi ở mé tây nhà luyện võ sảnh có vẻ bực tức, nén
giận đáp:
– Tả sư huynh khéo rèn được đồ đệ xuất sắc. Nhưng năm năm vừa qua
chẳng hay sư huynh đã nghiên cứu tinh vi được điều bí ẩn ở núi Vô Lượng
cha?
Ông già râu dài trừng mắt nhìn đạo cô nói:
– Sư muội quên lề lối của phái ta rồi sao?
Đạo cô đành chép miệng một cái rồi không nói gì nữa.
Ông già họ Tả, tên gọi Tả Tử Mục, khách giang hồ tặng cho ông cái ngoại
hiệu là “Nhất kiếm trấn Thiên Nam”, chưởng giáo phe Đông phái Vô Lượng
Kiếm, còn vị đạo cô kia đạo hiệu là Song Thanh, biệt hiệu là “Phản quang
tróc ảnh”, cầm đầu phe Tây phái Vô Lượng kiếm. Nguyên phái Vô Lượng
kiếm chia làm ba phe: phe Đông, phe Nam và phe Tây. Nhưng phe Nam
suy sụp từ lâu rồi chỉ còn hai phe Đông và Tây là hưng thịnh và có lắm
nhân tài. Phái Vô lượng kiếm sáng lập từ triều Hậu Đường đời Ngũ Đại, đến
đầu đời Tống thì chia ra ba phe. Cứ năm năm thì đồ đệ cả ba phe hội họp ở
cung Kiếm Hồ trên núi Vô Lượng để đấu kiếm với nhau, phe nào thắng thì
được ở cung Kiếm Hồ năm năm, đến năm thứ sáu lại mở cuộc đấu. Mỗi kỳ
đấu gồm năm trận, hễ thắng ba là được. Trong khoảng thời gian năm năm,
phe thua dĩ nhiên là phải cố gắng tập rượt để kỳ sau rửa hận, mà phe thắng
cũng chẳng dám chểnh mảng chút nào. Mấy chục năm nay, phe Nam chả
bao giờ đợc thắng cả, chỉ hai phe Đông và Tây ăn thua với nhau. Từ ngày
Tả Tử Mục và Song Thanh lên nắm quyền chưởng giáo thì phe Đông thắng
được hai kỳ, phe Tây được một. Trong kỳ này, tới trận gã họ Cung phe
Đông đấu với gã họ Chử phe Tây là trận thứ tư, Cung thắng thế là phe Đông
được ba, như vậy trận thứ năm không cần phải đấu nữa, đằng nào phe Đông
cũng thắng rồi.
Phái Vô Lượng kiếm nổi tiếng trong đám giang hồ đã lâu. Nhờ ở thể lệ năm
năm một lần đấu mà dư trăm năm nay kiếm thuật nghiên cứu ngày một tinh
vi hơn và tiến bộ rất nhiều. Phái này chỉ tranh đấu với nhau, ít khi gây thù
oán với khách giang hồ để phát sinh xung đột đến phải vong mạng. Những
tay cự phách đều tồn tại cho đến lúc thọ chung vì thế mà bảo toàn được
nhân tài. Còn một lẽ nữa là: sự thắng bại trong các cuộc đấu có quan hệ rất
lớn đến thể diện phe mình tất nhiên thầy truyền thụ cho trò lúc nào cũng
phải gắng sức hết lòng, trò luyện tập chẳng kể gì ngày hay đêm nữa. Mỗi
thế hệ lại sáng chế hay cải thiện thêm phép đánh.
Các tân khách ngồi ở hành lang phía Tây, những tay nổi tiếng trong võ lâm
mà hai phe mời đến chứng kiến để làm trọng tài có tám vị đều là những
nhân vật tiếng tăm lừng lẫy trong võ lâm ở Vân Nam, nếu không phải là
những tay võ nghệ siêu quần thì cũng là những bậc đạo cao, đức trọng cả.
Chỉ mình chàng thiếu niên mặc áo trắng, ngồi ghế sau chót là hạng không
có tên tuổi gì. Mà cũng chỉ mình chàng dám bật lên tiếng cười chế nhạo lúc
gã họ Cung giả vờ trượt chân trong cuộc đấu với gã họ Chử.
Chàng thiếu niên này theo võ sư Mã Ngũ Đức ở phủ Phổ Nhị tỉnh Vân
Nam. Mã Ngũ Đức nguyên là một nhà buôn trà lớn, vốn hiếu khách từ thuở
nhỏ, tính tình theo nếp Mạnh Thờng Quân, bao nhiêu khách giang hồ hoặc
phiêu lưu mãi võ đến đều đợc Mã tiếp đón rất nồng hậu, vì vậy mà được
các phái võ lâm rất kính yêu, còn về võ công thì Mã không có gì đặc sắc.
Lúc Mã Ngũ Đức giới thiệu chàng thiếu niên áo trắng kia họ Đoàn, hoàng
tộc nước Đại Lý, Tả Tử Mục đã chả thèm để ý vì Tả tưởng chàng là đồ đệ
Mã Ngũ Đức thì chính võ công Mã còn chưa vào đâu, huống chi là đồ đệ
Mã nên Tả hà tiện cả đến câu xã giao tầm thường, chỉ chắp tay rồi khinh
khỉnh dẫn vào ghế ngồi. Ngờ đâu anh chàng ngốc nghếch chẳng biết trời đất
gì, thấy đồ đệ Tả Tử Mục giả vờ trượt chân liền phì cười chế nhạo.
Vừa thấy phe Đông phái Vô Lượng Kiếm thắng trận đấu thứ ba, những
trọng tài như Liễn Chi Hư: đại đệ tử phái Điểm Thương, Lăng Tiêu Tử: đạo
nhân chùa Ngọc Chân núi Ai Lao, Già Diệp thiền sư chùa Đại Giác, Mã
Ngũ Đức thi nhau quay vào chúc tụng Tả Tử Mục.
Tả Tử Mục tơi cười nói:
– Năm nay Tân sư muội đa ra bốn tên đồ đệ, kiếm thuật khá lắm nhất là
trận đấu thứ tư, bọn tôi thắng được là may. Chử sư điệt nhỏ tuổi mà đã tới
trình độ đó thì bước tiền đồ chưa biết đâu mà lường. Sau hạn năm năm này
nữa hai phe chúng tôi chắc lại có phen đổi ngôi.
Nói xong cười khà khà một hồi rồi quay sang chàng thiếu niên họ Đoàn nói:
– Vừa nãy liệt đồ đánh dứ đòn “Điệt phác bộ” để thủ thắng, dường như Đoàn
thế huynh chê miếng đó dở quá. Vậy Đoàn thế huynh ra sân chỉ giáo cho y
một vài miếng nên chăng? Người ta thường nói rằng dưới cờ một bậc danh
tướng đâu có quân hèn. Mã Ngũ ca oai danh lừng lẫy khắp Vân Nam, môn
đồ ngời quyết không phải tay vừa.
Mã Ngũ Đức hơi đỏ mặt vội đáp:
– Đoàn huynh đây không phải là đồ đệ ngu huynh đâu. Ngu huynh kiếm
thuật tầm thường dám đâu nhận làm sư phụ ai trước mặt quý vị đây. Tả hiền
đệ chẳng nên buông lời diễu cợt. Nguyên Đoàn huynh qua chơi tệ xá, nhân
nghe tin hai phe trong tôn phái có cuộc đấu kiếm cho là một cơ hội để mở
rộng tầm nhỡn quang, liền theo ngu huynh tới đây mà thôi.
Tả Tử Mục nghĩ thầm: tưởng y là đồ đệ Mã Ngũ Đức thì mình còn nể mặt,
không nỡ tuyệt tình, nếu chỉ là kẻ xã giao thì hà tất mình phải e dè nữa? Kẻ
nào cả gan dám đến cung Kiếm Hồ ngạo mạn mà mình không bôi gio trát
trấu vào mặt, cứ để nó xuống núi tự nhiên thì còn chi là thể diện Tả Tử Mục
này nữa. Nghĩ vậy Tả liền cười nhạt hỏi:
– Xin Đoàn huynh cho biết đại hiệu là gì, môn hạ các cao nhân nào?
Chàng thiếu niên đáp:
– Ngu hạ họ Đoàn tên Dự, vẻn vẹn có thế thôi, chả có đại hiệu chi ráo, mà
cũng chẳng tầm thầy học võ chi hết. Ngu hạ phải cái tật hễ thấy người té
nhào thì bất luận là té thật hay té giả vờ cũng phải phì cười chứ không nín
được.
Tả Tử Mục thấy chàng ăn nói vô lễ, không còn ra thể thống gì nữa, bất giác
tức giận hỏi:
– Làm sao mà phải phì cười?
Đoàn Dự mở quạt giấy ra phe phẩy, lững lờ đáp:
– Ngời ta đứng hay ngồi thì có gì mà cười, nằm trên giường cũng chẳng có
chi đáng cười, chứ nằm lăn xuống đất thì phải cười chứ sao?
Tả Tử Mục nghĩ mình đường đường là bậc tôn sư một phái võ có danh
tiếng, mà một thằng bé cha ráo máu đầu dám ăn nói mỗi lúc một thêm hỗn
xược với mình thì tức khí đa lên tận cổ, nhưng phải cố giữ vẻ trầm tĩnh,
điềm nhiên, không tiện nổi hung quay sang hỏi Mã Ngũ Đức:
– Mã Ngũ ca! Đoàn huynh phải chăng là bạn thân với ngũ ca?
Mã Ngũ Đức một tay lịch duyệt giang hồ, nghe Tả Tử Mục hỏi vậy biết
ngay là có ý trừng trị Đoàn Dự cho bõ ghét. Thực tình ra thì Mã cùng Đoàn
Dự chỉ là chố sơ giao thôi, nhưng Mã vốn tính vui vẻ, dễ dãi, thấy Đoàn Dự
xin theo đi không nỡ chối từ, bằng lòng ngay. Bây giờ trót xảy ra chuyện lôi
thôi, Tả Tử Mục lại là tay đáo để, tưởng chẳng nên để Đoàn Dự bị vố đau,
liền chậm rãi đáp rằng:
– Đoàn huynh với ta tuy không phải là chỗ thâm giao, ta cho chàng đi theo
để có bạn đồng hành mà thôi. Nhưng ta xem thì chẳng qua chàng vì vô ý mà
bật cười, chứ thật tâm không phải có ý chế nhạo Cung sư điệt. Thôi, hiền đệ
bỏ qua việc đó đi! Ngu huynh đói lắm rồi! Hiền đệ có gì cho ăn uống thì
sắp ra, để chúng ta được mừng hiền đệ mấy chén. Hôm nay là ngày vui
mừng, hiền đệ chấp nhặt với anh chàng trẻ người non dạ đó làm chi?
Tả Tử Mục nói:
– Đoàn huynh không phải là chỗ thâm giao với Mã Ngũ ca, vậy tiểu đệ
không còn điều gì thắc mắc là sẽ đắc tội với ngũ ca nữa. Nào Nhân Kiệt
đâu? Vừa nãy có người chê con đó, con ra thỉnh giáo đi!
Cung Nhân Kiệt, gã đứng tuổi đấu kiếm lúc nãy, thấy sư phụ ra lệnh liền
với lấy thanh trường kiếm ra sân diễn võ đứng xoay chuôi kiếm lại, chắp tay
vào nói với Đoàn Dự:
– Xin mời Đoàn quý hữu ra đây!
Đoàn Dự ngây ngô hỏi lại:
– Ngươi luyện kiếm phải không! Tốt lắm! Múa may đi ta ngồi đây coi được
mà!
Chàng ngồi nghiễm nhiên nói vọng ra, chứ không thèm đứng dậy, Cung
Nhân Kiệt đỏ mặt tía tai, tức giận dằn giọng:
– Mi, mi… nói sao?
Vẫn một giọng khôi hài Đoàn Dự đáp:
– Ta thấy mi cầm kiếm ra sân diễn võ, vung qua vung lại ta biết mi luyện
võ, còn chờ gì nữa? Không múa đi cho chúng ta coi?
Cung Nhân Kiệt quát lớn:
– Thằng nhãi con kia! Sư phụ ta bảo mi ra đây cùng ta tỷ thí, mi nghe rõ
chưa?
Tay vẫn phe phẩy cây quạt giấy, Đoàn Dự lắc đầu thong thả đáp:
– Sư phụ mi hả? Sư phụ mi thì mặc sư phụ mi. Sư phụ mi không phải là sư
phụ ta. Sư phụ mi sai mi thì được. Sư phụ mi bảo mi đấu kiếm thì mi đã đấu
lúc nãy rồi còn gì nữa? Chứ sư phụ bảo ta đấu với mi: một là ta không biết
đánh kiếm, hai là ta sợ thua, ba là ta sợ đau, bốn nữa là ta sợ chết nên ta
không đấu. Ta đã bảo không đấu là không đấu nghe cha?
Mọi người nghe Đoàn Dự cho ra một tràng “sư phụ mi, sư phụ ta” với một
giọng nửa ra hách dịch, nửa ra ỡm ờ thì không sao nhịn cười được. Đám
môn đồ của “Phản quang tróc ảnh” Song Thanh đạo cô vớ được cơ hội cười
một trận thỏa thích, nhất là các cô nữ đệ tử cứ rũ ra mà cười ngặt nghẽo
khiến cho bầu không khí trong nhà luyện võ sảnh mất hẳn vẻ trang nghiêm.
Cung Nhân Kiệt điên tiết lên, hằm hằm chạy đến trước mặt Đoàn Dự, chĩa
kiếm thẳng vào bụng quát:
– Có thật mi không biết kiếm pháp hay là mi giả vờ?
Đoàn Dự nhìn mũi kiếm chỉ còn cách bụng mình vài tấc, giá chỉ đa nhẹ
một phát là đâm thủng tim gan vậy mà nét mặt tuấn tú vẫn thản nhiên như
không, chẳng chút chi lộ vẻ sợ sệt, ung dung đáp:
– Ta vừa giả vờ, vừa không biết thật.
Nhân Kiệt hùng hổ dằn từng tiếng:
– Này này ta bảo! Mi đã tới cung Kiếm Hồ, núi Vô Lượng thì đừng hòng
khoác lác rồi yên lành mà trở về! Mi là môn hạ ai? Kẻ nào đã sai mi đến
đây ăn nói càn rỡ? Phải nói cho thật, không thì đừng trách mũi kiếm của lão
gia là quá vô tình!
Đoàn Dự ngáp dài vươn vai, uể oải nói:
– Nào cung Kiếm Hồ, nào Vô Lượng kiếm nổi tiếng hào kiệt trong đám
giang hồ, chẳng lẽ ta không động thủ và ở trước mặt quý vị tiền bối đây mi
đâm chết ta sao?
Cung Nhân Kiệt cáu quá, không thể dằn lòng được nữa, thu kiếm về giơ tay
tát một cái thật mạnh vào má Đoàn Dự. Đoàn Dự hơi nghiêng đầu đi một
chút nhưng không tránh nổi cái tát nổ đom đóm mắt ra, mặt sưng vù lên,
năm vết ngón tay còn in rành rành trên má.
Cảnh tượng này khiến mọi người đều chưng hửng, vì ai nấy đều tưởng Đoàn
Dự tất có bản lãnh ghê gớm nên thần sắc lúc nào cũng thản nhiên, coi đối
phơng bằng nửa con mắt. Ngờ đâu Cung Nhân Kiệt giơ tay ra tát mà chàng
không tránh kịp, thì ra chàng chẳng biết tý võ nghệ nào cả. Lại còn một
điều làm cho ai nấy phải ngạc nhiên hơn nữa là: xa nay chỉ thấy những tay
võ nghệ siêu quần giả vờ ngớ ngẩn để trêu cợt đối phương, chứ cha từng
thấy ai không biết võ nghệ mà dám cả gan ngạo mạn bao giờ. Chính Cung
Nhân Kiệt cũng không khỏi đứng ngây ngời ra một lúc rồi túm lấy ngực
Đoàn Dự lôi đứng dậy quát mắng:
– Ta tưởng mi là người có bản lãnh, té ra chỉ là cái bị thịt.
Đoạn xô Đoàn Dự lăn kềnh xuống đất. Đoàn Dự xoay mình thế nào lại va
đầu vào chân bàn đánh thình một cái, mặt mũi sưng vù cả lên và tím bầm
lại, trông thật đáng thương. Mã Ngũ Đức trong lòng không nỡ, chạy đến
nâng dậy nói:
– Đoàn lão đệ đã không biết võ thì đến đây đùa rỡn làm chi cho khổ thân?
Tội nghiệp quá!
Đoàn Dự giơ tay lên sờ đầu, sờ trán vừa cười vừa nói bâng quơ:
– Mình cứ tưởng nơi đây vui vẻ náo nhiệt đến xem chơi, té ra kiếm pháp
phái Vô Lượng kiếm chả có gì đáng xem hết. Cả một lũ thầy trò chúng đều
là phường khí cục nhỏ nhen, chẳng ra trò trống gì. Thôi đi về vậy!
Một tên đồ đệ nhỏ tuổi nhảy ra đứng chắn lại nói:
– Mi đã chẳng biết tí gì về võ công, giá cứ cụp đuôi mà đi thẳng thì việc gì
sao dám bảo kiếm pháp bọn ta tầm thường? Muốn thoát khỏi chốn này
không theo một trong hai điều kiện này không xong: một là cùng ta tỷ thí
để nếm mùi kiếm pháp tầm thường của phái Vô Lượng; hai là đến trước mặt
sư phụ dập đầu lạy tám lạy và hô to ba tiếng: “Thối lắm!”.
Đoàn Dự đáp:
– Bảo thầy trò mi thối thì ai mà ngửi được?
Gã đồ đệ trẻ tuổi nổi xung, giơ quyền ra toan thoi một quả đấm thôi sơn,
nào ngờ quả đấm mới ra nửa chừng bỗng một vật từ trên không rớt xuống,
quấn lấy cổ tay gã. Gã cảm thấy lành lạnh, mềm nhũn lại ngọ nguậy thì giật
mình vội rụt tay lại nhìn kỹ lại xem thì ra là một con rắn đỏ vằn xanh, trông
mà phát khiếp. Gã hết sức vẫy tay cho nó rơi ra, nhng nó bám rất chặt,
không làm thế nào cho nó chịu buông ra. Chợt lại nghe tiếng Cung Nhân
Kiệt la thất thanh:
– Trời ơi! Rắn! Rắn!
Mặt tái xanh, Nhân Kiệt thò tay vào trong cổ áo, sờ soạng sau lưng nhưng
không nắm được, sợ quá hai chân nhảy loạn lên rồi vội vàng cởi áo ra.
Hai vụ xảy ra cùng lúc một cách đột ngột, mọi người còn đang kinh ngạc
chợt nghe trên đầu có tiếng cười hích hích liền ngẩng lên nhìn, thì thấy một
cô gái ngồi vắt vẻo trên xà nhà, hai tay cầm hai nắm… rắn. Cô gái này tuổi
chừng 16, 17 toàn thân mặc y phục màu xanh, nét mặt tơi cười xinh như
hoa. Cả hai tay cô có đến hơn chục con rắn nhỏ bé, con xanh, con sặc sỡ,
xem ra toàn là rắn độc cả. Cô bé cầm rắn như thể cầm đồ chơi, không chút
chi sợ hãi. Có mấy con nhoai ra bò cả lên mặt, lên mũi cô ra chiều âu yếm
thân mật…
Mọi người đang mải nhìn cô bé, bỗng nghe Cung Nhân Kiệt cùng sư đệ vì
quá sợ la hét om sòm, lại quay xuống nhìn hai gã. Đoàn Dự lúc đó cứ ngây
ngời ra mà nhìn cô bé. Cô ngồi trên xà nhà, bỏ thõng hai chân xuống, đu
qua, đu lại ra vẻ ung dung lắm. Đoàn Dự trong lòng tự nhiên cảm thấy trìu
mến, lên tiếng hỏi:
– Cô nương! Phải chăng cô đã cứu tôi?
Cô gái hỏi lại:
– Mấy đứa độc ác nó đánh cậu, sao cậu không trả đòn chúng?
Đoàn Dự đáp:
– Tôi không biết đánh trả.
Bất thình lình nghe một tiếng phập, Đoàn Dự cất đầu lên nhìn lại: Tả Tử
Mục tay cầm thanh trường kiếm hãy còn chút vết máu, dưới đất con rắn đỏ
đứt làm hai khúc, thì ra nó đã bị Tả chém chết. Còn Cung Nhân Kiệt, mình
trần trùng trục ngồi dãy giụa, một con rắn xanh đang bò trên lưng rất nhanh,
Nhân Kiệt vồ mấy lần đều sểnh, không sao bắt đợc.
Tả Tử Mục quát:
– Nhân Kiệt ngồi im! Không được động đậy!
Nhân Kiệt trố mắt ra nhìn: ánh kiếm lóe sáng, con rắn xanh cũng bị chặt
làm đôi. Tả Tử Mục chém nhanh như điện, mọi người chưa ai kịp trông rõ
mà xác rắn đã lăn dưới đất. Kỳ hơn nữa là lưng Nhân Kiệt không bị sây sát
mảy may, nhát chém chỉ vừa vặn hết mình con rắn cho đứt đôi, thế mới
tuyệt diệu! Mọi người vỗ tay reo hò nức nở khen tài Tả Tử Mục.
Đoàn Dự đằng hắng một tiếng rồi nói:
– Chém chết con rắn thì có chi là lạ mà làm nhộn lên thế?
Cô gái trên xà nhà quát to:
– Ô hay! Lão già râu rậm kia! Sao ngươi dám chém chết hai con rắn của ta?
Ta không nể mặt ngươi nữa đâu!
Tả Tử Mục giận hỏi:
– Mi là con cái nhà ai? đến đây làm gì?
Hỏi vậy thì hỏi nhưng trong lòng không khỏi băn khoăn nghĩ thầm: con bé
này ngồi trên xà nhà từ lúc nào mà bao nhiêu tay bản lãnh tuyệt luân không
ai hay biết cả mới lạ chứ? ừ thì bảo rằng đầu óc mọi người đang mải chăm
chú vào chuyện khác nhưng không thể để trên đầu có người nấp mà không
hay biết được. Chuyện này đồn đại ra ngoài thì tiếng tăm phái Vô Lượng
kiếm bị sứt mẻ rất nhiều.
Cô gái vẫn bỏ thõng hai chân xuống, đa qua, đa lại như để phô đôi hài
màu lục thêu những đoá hoa cúc nhỏ, trên mũi hài đính một trái cầu con
bằng nhung đỏ, rõ ra một đứa nhỏ ngây thơ.
Thấy cô bé không đáp, Tả Tử Mục lại nói:
– Nhảy xuống đây mau!
Đoàn Dự vội xen vào:
– ấy không được đâu! Sao lại ngu thế! Cao như vậy mà bảo nhảy xuống để
té chết người ta à?
Chàng vừa dứt lời, không ai nhịn đợc đều rũ ra mà cười. Mấy cô nữ đồ đệ
phe Tây nghĩ thầm: cậu này trông có vẻ là một trang tuấn kiệt, sao lại ngớ
ngẩn đến thế được. Cô gái kia đến ngồi trên xà nhà, thần không hay, quỷ
không biết thì võ công đã đến mức tuyệt cao rồi, mà cậu ta lại bảo bắc
thang cho cô xuống khiến ai nấy phải cười vỡ bụng.
Trên xà nhà cô gái nói chõ xuống:
– Ngơi có đền ta hai con rắn, ta mới xuống đàm thoại với ngươi!
Tả Tử Mục nói:
– Hai con rắn độc có chi đáng kể? Bắt đâu chả được?
Tả Tử Mục nói có vẻ đỡ gay gắt là trong thâm tâm lão nghĩ lung lắm: “Con
nhỏ này dù chơi đùa được với rắn độc không sao, nhưng nó chỉ là đứa trẻ nít
chả có gì đáng ngại. Chỉ e đằng sau nó còn có sư phụ, sư huynh hẳn là
những tay ghê gớm”.
Cô gái nghe Tả Tử Mục nói vậy liền bảo:
– Ngơi tưởng dễ lắm ? Thử đi bắt về cho ta xem nào?
Tả Tử Mục lại giục:
– Hãy xuống đây đã!
Cô gái nói:
– Ta không xuống đã sao?
Tả Tử Mục nói:
– Ngơi không chịu xuống, tá sẽ kéo xuống.
Cô gái cười khanh khách nói:
– Ngươi thử làm đi! Nếu kéo đợc ta ta cho là giỏi.
Tả Tử Mục nghĩ mình đường đường là một vị tôn sư đang ở trước mặt bao
nhiêu tay anh chị trong phái võ lâm cùng các môn đồ chả lẽ lại đi giằng co
với đứa trẻ nít bèn quay lại bảo Song Thanh đạo cô:
– Song Thanh sư muội! Sư muội cho một tên nữ đệ tử lên kéo cổ nó xuống
đây!
Song Thanh đạo cô đáp:
– Môn đồ phe Tây chả có đứa nào giỏi khinh công cả.
Tả Tử Mục sầm nét mặt lại, toan nói nữa thì cô gái lại lên tiếng:
– Ngươi không đền ta hai con rắn thì đây ta cho ngươi coi cái này hay lắm.
Nàng thò tay vào bọc lấy ra một vật tựa như cái đũa bằng vàng lấp lánh,
nhằm Cung Nhân Kiệt ném xuống. Nhân Kiệt tưởng là một thứ ám khí
không dám giơ tay ra đón lấy, nhích chân trái sang một bên để tránh, bất
ngờ cái đũa vàng đó lại là một sinh vật, ở trên không nghoe ngẩy rồi chui
tuột vào lưng mình. Bấy giờ hắn mới biết là một con rắn nhỏ sắc vàng. Con
này linh hoạt vô cùng, chạy từ sau lưng ra trước ngực, lên đầu rồi chạy tứ
tung trong khắp mọi nơi trong ngời gã.
Đoàn Dự thấy vậy cười nói:
– Hay lắm! Hay lắm! Con rắn chơi trò này thú tuyệt!
Kim xà bò mỗi lúc một nhanh thêm, nhanh đễn nỗi toàn thân Nhân Kiệt chỉ
thấy một mầu vang rực. Bấy giờ Lăng Tiêu Tử đạo nhân chùa Ngọc Chân,
núi Ai Lao như chợt nhớ ra điều gì, bất giác la thất thanh:
– Phải… phải chăng đây… đây là con Kim Linh, một trong Vũ huyệt tứ
linh?
Mã Ngũ Đức hỏi:
– Xin hỏi đạo huynh: Vũ huyệt tứ linh là cái chi vậy?
Lăng Tiêu Tử biến sắc nói:
– Đây không tiện nói, xin để lúc khác.
Đoạn ngửng lên xà nhà nói với cô gái:
– Tha cô nương! Lăng Tiêu Tử xin có lời chào!
Nói xong cúi đàu thi lễ. Cô gái tuy tay cầm rắn mà vẫn ung dung thò vào
bọc lấy hạt da ra bỏ vào miệng nhìn Lăng Tiêu Tử mỉm cười không đáp.
Lăng Tiêu Tử quay lại nói với Tả Tử Mục:
– Xin kính mừng Tả huynh đã thắng cuộc so kiếm. Thôi bần đạo xin cáo từ
vì có chút việc gấp phải đi ngay.
Rồi không chờ Tả Tử Mục trả lời, băng băng ra khỏi sảnh đường. Khi đi
ngang qua bên cạnh Cung Nhân Kiệt, Lăng Tiêu Tử tránh xa ra, nét mặt đầy
vẻ sợ sệt.
Đang lúc Tả Tử Mục nhìn con Kim xà, không hiểu là vật gì, Mã Ngũ Đức
lại càng kinh ngạc hơn, nghĩ thầm: “Kiếm pháp phái chùa Ngọc Chân, núi
Ai Lao kể vào bậc nhất trong các phái võ lâm tỉnh Vân Nam, Lăng Tiêu Tử
đạo nhân xưa nay vẫn có ý tự phụ khinh người ra mặt, sao nay thấy con kim
xà mà phải khủng khiếp? Nhất là đối với cô gái kia lại tỏ ra có thái độ khúm
núm kính cẩn đến thế là nghĩa làm sao?”.
Chợt nghe trong miệng cô gái thổi “phù phù” mấy tiếng, con kim xà bò lên
má Cung Nhân Kiệt rồi lướt qua mắt, qua mũi. Nhân Kiệt thò tay ra bắt,
nhưng rắn thần lanh lẹ vô cùng Nhân Kiệt không tài nào mó được vào mình
nó thì còn bắt làm sao được.
Tả Tử Mục lại gần, thanh trường kiếm vụt phóng ra, con kim xà đang bò
trên mắt trái Nhân Kiệt thấy mũi kiếm phóng tới liền co lại tránh khỏi. Mũi
kiếm cũng chỉ tới ngoài da mí mắt mà thôi, nên không hề hấn gì. Tuy đâm
không trúng kim xà nhưng người xem cũng phải thán phục Tả có biệt tài
phóng kiếm, mũi kiếm chỉ vào sâu phân nửa là Nhân Kiệt phải lòi con
ngươi. Song Thanh đạo cô tự nghĩ “Kiếm thuật Tả huynh thật là quỷ khốc,
thần sầu. Ta thực còn kém xa. Hãy nói một miếng “Kim Châm độ kiếp” vừa
rồi, ta đâu có được tuyệt diệu như thế?”
“Chát chát chát chát”. Tả Tử Mục lại chém luôn bốn nhát liền mà dường
như con kim xà có mắt cả ở trên lưng nên nó tránh được hết, mỗi nhát chỉ
khe chừng sợi tóc.
Cô gái gọi bảo:
– Lão già râu rậm kia! Kiếm pháp của ngươi đã khá đấy!
Nàng lại chím môi thổi “phù phù”. Con kim xà lập tức chạy xuống dưới ẩn,
không nhìn thấy đâu nữa. Tả Tử Mục còn đang ngơ ngác, Cung Nhân Kiệt
đập hai tay, hai chân loạn cả lên thì ra con kim xà đã chui vào trong quần
gã.
Đoàn Dự vừa vỗ tay vừa cười ha hả nói:
– Bây giờ mới thật là mở rộng tầm con mắt. Hay tuyệt là hay!
Cung Nhân Kiệt vội cởi bỏ quần áo ngoài ra để hở cặp đùi mập mạp đầy
lông lá. Cô gái vẫn vẻ mặt tự nhiên, chẳng e dè gì cả lên tiếng gọi to:
– Tên ác ôn kia! Tính mi thích áp bức người, sỉ nhục người, bây giờ ta làm
cho mi trần như nhộng, thử xem mi có biết xấu hổ không?
Nàng lại thổi phù phù hai cái. Con kim xà dường như nghe hiểu lệnh truyền:
một tia ánh vàng loé ra, nó chui ngay vào tận trong quần đùi Cung Nhân
Kiệt. Trong nhà luyện võ sảnh có vô số thiếu nữ, Nhân Kiệt dù sợ chết cũng
đành chịu chứ không sao cởi nốt chiếc quần đùi ra. Gã la lớn lên một tiếng
rồi lảo đảo chạy ra ngoài…
Cung Nhân Kiệt vừa chạy đến cửa sảnh đờng, bất thình lình ngoài cửa
cũng có người bước vào. Cả hai bên cùng vội quá thành ra đụng mạnh đánh
“binh” một cái, Cung Nhân Kiệt bị đẩy ngược trở lại, còn người ngoài cửa
bước vào đang ngẩng mặt lên trời bị hất ngã ngửa.
Tả Tử Mục nhìn thấy kêu lên:
– Dung sư đệ
Cung Nhân Kiệt quên cả con kim xà trong mình, vội chạy lại nâng sư thúc
dậy. Đang nâng dở dang thì con kim xà khuấy động trong mình, Cung Nhân
Kiệt la lên một tiếng, thò tay vào mò rắn, đành buông sư thúc ra cho té
xuống. Trên xà nhà cô gái cời khanh khách nói:
– Ta chỉnh mi thế là đủ rồi!
Trong miệng cô lại xuỳ một tiếng dài, con kim xà ở trong quần đùi Cung
Nhân Kiệt liền chui ra, rồi theo bờ tường chạy vút lên xà nhà, nhanh như
chớp chuồn vào lòng cô gái.
Lần này Cung Nhân Kiệt nâng được sư thúc lên, cả kinh líu lưỡi gọi:
– Dung… Dung s thúc! Sư… sư thúc làm sao vậy?
Tả Tử Mục chạy lại xem thì sư đệ mình hai mắt đã trợn ngược lên, mặt đầy
vẻ căm phẫn và tắt thở mất rồi. Tả Tử Mục cả kinh vội làm mọi cách hô hấp
nhân tạo, nhưng không sao cứu cho hồi tỉnh lại nữa…
Nguyên người này tên gọi Dung Nguyên Quy cùng học võ với Tả Tử Mục.
Võ công tuy chưa bằng Tả nhưng so với Cung Nhân Kiệt thì còn hơn nhiều.
Thế mà làm sao không tránh được cái đụng vừa rồi đã là chuyện lạ, nhất là
đụng một cái mà chết thì lại càng vô lý hơn nữa. Tả Tử Mục biết đích là
Nguyên Quy đã bị trọng thơng từ trước lúc bước vào, vội tra xét vết
thương. Vừa cởi áo ra đã nhìn thấy trên bụng Nguyên Quy có 12 chữ: “Giờ
Tý đêm nay, đảng Thần Nông sẽ diệt phái Vô Lượng”.
12 chữ nét thâm quầng ăn sâu lẫn vào trong da, không phải do bút mực viết
ra, cũng không phải do mũi nhọn sắc vạch vào. Tả Tử Mục chú ý nhìn một
lát, bất giác nổi giận đùng đùng, tay cầm thanh trường kiếm đập xuống đất,
nghiến răng quát to:
– Để rồi xem đảng Thần Nông diệt phái Vô Lượng hay là phái Vô Lượng sẽ
diệt đảng Thần Nông? Thù này không trả sao phải giống người?
Nguyên 12 chữ kia viết bằng một thứ độc dược ghê gớm, thuốc độc ngấm
xuống làm cho sắc da thâm lại. Tả Tử Mục xem hết các chỗ trong mình
Dung Nguyên Quy, không thấy có chỗ thương tích nào khác nữa.
Xét nghiệm xong Tả Tử Mục gọi:
– Nhân Hào, Nhân Kiệt đâu? Mau ra ngoài xem có thấy gì không?
Cam Nhân Hoà và Cung Nhân Kiệt là hai đại đồ đệ Tả Tử Mục vội chống
trường kiếm vâng lời sư phụ chạy ra.
Từ lúc đó nhà võ sảnh nhốn nháo cả lên, không ai ngó gì đến Đoàn Dự cùng
cô gái trên xà nhà nữa, mải xúm quanh xác Dung Nguyên Quy bàn bạc. Mã
Ngũ Đức hỏi:
– Đảng Thần Nông ít lâu nay mỗi ngày một làm dữ. Tả Tử Mục cho ta hay
vì saolại kết mối thâm thù với tôn phái?
Tả Tử Mục thấy sư đệ bị thảm tử, lòng đau nh cắt, nghẹn ngào đáp:
– Đầu đuôi câu chuyện vì hái thuốc mà ra. Mùa thu năm ngoái bốn tên
hương chủ đảng Thần Nông đến cung Kiếm Hồ xin vào yết kiến và yêu cầu
tôi cho chúng ra mé sau núi hái thuốc. Kể ra thì việc hái thuốc cũng chẳng
có gì quan trọng, đảng Thần Nông lấy nghề hái thuốc làm sinh kế và trước
nay vẫn không có thù hiềm gì với phái Vô Lượng cả. Nhưng chắc Mã Ngũ
ca cũng đã biết, chúng tôi đâu dám tự tiện đê người ngoài ra vào mé sau núi
được, đừng nói đảng Thần Nông là chõ sơ giao ngay đến các bạn hữu thân
thiết cũng chưa để ai ra du ngoạn mé sau núi cả vì đó là quy luật của tổ tiên
truyền lại nên bọn tôi không dám vi phạm. Ngoài ra chẳng có chuyện gì gây
thù oán cả.
Đang lúc nói chuyện, một người từ ngoài cửa bước vào. Ngỡ ai té ra là Lăng
Tiêu Tử, ông bỏ ra đi từ lúc thấy con kim xà, giờ lại trở lại. Lăng Tiêu Tử
vẻ mặt bơ phờ, trên má còn một vết máu dài, chiếc mũ đạo sĩ rơi đâu mất,
đầu tóc bù xù, tỏ ra vừa trải qua một cuộc giao đấu kịch liệt và bị thảm bại.
Tả Tử Mục giật mình hỏi:
– Lăng Tiêu đạo… đạo huynh. Đạo huynh làm… làm sao thế?
Lăng Tiêu Tử hầm hầm đáp:
– ở đời chưa từng thấy bọn nào dã man đến thế bao giờ. Chúng bảo không
cho xuống núi… Thế rồi… một mình không địch lại với bốn năm đứa.
Tả Tử Mục hỏi:
– Phải chăng đạo huynh vừa đánh nhau với đảng Thần Nông?
Tiêu Tử nói:
– Đúng rồi bọn nó đã trấn giữ hết các ngả đường và bảo: từ giờ cho đến sáng
rõ, bất luận là ai cũng không cho xuống.
Cô gái ngồi trên xà nhà cắn hạt da,vẫn lắc lư đôi chân bỏ thõng bỗng cầm
một hạt ném trúng giữa trán Đoàn Dự nói:
– Này cậu! Có ăn hạt dưa không? Lên đây chơi nhé!
Đoàn Dự đáp:
– Không có thang thì làm sao tôi lên đợc?
Cô gái đáp:
– Dễ lắm mà
Nói rồi cởi chiếc dây lưng màu lục, thả một đầu xuống bảo:
– Cậu nắm lấy đầu dây này để tôi lôi lên!
Đoàn Dự nói:
– Tôi nặng lắm, cô nương lôi không nổi đâu!
Cô gái cời nói:
– Thì hãy thử xem sao, không sợ té chết đâu!
Đoàn Dự nắm lấy đầu dây lưng, bất ngờ thấy lạnh buốt rồi sợi dây lại ngo
ngoe, nhìn kỹ xem thì đâu có phải dây lưng mà là con rắn sống, mình dài và
nhỏ, từ trên xuống dưới đều bằng nhau, mới trông sơ qua thì không ai biết
là rắn. Cô gái cười khanh khách nói:
– Đây là con Thanh Linh, nó bền hơn cả dây sắt đấy, kiếm sắt chặt cũng
không đứt, cậu nắm lấy mau!
Đoàn Dự đánh bạo đưa tay ra nắm lấy thì thấy ram ráp chứ không trơn tuột
như rắn thờng. Cô gái vừa dặn: “Nắm chắc nghe!” vừa nhẹ nhàng kéo Đoàn
Dự bổng lên khỏi mặt đất, rồi cả hai tay rút luôn mấy cái, xách Đoàn Dự
lên trên chiếc xà ngang. Đoàn Dự trông cô gái thu con Thanh Linh lại quấn
vào thắt lưng ba vòng, rất lấy làm kính phục những vẫn sợ hãi hỏi lại:
– Con rắn này không cắn người hay sao?
Cô gái đáp:
– Ta có bảo cắn nó mới cắn, còn tự nhiên thì nó không cắn ai bao giờ. Cậu
đừng sợ gì cả.
Đoàn Dự nói:
– Cô nương nuôi nó, nó quen một mình cô mà thôi.
Cô gái bảo:
– Không phải! Không quen cũng không sao, cậu sờ vào người nó mà xem!
Nói rồi cầm một con rắn trong tay trao cho Đoàn Dự. Đoàn Dự xua tay đáp:
– Không, không, tôi chịu thôi!
Vừa nói vừa lùi lại sau, nhưng vì ngồi không vững loạng choạng té nhào
xuống. Cô gái nắm ngay được sau gáy kéo lên để ngồi tựa bên mình rồi cười
nói:
– Thật cậu chẳng biết chút võ công nào cả, thế thì lạ nhỉ!
Đoàn Dự đáp:
– Có chi đáng lạ?
Cô gái nói:
– Không biết võ mà dám một mình đến đây, tất bị ác nhân bắt nạt. Cậu đến
có chuyện chi?
Đoàn Dự thấy nét mặt cô có vẻ thân mật, nên tuy mới gặp lần đầu cậu đã
coi như người trong nhà, muốn đem chuyện mình đến đây thuật lại, bỗng
nghe có tiếng chân người từ ngoài cửa bớc vào. Đoàn Dự nhìn ra xem ai
thì là hai gã Cam Nhân Hào và Cung Nhân Kiệt.

Hết Chương 1

Hết Hồi 1

thien-long-bat-bo

Chương 2

THIÊN LONG BÁT BỘ – HỒI 2
Phép điểm huyệt “Nhất dương chỉ”


Kim Dung

Lúc ấy Cung Nhân Kiệt đã mặc quần dài nhưng còn để mình trần. Cả hai gã
đều có vẻ hốt hoảng chạy về đến trước mặt Tả Tử Mục, Cam Nhân Hào
bẩm:
– Trình sư phụ đảng Thần Nông đã tụ tập ở trên núi phía trước kia, chúng
trấn giữ lối đi, cấm không cho ta xuống núi nữa. Chúng con thấy đối
phơng nhiều người mà chưa có lệnh sư phụ nên không dám động thủ.
Tả Tử Mục nói:
– Bọn chúng nó bao nhiêu đứa?
Cam Nhân Hào đáp:
– Chừng bảy tám mươi tên.
Tả Tử Mục nói:
– Hừ! Bảy tám mươi đứa mà toan tiêu diệt phái Vô Lượng, đâu có dễ thế?
Vừa dứt lời chợt nghe đánh “vù” một cái, mũi tên từ ngoài cửa bay vào,
Cung Nhân Kiệt giơ tay ra bắt lấy chuôi tên, cầm xem thấy đầu mũi tên
buộc có một phong thư, ngoài bì vẻn vẹn có năm chữ “Lệnh truyền Tả Tử
Mục”. Cung Nhân Kiệt đa thư trình Tả Tử Mục. Tả Tử Mục liếc qua thấy
chữ đề phong bì có vẻ vô lễ, liền bảo Nhân Kiệt:
– Con coi xem hắn nói gì?
Nhân Kiệt vâng lời mở thư ra.
Ngồi trên xà nhà cô gái ghé tai bảo Đoàn Dự:
– Thằng cha đánh cậu lúc nãy chết đến nơi rồi.
Đoàn Dự ngạc nhiên hỏi:
– Tại sao vậy?
Cô gái đáp:
– Vì bao thư đó tẩm thuốc độc
Đoàn Dự lại hỏi:
– Thuốc độc gì mà ghê gớm đến thế?
Chưa dứt lời, bên dưới đã thấy Nhân Kiệt đọc: “Đảng Thần Nông truyền cho
Tả… (vì lẽ kính trọng thầy Cung Nhân Kiệt không dám đọc rõ hai chữ Tả
Mục). Hạn cho các ngươi trong một tiếng đồng hồ đều phải ra khỏi cung
Kiếm Hồ và phải tự chặt hết cánh tay phải đi, nếu trái lệnh sẽ giết hết không
để mống nào sống sót”.
Đại đệ tử phái Điểm Thơng là Liễu Tử Hư cười lạt nói:
– Đảng Thần Nông là hạng nào mà dám nói khoác thế?
Bất thình lình nghe đánh “huỵch” một tiếng. Cung Nhân Kiệt ngã lăn xuống
đất, mặt ngửa lên trời. Cam Nhân Hào đứng bên cạnh rối rít gọi:
– Sư đệ, sư đệ…
Rồi toan cúi xuống luồn tay nâng dậy. Tả Tử Mục vội bước lên, xoè bàn tay
để phía trước bụng Cam Nhân Hào, một luồng hơi nhỏ xíu của sức mạnh
trong lòng bàn tay phóng ra mà đã đẩy gã bắn lùi trở lại ngoài ba bước. Tả
Tử Mục bảo Cam Nhân Hào:
– Con chớ sờ vào người Nhân Kiệt, y bị thuốc độc ngấm vào rồi.
Da thịt Cung Nhân Kiệt nhăn nheo, bùng nhùng, bàn tay cầm phong thư chỉ
trong nháy mắt đã thâm lại. Y giãy mạnh mấy cái rồi chết ngay đứ đừ.
Mới trong một lúc đã xảy ra hai biến cố, phe Đông phái Vô Lượng chết
luôn mất hai tay cự phách, nên ai cũng kinh hãi.
Đoàn Dự hỏi nhỏ cô gái:
– Cô nương cũng là người đảng Thần Nông phải không?
Cô gái đáp:
– Bậy nào! Không phải đâu, sao cậu nói nhăng thế?
Đoàn Dự lại hỏi:
– Thế sao cô biết phong thư đó có tẩm thuốc độc?
Cô gái đáp:
– Tẩm độc như thế là tầm thường lắm, mới nhác trông đã biết ngay. Cách
này chỉ bịt mắt được kẻ ngu dốt mà thôi.
Nàng nói mấy câu đó mọi người trong nhà luyện võ sảnh đều nghe rõ. Tả
Tử Mục nhìn kỹ lại phong thư, chẳng thấy chi khác lạ, sau nghiêng đầu chú
ý xem kỹ quả thấy có ánh lân quang nhấp nhánh, liền ngẩng đầu lên trông
cô gái, chắp tay nói:
– Xin cô nương cho biết tôn tính đại danh.
Cô gái cời đáp:
– Tôn tính đại danh ta đâu có thế nói cho ngươi biết được.
Nghe nàng nói hỗn xược đến thế mà Tả Tử Mục vẫn cố nhẫn nại ôn tồn hỏi
lại:
– Vậy chớ lệnh tôn là ai? Cô nương học võ vị tôn sư nào?
Cô gái cười đáp:
– Ha ha! Ta vừa bảo ngươi rồi cơ mà! Nếu ta nói lệnh tôn ta là ai thì dĩ
nhiên ngươi biết quý tính ta. Khi đã biết quý tính ta là ngươi tra được đại
danh ta. Còn sư phụ ta nào phải ai đâu xa lạ, chính là mẫu thân ta đó. Tên
họ mẫu thân ta lại càng cần giữ kín không cho ngươi biết.
Tả Tử Mục nghĩ thầm trong bụng: Trong các phái võ Vân Nam có đôi vợ
chồng nào vào hàng tiền bối giỏi nghề sử dụng rắn đâu? Lúc thảng thốt lão
nghĩ không ra. Sự thực thì Vân Nam là đất có nhiều khí độc, trong những
nơi núi cao, rừng thẳm, đâu mà chả có rắn độc, người nuôi rắn rất nhiều.
Mã Ngũ Đức hỏi Lăng Tiêu Tử:
– Lăng Tiêu đạo huynh, lúc nãy đạo huynh có nói đến “Vũ huyệt tứ linh” là
cái chi vậy?
Lăng Tiêu Tử đáp:
– Thế thì Ngũ đệ nghe ai đó, chứ ta có nói bao giờ đâu? Ta không biết tý gì
về cái đó cả!
Mã Ngũ Đức là tay lão luyện trong đám giang hồ, lại biết rõ võ công tột bực
của Lăng Tiêu Tử, vậy mà đối với vấn đề “Vũ huyệt tứ linh” Lăng Tiêu phải
sợ đến thế, gặp lúc vô ý buột miệng nói ra, sau biết mình lỡ lời nên tìm cách
chống chế thì biết trong nhất định phải có sự gì vô cùng quan trọng nên Mã
cũng không hỏi lại nữa.
Tả Tử Mục lại nhìn cô gái nói:
– Cô nương không chịu cho biết rõ thì thôi, xin mời cô xuống đây nói
chuyện! Đảng Thần Nông đã không cho ai xuống núi thì cả cô cũng bị giết
lây.
Cô gái cười nói:
– Bọn họ khi nào dám giết ta? Họ chỉ giết hết phái Vô Lượng mà thôi. Lúc
ta đang đi đã phong văn tin này nên ta đến đây xem cuộc giết người náo
nhiệt. Lão già râu rậm kia! Kể ra thì kiếm thuật bọn ngươi cũng không đến
nỗi dở lắm, chỉ vì không biết dùng thuốc độc nên không địch nổi bọn họ mà
thôi.
Mấy lời nàng nói đánh trúng vào nhược điểm của phái Vô Lượng. Giả tỷ cứ
đem võ công ra mà tranh đấu thì hai phe đông và tây phái Vô Lượng, cộng
thêm tám vị đàn anh các phái võ được mời đến làm trọng tài cuộc đấu nội
bộ hiện có mặt tại đó thì bất luận đảng Thần Nông có giỏi đến mức nào
cũng không ăn đứt được, nhng chết ở chỗ không ai hiểu tý gì về cách giải
độc.
Tả Tử Mục vừa rồi nghe cô gái nói: lúc đi đường phong văn được tin này
nên đến coi cuộc giết người náo nhiệt. Giọng lỡi toàn nói về tai hoạ do độc
dợc gây ra và dường nh phái Vô Lượng càng chết nhiều thì nàng càng lấy
làm khoái chí. Tả Tử Mục đằng hắng một tiếng rồi hỏi lại:
– Qua đường cô nương phong văn được tin gì?
Câu hỏi vẫn lên giọng kẻ cả dường như ai nghe cũng phải trả lời một cách
trịnh trọng, song cô gái này trái lại, đáp ngay bằng câu hỏi ỡm ờ:
– Ngươi có ăn hạt dưa không?
Tả Tử Mục mặt đã hơi biến sắc nhng vì bên ngoài còn phải lo đối phó với
bọn cừu địch ghê gớm nên lão không dám nổi khùng cố nén giận đáp cộc
lốc:
– Không thèm!
Đoàn Dự xen vào hỏi:
– Hạt dua cô nương ăn đó là thứ Quế Hoa, Mai Côi hay Tùng Tử?
Cô gái đáp:
– úi chà! Hạt dưa cũng lắm thứ kia ? Vậy mà ta không biết. Hạt dưa này
mẫu thân ta sao bằng mật rắn để ăn cho sáng mắt, cậu thử ăn mà xem.
Nói xong nàng cầm một nắm nhét vào tay Đoàn Dự. Đoàn Dự nghe nói hạt
dưa sao bằng mật rắn, sợ sởn gai ốc. Cô gái tiếp:
– Người cha ăn quen thấy nó đăng đắng nhnưg thật ra rất tốt.
Đoàn Dự chiều ý nàng cầm một hạt bỏ vào miệng. Lúc đầu nhấm quả thấy
có vị cay đắng nhưng sau thấy ngòn ngọt, đầu lưỡi nước bọt thấm vào lại
thêm có mùi thơm, rồi chàng quen mùi ăn mãi, nhả vỏ ra để trên xà nhà.
Còn cô gái ăn tới đâu nhả vỏ tới đó bay phơi phới. Những người ngồi dưới
cau mày, né ra cho khỏi vào đầu.
Tả Tử Mục lại hỏi:
– Thế nào, đi qua đường cô nương nghe đợc tin gì xin cho ta biết cảm ơn
cô nhiều lắm.
Cô gái nói:
– Ta nghe họ bàn đến Ngọc Bích núi Vô Lượng chi chi đó, vậy chứ Ngọc
Bích núi Vô Lượng là cái gì?
Tả Tử Mục giật mình nói:
– Ngọc Bích núi Vô Lượng ? Lạ nhỉ! Hay là trong núi Vô Lượng có thứ
ngọc quý báu gì chăng? Ta chưa từng nghe ai nói tới bao giờ. Này Song
Thanh sư muội, sư muội có nghe ai nói đến vụ đó bao giờ không?
Song Thanh chưa kịp đáp, cô gái đã cướp lời:
– Đạo cô cũng chưa từng nghe thấy ai nói đâu! Ta còn lạ gì cái trò kẻ tung
người hứng của các ngươi nữa? Đã muốn giấu thì cứ nói trắng ra, hà tất phải
quanh co? ở đời được mấy kẻ khéo vờ vịt như ngươi?
Tả Tử Mục có vẻ lúng túng nghĩ thầm: “Con ranh này đáo để thật”, rồi lão
tìm lời giải thích:
– à phải! Ta nghĩ ra rồi, đảng Thần Nông nói đó chắc là phiến đá mặt gương
trên đỉnh Diệu Cao, núi Vô Lượng. Phiến đá này phẳng lỳ, nhẵn như
gương lại trong suốt có thể soi rõ cả dây tơ, sợi tóc. Có người cho đó là
một khối ngọc quý song thực ra chỉ là một phiến đá lớn sắc trắng và trong
suốt mà thôi.
Cô gái nói:
– Thế sao ngươi không nói từ trước có phải hay hơn không? Làm gì đến nỗi
gây nên mối thù với đảng Thần Nông? Chính vì cái đó mà họ muốn tuyệt
diệt cả phái Vô Lượng.
Tả Tử Mục biết rằng nếu mình muốn con nhỏ này tiết lộ những điều y đã
nghe đợc tất mình phải chịu nước lép bèn nhã nhặn bảo:
– Cô nương hãy xuống đây để ta trình bày sự thật cho mà nghe!
Cô gái vẫn đu đi đu lại hai chân nói:
– Trình bày sự thật ? Ta không cần đâu mà! Ta biết bọn ngươi có bao giờ
nói thật, mười phần ta chỉ tin đợc ba, bốn mà thôi. Ngươi nói gì thì nói đi!
Tả Tử Mục nói:
– Năm ngoái đảng Thần Nông có đến xin bọn ta ra phía sau núi hái thuốc, ta
không nghe. Thế rồi bọn chúng đến hái trộm bị sư đệ ta là Dung Nguyên
Quy cùng mấy tên đồ đệ bắt gặp, có buông lời trách móc. Bọn chúng đáp:
nơi đây nào phải “Kim Loan điện” hay “Ngự hoa viên” mà cấm người ngoài
vào? Phái Vô Lượng đã bỏ tiền ra mua trái núi này làm của riêng chăng?
Sau hai bên lời qua tiếng lại sinh ra ẩu đả, Dung sư đệ chẳng nể nang gì giết
mất hai tên trong bọn chúng. Sau hỏi ra thì gã thiếu niên bị giết lại là con
một của Tư Không Huyền, chúa đảng Thần Nông. Từ đó kết mối thâm cừu.
Sau lại xãy ra cuộc giao đấu trên bờ sông Lan Thương, đảng Thần Nông bị
chết thêm vài mạng nữa.
Cô gái nói:
– à ra thế đấy! Nhưng bọn Thần Nông định hái thứ thuốc gì?
Tả Tử Mục đáp:
– Cũng không biết rõ chúng định tìm thuốc gì!
Cô gái nói:
– Hừ! Bọn ngơi không biết rõ ? Họ định hái thứ “Bách dược khắc tinh” Đô
lạp thảo đó. Họ muốn chặt kỳ hết cội rễ thứ Đô Lạp thảo trên núi Vô Lượng
này, không để sót một chồi.
Tả Tử Mục nói:
– Thế ra cô nơng lại biết cặn kẽ hơn cả bọn ta.
Cô gái luồn tay trái quàng vào nách Đoàn Dự nói:
– Chúng ta xuống thôi!
Nói rồi nhảy liền. Đoàn Dự sợ quá, chỉ kêu lên được một tiếng “ối” thì
người chàng đã bật ra quãng không. Cô gái cắp chàng từ từ đặt xuống đất,
tay trái nàng vẫn còn luồn qua nách bên phải. Nàng nói:
– Chúng ta thử ra ngoài xem đảng Thần Nông kéo đến bao nhiêu tên?
Tả Tử Mục liền bước ra nói:
– Hãy thong thả! Tại hạ hỏi cô nương mấy điều mà chưa được cô nương nói
rõ.
Cô gái nói:
– Điều nào nói được thì ta đã bảo ngươi cả rồi còn gì nữa?
Tả Tử Mục nghĩ lại thì những điều cần thiết đến mình nàng đã trả lời rồi.
Chỉ có rằng không thể để nàng muốn ở là ở, muốn đi là đi, thì mình không
còn thể diện gì với bạn hữu và đồ đệ nữa. Lúc đó tuy bên ngoài bị đảng thù
nghịch lớn áp bức cả phái Vô Lượng không muốn chuốc thêm mối thù này
nữa nhưng riêng mình Tả Tử Mục vốn có tính tự cao, tự đại khi nào cam
tâm để một đứa nhỏ miệng còn hơi sữa đến trêu cợt mình. Lão nhảy vút ra
chắn đường cô gái cùng Đoàn Dự, rồi nói:
– Cô nương! Bọn ác ôn đảng Thần Nông ở cả ngoài kia, cô nơng tự tiện đi
ra, nếu xảy chuyện gì thì phái Vô Lượng bọn ta đây ân hận lắm đó.
Cô gái mỉm cười đáp:
– Một là không phải khách các ngươi mời đến, hai là ngươi chưa biết tôn
tính, đại danh ta thì dù ta có bị đảng Thần Nông sát hại, ba má ta đâu có
đến trách ngơi về tội không hộ vệ chu đáo cho ta? Thôi ngươi cứ để mặc ta
đi!
Nói xong nắm tay Đoàn Dự kéo đi. Bỗng thấy tay phải Tả Tử Mục cử động,
thì ra lão với lấy thanh trường kiếm cầm lăm lăm trong tay nói to:
– Cô nương phải dừng bước!
Cô gái nói:
– Ngươi muốn giở võ ra với ta chắc?
Tả Tử Mục điềm tĩnh nói:
– Tại hạ muốn hiểu cô nương ở môn phái nào để sau này có gặp lệnh tôn
mới biết đường đối xử.
Lão cầm trường kiếm chĩa ra trước mặt nàng để ngáng lối đi. Cô gái bảo
Đoàn Dự:
– Lão già râu rậm này định giết ta đây, bây giờ cậu tính sao?
Đoàn Dự phe phẩy cây quạt đáp:
– Tuỳ cô nương làm thế nào thì làm!
Cô gái lại hỏi:
– Thế ngộ lão chém ta một nhát chết tươi thì sao?
Đoàn Dự đáp:
– Chúng ta phúc cùng hưởng hoạ cùng đau, có hạt dưa cũng chia nhau ăn,
gặp đao kiếm cùng chết một chỗ chứ sao?
Cô gái hớn hở nói:
– Cậu nói mấy câu đó thật hay, rất xứng đáng là người bạn của ta, có thế
mới không uổng một phen gặp gỡ. Chúng ta cứ đi thôi!
Đoạn rảo bước ra cửa, dường như không trông thấy lỡi kiếm sáng loáng
của Tả Tử Mục chĩa ra trước mặt.
Tả Tử Mục liền cầm kiếm nhằm vai bên trái cô gái chém xuống. Sự thực thì
Tả Tử Mục cũng không có ý giết nàng, mà chỉ muốn giữ không cho nàng
cùng Đoàn Dự đi mà thôi. Cô gái ngoắt tay về phía sau lưng, rồi thoáng
thấy bóng xanh lè của một sợi dây dài thườn thượt quăng ra nhằm cổ tay Tả
Tử Mục lướt tới. Tả Tử Mục thất kinh vội rụt tay về, chẳng ngờ sợi dây đó
lại nguây nguẩy đến nhanh như gió. Tả Tử Mục cảm thấy đau tay thì ra đã
bị con Thanh Linh đớp một miếng. “Cạch” một tiếng thanh trường kiếm ở
tay Tả Tử Mục rơi xuống đất, con Thanh Linh bò ngay xuống, nhanh như
chớp quấn chặt lấy thanh kiếm mấy vòng, rồi “ráu ráu ráu” thanh trường
kiếm đã bị con rắn xanh xiết mạnh gãy thành mấy đoạn.
Nguyên con Thanh Linh này là một giống rắn rất tinh khôn mà lanh lẹ vô
cùng, da nó cứng hơn sắt, lại được cha mẹ cô gái huấn luyện, biến thành
một “thanh gơm sống”, lợi hại vô cùng. Còn nói về võ công thì một cô gái
17, 18 tuổi làm sao chọi được với Tả Tử Mục, tôn sư cả một phái võ. Chỉ vì
nàng có cây gươm sống, linh hoạt vô cùng và Tả Tử Mục bị tấn công bất
ngờ, không kịp trở tay nên nỗi thanh trường kiếm bị gãy nát. Nhưng thanh
trờng kiếm là khí giới tối quan trọng của thầy trò phái Vô Lượng, một khi
kiếm bị gãy hay bị cướp mất là hết đờng thi thố tài năng. Tuy bị trường
hợp bất ngờ này nhưng chưa thể bảo là Tả Tử Mục đã thua cuộc. Sở dĩ lão
ta không đánh được nữa là vì tay trái còn bận bóp chặt tay phải để ngăn nọc
độc khỏi chạy vào tâm can.
Cô gái bảo Tả Tử Mục:
– Ngươi phải lấy đô lạp thảo sắc lấy ba bát lớn nước mà uống ngay đi, chỉ
trong vòng hai tiếng đồng hồ là thân thể ngươi sẽ cứng đờ, không còn cách
nào giải độc được nữa.
Nàng ra khỏi cửa lớn vừa cười vừa hạ thấp giọng bảo Đoàn Dự:
– Con Thanh Linh này không có nọc độc chi hết. Ta chỉ doạ cho lão già râu
rậm sợ hết hồn mà thôi. Võ nghệ lão ghê gớm lắm, nếu để hắn đuổi theo ta
tất không thể địch nổi lão.
Đoàn Dự rất khâm phục nói:
– Tôi không biết võ nghệ nên bị chúng khinh nhờn.
Vừa nói vừa sờ lên chỗ sưng húp trên mặt, thấy hãy còn đau chàng nói tiếp:
– Giá tôi được con Thanh Linh này thì chả còn sợ gì những kẻ hung ác nữa.
Cô nương ơi! Lúc nào tiện cô bắt cho tôi một con được không?
Cô gái mỉm cười đáp:
– Kiếm được con Thanh Linh này là điều khó đấy cậu ạ. Con này không
phải của ta không thì ta đa tặng cho cậu ngay. Đây là của gia thúc, ta lấy
trộm đem đi chơi một lúc thôi, khi trở về phải hoàn lại.
Đoàn Dự nói:
– Tôn tính đại danh cô nương là gì? Cô không chịu nói cho lão râu rậm biết,
liệu cô có thể cho tôi hay được không?
Cô gái cười đáp:
– Tôn tính đại danh là cái cóc gì? Ta họ Chung, ba má kêu ta là Chung
Linh. à phải tôn tính thì có, còn đại danh thì không, chỉ có tiểu danh thôi.
Bây giờ chúng ta sang sườn núi bên kia ngồi chơi đi! à mà này, từ nãy đến
giờ cậu chưa nói cho ta hay cậu đến núi Vô Lượng làm gì nhỉ?
Hai người kề vai đi sang sườn núi phía tây bắc. Đoàn Dự vừa đi vừa nói:
– Tôi ở nhà trốn ra ngoài ngao du. Khi đến phủ Phổ Nhị thì trong mình hết
tiền, vào nhà Mã Ngũ Đức ăn báo cô. Sau thấy ông ta bảo lên núi Vô Lượng
để hội diện bạn bè, tôi nghĩ ở nhà một mình cũng buồn nên theo đi.
Chung Linh gật đầu lại hỏi:
– Tại sao cậu đang ở nhà lại trốn ra đi?
Đoàn Dự đáp:
– Ba tôi cứ muốn cho tôi học võ, nhưng tôi không chịu, người bức bách
nhiều quá nên tôi phải chuồn đi.
Chung Linh giương hai con mắt tròn xoe nhìn Đoàn Dự từ đầu đến chân ra
vẻ ngạc nhiên hỏi:
– Sao cậu không chịu học võ nghệ? Sợ vất vả phải không?
Đoàn Dự đáp:
– Không phải đâu, vất vả thì tôi không ngại. Tôi nghĩ đi nghĩ lại mãi mà
không hiểu tại sao? Thấy tôi không chịu học ba tôi đa tôi sang bác tôi và
bắt tôi dập đầu thi lễ. Tôi nghĩ mình chẳng có tội lỗi gì mà phải lạy lục, tôi
không chịu. Trời ơi, có thế mà ba má tôi la um sùm…
Chung Linh mỉm cời nói:
– Chắc là má cậu bênh cậu, cãi lại ba cậu phải không?
Đoàn Dự nói:
– Đúng rồi
Chung Linh thở dài nói:
– Má tôi cũng vậy đó!
Nàng đa mắt về phía tây, bâng khuâng nhìn ra phương trời xa thẳm, lúc
định thần nàng hỏi lại:
– Tại sao cậu không nghĩ ra đợc vì lý do gì cậu không ưa học võ?
Đoàn Dự nói:
– Từ thuở nhỏ tôi đã thụ giới theo đạo Phật, sau ba tôi mời thầy đồ dạy tôi
học Tứ thư ngũ kinh, đồng thời mời một vị cao tăng dạy kinh Phật, tôi được
học nào giới sát nào từ bi đại lượng rồi đột nhiên ba tôi dạy tôi luyện tập võ
nghệ, học lối đánh người giết người lòng tôi cảm thấy có điều trái ngược. Ba
tôi bảo tôi không nghe rồi bác tôi khuyên dụ tôi một ngày một đêm nữa, tôi
vẫn không chịu.
Chung Linh hỏi:
– Thế rồi bác cậu tức mình bỏ đi phải không?
Đoàn Dự lắc đầu đáp:
– Bác tôi giận bỏ đi thì còn nói gì? Ông ấy thò ngón tay ra điểm huyệt hai
chỗ, chỉ chớp mắt trong mình tôi dường nh hàng ngàn, hàng vạn con kiến
cùng đốt, hay hút máu khắp mọi chỗ mới khổ chứ. Chú tôi chẳng thương thì
chớ, lại còn hỏi trêu ngơi: “Này cháu! Cháu nếm mùi điểm huyệt như vậy
có dễ chịu không?” Nhưng đây bác là người nhà điểm huyệt mà thôi, hãy
nán chờ rồi bác giải cho. Phải chi gặp kẻ địch điểm huyệt thì cháu muốn
sống không được mà muốn chết cũng không xong. Bây giờ cháu thử giả vờ
tự tử đi cho chú xem nào!”. Khốn nỗi từ lúc bị điểm huyệt, dù là muốn cử
động một ngón tay cũng không thể được thì còn nói chi đến chuyện tự tử
nữa? Thế là tôi vẫn còn sống sờ sờ ra đó mà không làm gì được, dù là muốn
tự tử cũng không xong.
Chung Linh ngây người ra chăm chú nghe Đoàn Dự kể chuyện, đột nhiên
cất tiếng hỏi:
– Bác cậu biết điểm huyệt ? Phải chăng phép điểm huyệt đó chỉ lấy một
đầu ngón tay chỉ vào chỗ nào trong người cậu là tự nhiên cậu hết đường cựa
quậy?
Đoàn Dự đáp:
– Chính thế! Sao mà kỳ thế cô nhỉ?
Chung Linh lộ vẻ kinh ngạc lắp bắp:
– Cậu còn hỏi sao có chuyện kỳ thế? Cậu mới biết thế là kỳ chứ có biết đâu
tất cả mọi người trong võ lâm dù phải dập đầu lạy đến muôn ngàn lạy và
phải theo học 10 năm hay 20 năm còn cố cầu khẩn được thày dạy cho. Chỉ
mình cậu sẵn có người nhà dạy mà không chịu học mới thật là kỳ.
Đoàn Dự nói:
– Cái trò điểm huyệt đó tôi xem chẳng có gì là thú.
Chung Linh thở dài nói:
– Cậu đừng nên nói thế! Nhất là chớ lộ cho ai biết!
– Sao vậy?
Chung Linh nói:
– Cậu đã không biết võ nghệ nên không hiểu được những chuyện quái ác
trong đám giang hồ. Phép điểm huyệt của họ Đoàn nhà cậu thật là trên đời
có một không hai, người ta gọi là phép “Nhất dương chỉ chi đó”. Những
người đã học võ nghệ mới nghe thấy ba chữ “Nhất Dơng Chỉ” là họ thèm
nhỏ dãi ra dài tới ba thớc, tán dương hàng mười ngày, mười đêm không hết
chuyện. Lẽ ra có người biết cha, bác cậu giỏi môn tuyệt kỹ “Nhất Dơng
Chỉ”, thì thế nào họ cũng sinh lòng đen tối, bắt cóc cậu và đòi cha, bác phải
chuộc bằng cách truyền thụ bí quyết “Nhất Dương Chỉ” cho họ thì làm thế
nào?
Đoàn Dự lắc đầu nói:
– Bác tôi tính nóng như lửa, nếu xảy ra vụ này người nổi hung lên, tất đánh
người đó ngay.
Chung Linh nói:
– Phải rồi người ngoài không dám giao đấu với người họ Đoàn thật, vì họ sợ
bí quyết về phép điểm huyệt “Nhất Dương Chỉ”, nhưng một khi cậu đã bị
bắt về tay họ rồi thì đâu còn dám đánh nhau với họ nữa? Vì ném chuột tất
sợ vỡ đồ đạc chứ sao. Có sự xảy ra đến thế thì khó nói chuyện lắm đó. Từ
nay cậu đừng nói với ai là mình họ Đoàn nữa!
Đoàn Dự nói:
– ở Vân Nam có đến hàng ngàn, hàng vạn người họ Đoàn, chẳng lẽ người
nào cũng biết phép điểm huyệt đó sao? Tôi không lấy họ Đoàn thế cô
nương bảo tôi dùng họ gì bây giờ?
Chung Linh mỉm cời đáp:
– Thôi cậu dùng tạm họ Chung với tôi đi!
Đoàn Dự cũng cười nói:
– Vậy cũng hay! Thế là cô nương phải gọi tôi bằng đại ca rồi! Năm nay cô
bao nhiêu tuổi nhỉ?
Chung Linh đáp:
– Tôi mười sáu, còn cậu?
Đoàn Dự nói:
– Vậy tôi lớn hơn cô nương ba tuổi.
Chung Linh nhặt một cây cỏ ở dới đất cắn nát ra, bất giác nàng lắc đầu
hoài.
Đoàn Dự hỏi:
– Trong lòng cô có đièu chi nghĩ ngợi?
Chung Linh nói:
– Tôi vẫn không thể tin được rằng cậu không muốn học bí quyết “Nhất
Dương Chỉ”, chắc là cậu giấu tôi thôi.
Đoàn Dự phì cười nói:
– Phép “Nhất Dương Chỉ” có gì mà thần diệu đến thế cô thử nói xem nào?
Nó có đổi được cơm ăn không? Tôi thấy những con Kim Linh, Thanh Linh
của cô còn hay hơn nhiều.
Chung Linh nói:
– Tôi chỉ cầu đem mấy con rắn đó đổi được phép “Nhất Dương Chỉ” kia,
khốn nỗi cậu không biết phép “Nhất Dương Chỉ” mà mấy con rắn này cũng
lại không phải của tôi.
Đoàn Dự nói:
– Một cô gái bé nhỏ như cô cũng mong học lấy cái nghề giết người đó mà
làm gì?
Chung Linh lại hỏi:
– Có thật cậu không biết bí quyết đó hay cậu giả vờ?
Đoàn Dự lấy làm kỳ hỏi:
– Cô nói sao?
Chung Linh trỏ tay về phía đông nói:
– Cậu trông kìa!
Đoàn Dự nhìn theo phía tay Chung Linh trỏ, thấy bên trong sườn núi về
phía đông, từng luồng khói xanh lè bốc lên, cả thảy có đến mơi đám nhưng
không hiểu những chỗ đó hó đang làm gì?
Chung Linh nói tiếp:
– Tuy cậu không nghĩ đến cách chém giết ai nhng người ta cứ nghĩ cách
đánh cậu, chẳng lẽ cậu cứ bó tay chịu chết hay sao? Những luồng khói đen
đó là đảng Thần Nông đang nấu thuốc độc để lát nữa đối phó với phái Vô
Lượng kiếm. Thôi chúng mình cũng liệu từ từ mà rút lui đi cho khỏi gặp
thành vạ lây.
Đoàn Dự phe phẩy quạt cho là thuyết của Chung Linh không đúng. Chàng
nói:
– Mối thù nghịch giữa hai phái võ này không thành vấn đề nữa. Phái Vô
Lượng có giết con chúa đảng Thần Nông thì Dung Nguyên Quy đã bị phe
địch dùng thuốc độc sát hại rồi, ấy là chưa kể cái thằng đánh tôi là Cung
Nhân Kiệt nữa. Như thế là có vay có trả rồi, mà trả còn nhiều hơn vay nữa
là khác. Nếu thế mà còn cho là chưa được công bằng thì đưa lên phủ nha
mà kiện để quan phụ mẫu xét xử công bằng cho! Sao lại động một tý là cứ
giết người phóng hoả? Thế thì ra trong nước Đại Lý này không còn có
vương pháp nữa hay sao?
Chung Linh tặc lưỡi ba cái rồi nói:
– Nghe cậu nói có vẻ là hoàng thân quốc thích hay ít ra cũng là quan phủ
quan huyện gì đây. Nhưng muốn ai thì ai chứ trăm họ chúng tôi chẳng cần
hỏi gì đến mấy ông ấy đâu.
Nàng ngẩng đầu nhìn trời rồi chỉ về phía Tây khẽ bảo Đoàn Dự:
– Đợi trời tối rồi chúng mình từ từ theo phía đó mà rút lui, đảng Thần Nông
không có người ở đó.
Đoàn Dự nói:
– Không được tôi phải đến gặp chúa đảng Thần Nông hiểu dụ một phen,
không để bọn họ giết người một cách hồ đồ như vậy.
Chung Linh tỏ vẻ ái ngại cho chàng:
– Đoàn huynh! Anh này thật chả biết trời đất gì cả. Lão Tư Không Huyền là
chúa đảng Thần Nông, nham hiểm vô cùng, quen dùng thuốc độc, họ chỉ
thù phái Vô Lượng Kiếm mà thôi, mình chẳng nên dây vào làm gì, chúng ta
đi thôi!
Đoàn Dự nói:
– Không được, thấy vụ này mình mắt lấp, tai nghe sao đành? Nếu cô có sợ
thì đứng đây chờ ta.
Nói xong đứng dậy nhằm hướng đông ra đi. Chung Linh trông theo chàng đi
đợc độ vài trượng, nàng đứng phắt dậy chạy theo, thò tay phải ra níu lấy
vai chàng. Đoàn Dự nghe sau lưng có tiếng chân người toan ngoảnh đầu lại,
nhưng bị Chung Linh nắm lấy vai chàng rồi thò chân ra khoèo, Đoàn Dự
đứng không vững ngã dập mặt xuống, mũi vập vào tảng đá chảy máu ra.
Chàng nổi hung lên lóp ngóp đứng dậy nhìn lại thấy kẻ làm mình té chính là
Chung Linh thì tức giận hỏi:
– Cô làm gì mà ác thế để cho ta ngã đau quá.
Chung Linh cười nói:
– Tôi muốn thử anh lần nữa, xem anh có thực không biết võ hay là anh giả
vờ. Thế là một điều hay cho anh rồi còn gì nữa?
Đoàn Dự thò tay lên mũi thấy tay đỏ loè, máu tươi chảy cả xuống bụng.
Tuy bị thương nhẹ nhưng máu chảy khá nhiều, chàng bất giác kêu la. Chung
Linh thương tình vội lấy khăn tay lau vết máu cho chàng. Đoàn Dự tức mình
đưa tay đẩy ra nói:
– Đây không cần cô đấu dịu mà cũng không chơi với cô nữa đâu!
Không hiểu võ nghệ chàng cất nhắc tay chân chả vào miếng vào bộ nào hết.
Chàng đẩy Chung Linh ra thế nào lại nhè ngay vào bụng nàng mà đẩy. Cách
phản ứng tự nhiên của nàng là đưa tay ra đỡ rồi tiện đà hất về phía trước làm
cho Đoàn Dự ngã ngửa đánh “huỵch” một tiếng, đầu chạm vào tảng đá, ngất
đi.
Chung Linh thấy chàng nằm duỗi thẳng cẳng dưới đất, ngời ngay đờ liền
gọi to:
– Đoàn huynh dậy mau, tôi có chuyện muốn nói đây.
Đoàn Dự vẫn không cựa quậy, nàng bồn chồn trong dạ, cúi xuống nhìn thấy
chàng mắt trợn ngược lên, hơi thở phập phồng thì biết là chàng ngất đi liền
đưa tay ra ôm dậy rồi xoa xít bụng chàng.
Một lúc lâu Đoàn Dự dần dần hồi tỉnh, cảm thấy mình nằm trên vật gì mềm
nhũn, một làn hương thơm nhẹ nhàng đa vào mũi. Chàng từ từ mở mắt ra
thấy đôi mắt trong sáng của Chung Linh đương nhìn mình. Chung Linh thấy
chàng hồi tỉnh, thở dài nhẹ nhõm. Nàng nói:
– Chà! Anh khỏi chết là may.
Đoàn Dự thấy mình nằm trong lòng Chung Linh, đầu gối ngay bên cạnh
sườn nàng, tâm hồn chàng không khỏi phiêu diêu. Nhưng chợt cảm thấy đau
lên từng cơn ở chỗ đầu bị thương, bất giác chàng giật giọng kêu la:
– ối chao! ôi đau!
Chung Linh giật mình hỏi:
– Cậu làm sao vậy?
Đoàn Dự vẫn la:
– Ta… ta đau dữ quá!
Chung Linh nói:
– Đã chết đâu mà anh phải be be lên làm gì thế?
Đoàn Dự đáp:
– Thế ta chết rồi liệu còn kêu be be lên được nữa chăng?
Chung Linh bật cười nghĩ bụng mình nói câu đó quả là vô lý, nàng nâng đầu
Đoàn Dự lên coi thì thấy sau gáy có một chỗ sưng vù lên rất to, ngoài ra
còn nhiều chỗ bươu khác dù không chảy máu nhưng cũng đau lắm. Nàng
giận dỗi nói:
– Ai bảo anh có cử chỉ không chính đáng, nếu là kẻ khác thì tôi giết chết
rồi. Đối với anh tôi mới đẩy ngã còn là phúc đấy.
Đoàn Dự lấy làm kỳ ngồi dậy hỏi:
– Sao cô bảo ta… ta có cử chỉ không chính đính? Đâu có chuyện lạ vậy? Thế
thì thì oan uổng cho ta quá!
Trong lòng Chung Linh nụ tình chớm nở. Sự va chạm giữa hai bên trai gái,
nói là nàng đã cảm thấy cõi lòng rung động thì không đúng, mà bảo nàng
chưa biết tý gì thì cũng không hẳn như thế. Nghe Đoàn Dự nói má nàng ửng
hồng rồi ngập ngừng:
– Tôi không nói với anh nữa, trăm điều tại anh không đứng đắn mà ra, ai
bảo anh nhè chỗ đó… mà đẩy tôi ra.
Bấy giờ Đoàn Dự mới tỉnh ngộ, biết mình vô ý, tìm lời giải thích, nhưng
chàng lúng túng chưa biết nói sao thì Chung Linh lại tiếp:
– Bây giờ anh hồi tỉnh anh có biết lúc anh ngất đi làm cho tôi tôi bồn chồn
lo lắng thế nào không?
Đoàn Dự nói:
– Lúc nãy ở cung Kiếm Hồ, nếu không có cô ra tay chắc là ta bị thêm mấy
cái bạt tai nữa, bây giờ cô xô ta té hai lần thế là đủ trả vào đó, thì ra số kiếp
ta phải vậy không sao tránh khỏi.
Chung Linh nói:
– Anh nói chi vậy? Hình có có vẻ hờn giận tôi thì phải.
Đoàn Dự nói:
– Chứ lại không tức à? Chẳng lẽ cô đánh ta, ta lại hớn hở vui mừng bảo:
“Tha cô nương, cô đánh ngon quá, tuyệt quá”. Dễ thường cô còn muốn
người ta tạ ơn cô nữa hẳn?
Chung Linh cầm tay chàng an ủi:
– Từ đây mà đi tôi không đánh anh đâu. Thôi đừng giận nữa nghe!
Đoàn Dự nói:
– Không được, trừ phi cô để ta đánh trả hai thoi.
Chung Linh ngẫm nghĩ có vẻ không được hài lòng, nhưng thấy chàng mặt
giận lầm lì, toan quay gót bỏ đi, đành ngoảnh mặt lại nói:
– Thôi được, tôi để anh đánh trả hai cái… nhưng có đánh thì đánh nhè nhẹ
thôi nhé!
Đoàn Dự nói:
– đã đánh là phải đánh thật nặng mới gọi là rửa hận. Ta không nhẹ đòn được
đâu. Cô bảo ta nhẹ đòn thì thà thôi đi, đừng cho đánh nữa.
Chung Linh thở dài rồi nhắm mắt lại nói khẽ:
– Đây anh đánh đi! Đánh rồi đừng giận nữa nhé!
Nàng đã đứng khá lâu mà chưa thấy Đoàn Dự hạ thủ, lại mở bừng mắt ra
thấy Đoàn Dự nửa ra tươi cười, nửa ra nghiêm trang, cứ nhìn mình chòng
chọc, Chung Linh lấy làm kỳ hỏi:
– Sao mãi anh không đánh đi?
Đoàn Dự giơ ngón tay trỏ chỉ vào hai bên má nàng hai cái rồi cười mà nói
rằng:
– Đánh hai đòn này cô có đau lắm không?
Chung Linh cả mừng cười nói:
– Tôi biết anh là người ngoan lắm mà!
Đoàn Dự thấy nàng đứng trước mặt mình, cách nhau không đầy một thước,
mùi lan thoang thoảng, càng nhìn thấy nàng càng đẹp. Hai người nhìn nhau
không nỡ chia tay.Hồi lâu chàng mới nói:
– Thù lớn đã trả xong rồi, bây giờ tôi sang chỗ chúa đảng Thần Nông là Tư
Không Huyền đây.
Chung Linh nói:
– Chàng ngốc ơi! Không đi được đâu! Đã không hiểu một tý gì về lề luật
giang hồ, lỡ ra phạm vào điều huý kỵ của họ thì tôi không thể cứu anh được
đâu.
Đoàn Dự lắc đầu nói:
– Cô không cần gì phải lo cho ta, ta chỉ đi một lát sẽ trở lại ngay. Cô cứ ở
đây chờ ta.
Nói xong hùng dũng lên đường, nhằm phía có khói xanh thẳng tiến. Chung
Linh gọi giật giọng bảo chàng trở lại nhưng chàng không nghe.Nàng run lên
nói:
– Được rồi! Anh đã bảo có hạt dưa cùng ăn, gặp gươm đao cùng chịu. Tôi
phải đi với anh.
Rồi sánh vai cùng Đoàn Dự ra đi không khuyên can nữa. Hai người đi trong
khoảnh khắc đến một nơi, thấy hai gã to lớn mặc áo vàng chạy ra đón
đường. Gã đi bên trái nhiều tuổi hơn quát hỏi:
– Ai đó! Đến đây có việc chi?
Đoàn Dự thấy hai gã đều vai vác bị thuốc độc, khí giới cầm tay là một lưỡi
đao rất lớn chàng đáp:
– Tại hạ tên gọi Đoàn Dự, có việc muốn vào ra mắt Tư Không chúa đảng.
Lão già nói:
– Các hạ có việc gì?
Đoàn Dự nói:
– Để tôi yết kiến chúa đảng, sẽ xin trình bày.
Lão già hỏi:
– Các hạ thuộc môn phái nào? Lịnh tôn s đại hiệu là gì?
Đoàn Dự đáp:
– Tôi không ở môn phái nào cả, sư phụ tôi là Mạnh Thuật Thánh, tên tự Kế
Nho. Người chuyên nghiên cứu các sách cổ văn Thợng Thư, về môn Công
Dương học lại càng thấu đáo.
Sư phụ mà Đoàn Dự nói đây là ông thầy dạy kinh sách và làm văn bái
nhưng lão già nghe thấy chàng nói “Cổ văn thượng thư” và môn “Công
dương học” chi chi đó tưởng là những môn võ nghệ kỳ lạ, lại thấy chàng
quần quạt phe phẩy tựa hồ nh một tay võ nghệ tuyệt luân, cố ý giấu tài
nghệ nên lão không dám coi thường gã, cố nghĩ mãi trong các phái võ lâm
có nhân vật nào tên là Mạnh Thuần Thánh mà không sao nghĩ ra được.
Những lời chàng ca tụng môn Công dương học chi đó lại càng thấu đáo thì
chắc là không phải câu chuyện buột miệng nói quanh. Nghĩ vậy lão liền bảo
Đoàn Dự:
– Xin Đoàn thiếu hiệp chờ cho một chút, để tôi vào báo trớc!
Lão già băng băng chạy đi, quanh khuất vào sờn núi rồi, Chung Linh bảo
Đoàn Dự:
– Anh vừa gạt lão về môn học ông dê (Đoàn Dự nói Công dương học tức là
sách Công Dương truyện của Công Dương Cao, người nước Tề vào thời
chiến quốc, soạn ra để phát huy nghĩa kinh Xuân Thu) bà dê gì gì đó, đến
lúc gặp lão Tư Không Huyền mà bị y khảo sát, tôi e rằng khó lòng che mắt
y được.
Đoàn Dự nói:
– Cô khỏi lo! Công dương truyện ta học thuộc làu, sách này lời ít mà nghĩa
nhiều Tư Không Huyền muốn so đọ với ta về môn này vị tất đã ăn đứt được
ta?
Chung Linh mở mắt thao láo ra nhìn chàng, chưa hiểu chàng nói chuyện gì
thì đã thấy lão già nét mặt tím bầm chạy ra hỏi:
– Ngươi nói ba hoa những gì vừa rồi? Chủ ta gọi ngươi vào đó!
Cứ xem thái độ của lão cũng biết lão vừa bị Tư Không Huyền quở trách,
Đoàn Dự gật đầu theo lão đi vào.
Lão già nói:
– Để ta dẫn đường cho!
Nói rồi thò tay ra nắm lấy bàn tay Đoàn Dự, mới đi dược ba bước, lão đã
vận nội công vào bàn tay nắm chặt.Đoàn Dự phải la lên:
– úi chà! Cầm nhè nhẹ thôi!
Lão già càng bóp chặt tựa hồ nh cái đai sắt rút nhỏ mãi vào. Đoàn Dự
không chịu nổi kêu ầm lên.
Nguyên lão già vào thuật lại với chúa đảng nào “Cổ văn thượng thư” nào
“Công dương học” gì gì đó bị chúa đảng quở trách. Lão căm tức Đoàn Dự
lắm, nên vận nội công vào bàn tay, xiết chặt lấy tay chàng để thử võ công
chàng đến bực nào. Thấy Đoàn Dự không chịu nổi, lão tưởng bóp gãy nát
gân cốt năm ngón tay chàng thì bỗng nhiên lão thấy tay mình mát lạnh
dường nh có vật gì quấn vào, rồi lại nghe có tiếng “rắc rắc”, xương tay lão
bị gãy nát. Lão đau quá, cúi đầu xuống nhìn tay mình thì chẳng thấy có gì
cả. Lão biết đâu rằng Chung Linh ám trợ Đoàn Dự. Nàng đi sau, thấy chàng
bị nguy liền thả con Thanh Linh ra xiết ngay cổ tay lão già. Lão nghĩ rằng
chính Đoàn Dự đã vận dụng phản lực ngược lên xiết cổ tay lão. Lão vừa
căm tức bội phần lại vừa sợ hãi nghĩ thầm: “Nội công thằng cha này ghê
gớm thật, cũng may mà mình không thách thức y, nếu cùng y giao đấu tất
sẽ bị nhục”. Tuy lão đau quá, trên mặt mồ hôi nhỏ giọt, nhưng vẫn ra vẻ
ngang tàng, không một tiếng rên la, dường nh không xảy chuyện chi, cứ
rảo bước đi mau.
Đoàn Dự nói:
– Bác này thật là thô lỗ, giắt tay người ta làm gì mà bóp mạnh đến thế? Ta
xem ra bác chẳng tử tế gì.
Lão già không đáp, lại càng rảo bước đi mau hơn. Dây lát đã đến một chỗ
hốc núi. Chung Linh ngoảnh đầu chợt nhìn thấy giữa những tảng đá lớn để
ngổn ngang, chừng hai mươi người ngồi quây quần với nhau thì biết rằng
mình đã dấn thân vào nơi hổ huyệt. Nàng liền bước nhanh theo sát Đoàn
Dự. Đoàn Dự tiến lên nhác trông thấy đám người này có một lão già nhỏ bé
gày còm ngồi trên một tảng đá cao, dưới cằm thõng xuống một chòm râu
dê, nét mặt đầy vẻ ngạo nghễ thì biết chắc đó là Tư Không Huyền, chúa
đảng Thần Nông. Chàng liền chắp tay vái chào nói:
– Tại hạ là Đoàn Dự xin có lời chào bang chúa.
Tư Không Huyền chỉ khẽ nghiêng mình đi một chút, không thèm đứng dậy
cất tiếng hỏi:
– Các hạ tới đây có việc gì?
Đoàn Dự đáp:
– Nghe nói quý đảng cùng phái Vô Lượng kết mối thâm thù. Hôm nay chính
mắt tại hạ đã thấy hai người bên phái Vô Lượng bị thảm tử rồi, vì động mối
thương tâm nên đến đây có đôi lời khuyên giải. Tại hạ trộm nghĩ rằng: “Oan
cừu nên gỡ ra chứ chẳng nên buộc vào, vả lại gây cuộc giao đấu, chém giết
là trái phép nước, việc đến tai quan sẽ có nhiều điều phiền phức cho đại
nhân. Vậy xin đại nhân kìm ngựa, cấp tốc quay về, không nên gây thêm cừu
oán cùng phái Vô Lượng nữa!”.
Chờ cho Đoàn Dự nói xong, Tư Không Huyền tỏ vẻ lãnh đạm, không nói
nửa lời, đưa mắt nhìn ra chỗ khác. Đoàn Dự lại nói tiếp:
– Tại hạ vừa nói đó toàn là những lời vàng đá, đại nhân thử nghĩ kỹ xem!
Bấy giờ Tư Không Huyền mới nhìn Đoàn Dự bằng con mắt tò mò, rồi đột
nhiên ngửa mặt lên trời, cười ha hả nói:
– Gã tiểu tử kia là ai mà dám đến đây làm trò chơi giải muộn cho lão gia. Ai
sai ngươi đến đây?
Đoàn Dự đáp:
– Không có ai sai ta cả, đó là tự ý ta đến bảo ngươi mà thôi.
Tư Không Huyền đằng hắng một tiếng rồi nói:
– Lão gia bôn tẩu giang hồ bốn mươi năm trời, cha từng thấy đứa nhỏ nào
to gan, lớn mật đến đây ăn nói càn rỡ như ngơi. A Trác đâu! Bắt lấy cả hai
đứa nhỏ này cho ta!
Một gã đại hán đứng bên vâng dạ, bước tới đa tay ra nắm lấy vai Đoàn Dự.
Chung Linh vội la lên:
– Tư Không bang chúa hãy khoan! Đoàn tướng công đem những lời vàng
ngọc ra khuyên nhủ ngươi không nghe thì thôi, sao lại có những hành động
dã man như thế?
Nàng quay lại bảo Đoàn Dự:
– Đoàn huynh! Thần Nông bang không nghe lời anh, mình chẳng hơi đâu
mà can thiệp việc người. Chúng ta đi thôi.
A Trác đã đưa bàn tay khổng lồ ra bắt hai tay Đoàn Dự quặt ra sau lưng giữ
chặt, mắt đăm đăm nhìn Tư Không Huyền để chờ lệnh.
Tư Không Huyền mặt lạnh như tiền nói:
– Đảng Thần Nông không ưa những kẻ ở đâu đến rắc rối vào công việc của
mình. Hai đứa con nít chưa ráo máu đầu kia giở giọng dạy đời lại tưởng
muốn đến là đến, muốn đi là đi, đâu phải chuyện dễ dàng như thế đợc? A
Hồng đâu! Bắt trói con bé này lại!
Một tên đại hán khác vâng lời thò tay ra bắt Chung Linh. Chung Linh xoay
mình một cái, lui xa ba bước nói:
– Tư Không bang chúa! Ta há sợ gì ngươi? Ta sợ là sợ gia gia ta quở trách
sao được ra ngoài gây sự mà thôi. Ngươi bảo chúng tha ngay Đoàn huynh
ta, đừng có dồn ta vào thế cưỡi cọp khó bề nhảy xuống thì phiền lắm đó.
Tư Không Huyền cả cười nói:
– Ha ha! Con nhỏ này thế mà nói ra điệu người lớn, A Hồng đâu còn chờ gì
nữa mà chưa động thủ?
A Hồng vâng một tiếng đưa tay ra nắm lấy cánh tay Chung Linh. Chung
Linh co tay phải lại, tay trái đánh vụt ra, cạnh bàn tay sắc như dao nhằm cổ
A Hồng đánh tới. A Hồng cúi đầu tránh khỏi. Tay phải Chung Linh nhanh
như điện chớp hất ngược lên đánh “binh” một tiếng thì ra đánh trúng vào
cằm A Hồng. Tức thì cây thịt nặng mấy trăm cân ngã xuống đất, ngửa mặt
lên trời, không sao dậy được nữa.
Tư Không Huyền vẫn tỏ vẻ khinh khỉnh nói:
– Con bé này đáo để thật, đã dám đến Thần Nông bang nói hỗn chưa đủ còn
dám dở trò nữa đây.
Lão nhìn sang mé bên, đưa mắt ra hiệu cho một lão già cao mà gầy như que
củi. Y chẳng nói chẳng rằng bước tới. Thế là bắt đầu cuộc giao đấu giữa hai
người, một cao lênh khênh, một thấp lủn thủn, chênh lệch nhau tới hai
thước. Lão cao nghều đưa cả mời đầu ngón tay nhọn như móng chân chim
toan nắm lấy vai Chung Linh.

Hết Chương 2

Hết Hồi 2

=====================================================================

Chương 3

HỒI 3
Những Biến Chuyển Bất Ngờ


Kim Dung

Chung Linh thấy thế đánh hung hãn liền né sang một bên tránh khỏi thì năm
ngón tay lão cao nghều lại tạt qua bên má nàng, còn cách chừng năm tấc mà
đã cảm thấy một luồng gió cực mạnh, nàng giật mình kinh hãi la lên:
– Tư Không bang chúa! Ngươi có bảo lão dừng tay không? Này này ta bảo
thật nếu ngươi cứ để hắn làm già thì đừng trách ta là không biết điều đó.
Sau này ba má quở trách ta, ngươi cũng chẳng đẹp mặt gì đâu!
Trong khi nàng nói thì lão cao nghều đưa năm đầu ngón tay ra chụp xuống,
nàng đều tránh khỏi, chỉ khe chừng sợi tóc.
Tư Không Huyền cả tiếng quát:
– Sao không chụp lấy nó?
Lão cao nghều dùng tay trái liên tiếp đánh tạt ngang còn tay phải luôn luôn
xoay vòng tròn chụp xuống rồi nắm được tay phải Chung Linh. Nàng kêu
lên một tiếng kinh hồn “ối chao!”, đau đến nỗi mặt hoa tái mét. Trong cơn
nguy cấp, nàng vẫy tay trái một cái, chợt lao cao nghều rú lên một tiếng rồi
buông nàng ra, ngồi phịch xuống đất. Con Kim linh đã xông ra đớp trúng
mu bàn tay lão một miếng xong lại nhảy về nằm trong bàn tay Chung Linh.
Một gã đứng tuổi đứng bên cạnh Tư Không Huyền thấy thế vội vàng bước
tới đưa tay ra nâng lão cao nghều dậy thì khắp mình lão run bần bật, mu
bàn tay lão có vết tím bầm, như sơn quệt vào mỗi lúc một loang to ra.
Chung Linh chắm môi thổi lên một tiếng, con Kim linh lại nhảy ra, lướt tới
trớc mặt gã đại hán đang túm lấy Đoàn Dự. Gã đưa tay lên toan bắt lấy,
con Kim linh liền đớp ngay sườn bàn tay gã. Võ công gã này còn kém lão
cao nghều, không chịu đựng nổi, thân thể co quắp, rên rỉ luôn miệng.
Chung Linh liền nắm tay Đoàn Dự kéo đi và khẽ bảo:
– Nguy đến nơi rồi, chúng mình phải chạy cho mau!
Những tên đứng xung quanh Tư Không Huyền đều là những tay võ nghệ
cao cường. Bọn này sinh nhai bằng nghề hái thuốc, chế thuốc: bất luận rắn
rết gì, nọc độc thế nào chúng đều hiểu rõ tính chất. Tuy nhiên con Kim linh
này chạy nhanh như chớp, nọc độc của nó cực kỳ nguy hiểm, bọn này
không ai biết tý gì cả. Chả thế mà Tư Không Huyền cũng phải giật mình
kêu lên:
– Phải chăng đây là giống “Vũ huyệt tứ linh”? Chúng bay đâu! Mau ra bắt
con nhãi ranh này chớ để cho nó chạy thoát.
Bốn gã đại hán vội nhảy xổ ra, chia hai bên sấn vào. Chung Linh miệng vừa
huýt sáo vừa rút con Thanh linh ở trong lưng ra quăng xuống cản hai gã tới
gần. Còn con Kim linh đớp xong gã nọ rồi nhảy sang đớp gã kia. Chỉ trong
chớp mắt nó đã đớp hết cả bốn: mỗi gã một miếng. Gã nào gã nấy ngã lăn
ra giãy giụa dưới đất cả một lượt.
Đồng đảng Thần Nông bang tuy thấy những con rắn nhỏ rất đáng khiếp sợ
nhưng trớc mặt bang chúa không tên nào giám lùi bước, rồi đến bảy tám
tên nhất tề rượt theo.
Chung Linh gọi to lên rằng:
– Đứa nào muốn sống thì đừng lại gần! Ta mà cho con Kim linh ra đớp thì
không còn thuốc nào chữa được đâu.
Mấy tên này đều cầm khí giới: kẻ đao, người kiếm để đón đỡ con Kim linh.
Nhưng con rắn nhỏ này mau lẹ như thần, bất chấp tất cả gươm đao, ám khí
ở thế gian. Đao kiếm cứ việc mà đâm, mà chém nó vẫn xông ào, lăn xả vào
mà chẳng ai chém trúng. Vèo một cái nó đã đớp trúng cả bảy, tám kẻ địch
ngã lăn kềnh.
Tư Không Huyền vén áo lấy một bình thuốc nớc, đổ ra lòng bàn tay, thoa
từ mu bàn tay đến cẳng tay, đoạn nhảy ba bước đến trước mặt Chung Linh
cùng Đoàn Dự, cất tiếng khàn khàn quát:
– Đứng lại!
Con Kim linh từ trong lòng bàn tay Chung Linh nhảy vọt lên đỗ trên sống
mũi Tư Không Huyền. Tư Không Huyền chĩa thẳng bàn tay giơ lên, trong
lòng vẫn lo thầm: “không hiểu thứ thuốc mình bí mật chế ra chống rắn độc
đối với con rắn vàng vô cùng linh dị này có ăn thua gì không? Nếu không
hiệu nghiệm thì chẳng những oai danh mình phút chốc trôi theo dòng nước
mà cả đảng Thần Nông cũng bị tan tành”.
Con Kim linh há miệng toan đớp vào lòng bàn tay Tư Không Huyền, song
đột nhiên quay lộn đầu trở lại, dùng khấu đuôi chống vào bàn tay lão để lấy
đà nhảy tót về.
T Không Huyền cả mừng đưa tay trái đánh “vù” một cái, phát ra một luồng
gió mạnh ghê gớm, Chung Linh tránh không kịp lảo đảo suýt ngã. Bỗng
nghe đánh “huỵch” một tiếng, thì ra Đoàn Dự bị dư lực luồng gió quạt ngã
lăn xuống đất, ngửa mặt lên trời.
Chung Linh cả kinh, chúm miệng huýt luôn mấy tiếng huy động con Kim
linh xông trận. Kim linh lại nhảy vọt ra nhưng bàn tay Tư Không Huyền đã
xát thuốc kỵ rắn, phải tìm chỗ khác như đầu, mặt, bắp vế để cắn. T Không
Huyền múa tít hai quyền để trấn áp Kim linh không cho đến gần. Chung
Linh vung con Thanh linh như cây roi mềm để đánh vào cạnh sờn. Tư
Không Huyền ngỡ con Thanh linh cũng là rắn độc nên chống đỡ nghiêm
mật như đối với con Kim linh. Miệng lão luôn luôn ra lệnh cho thủ hạ.
Mấy chục tên đồ đệ kéo ra vây bốn mặt. Tên nào cũng cầm nắm cây, cỏ
dược liệu ra đốt, một làn khói đặc bốc lên ngùn ngụt.
Đoàn Dự vừa đứng dậy được, song đầu nhức lạ thường, tối tăm mặt mũi lại
ngã lăn ra. Trong lúc mê man chàng thấy Chung Linh cũng lảo đảo ngã
theo. Hai tên thủ hạ đảng Thần Nông chạy đến định bắt Chung Linh.
Hai con rắn thần thấy Chung Linh ngã ra, cố tình cứu chủ vội xông lại đớp
mỗi tên một miếng. Một tên trúng độc ngã lăn kềnh, còn một tên vế đùi bị
cắn máu chảy đầm đìa, xơng tay lại bị con Thanh linh vặn gãy. Mọi người
xúm quanh không biết làm thế nào.
Tư Không Huyền hô:
– Mé đông đốt hùng hoàng và mé nam đốt xạ hương lên! Còn các người ở
mé tây bắc kia phải tránh đi cho mau không được đứng đó!
Đồng đảng vâng lệnh đốt xạ hương, hùng hoàng. Đảng Thần Nông đủ mọi
thứ thuốc mà mỗi thứ một khác, cách chế biến lại rất tinh vi. Thứ hùng
hoàng, xạ hương này thuần chất và rất mạnh, đốt lên phát ra một luồng khói
dày đặc, cay xè theo chiều gió đông nam thổi về phía Chung Linh. Chẳng
ngờ những thứ thuốc kỵ rắn này không làm gì nổi hai con rắn thần. Chúng
vẫn tung hoành lanh lợi nh thường, một lúc đớp luôn năm sáu tên trong
đảng Thần Nông.
Tư Không Huyền bóp trán nghĩ ra một kế, hô lớn:
– Xúc đất cho mau, đổ lấp con nhãi ranh này cùng đám rắn để chôn sống
chúng nó đi!
Đảng Thần Nông chuyên nghề kiếm dược liệu lúc nào cũng mang đủ xẻng,
cuốc, thúng, mủng, lập tức đào từng khối đất lớn nhằm chỗ Chung Linh đổ
xuống tới tấp.
Lúc ấy Đoàn Dự tâm thần vẫn còn tỉnh táo, nghĩ lại: “tai vạ này tự mình gây
nên, nếu Chung Linh bị chôn sống thì mình còn sống làm gì nữa?”. Chàng
hùng hổ nhảy vào ôm lấy nàng, nằm đè lên trên, miệng hô lớn câu: “Rút cục
ai mà chẳng chết! Rút cục ai mà chẳng chết?”.
Đất đá đổ xuống ầm ầm lấp lên người chàng. Tư Không Huyền vẳng nghe
câu chàng la: “Rút cục ai mà chẳng chết?” không khỏi mủi lòng, ngó lại hai
mươi tên đồng đảng bị rắn cắn đang nằm quằn quại, trong đó có đến bảy
tám tên quan trọng cùng hai sư đệ của mình. Lão nghĩ thầm: nếu giết con
nhỏ này đi cho hả giận thì biết làm thế nào để cứu sống bọn thủ hạ của
mình? Nọc độc con Kim linh này đâu phải tầm thường, khó lòng thoát chết.
Trừ phi được chính nhà y cứu chữa cho mới được, ngoài ra không còn cách
nào”. Nghĩ vậy lão liền truyền lệnh:
– Đừng để cho hai đứa này chết ngay, vậy các ngươi không được lấp kín đầu
chúng!
Chung Linh không còn hơi sức để cử động được nữa, chỉ thấy trên mình bị
đè nặng vô cùng. Đoàn Dự ôm lấy nàng và cả đôi đều chịu nằm im. Trong
một khắc đồng hồ, hai người chỉ còn hở đầu, toàn thân bị lấp đất kín.
Tư Không Huyền cất giọng thảm đạm hỏi Chung Linh:
– Mi muốn sống hay là muốn chết?
Chung Linh đáp:
– Dĩ nhiên là ta muốn sống. Nếu ngươi sát hại Đoàn huynh đây cùng ta thì
vô số đứa trong bọn ngơi cũng không sống được đâu.
Tư Không Huyền nói:
– Nếu mi lấy thuốc giải cứu nọc rắn độc của mi đưa ra đây thì ta sẽ tha
mạng cho.
Chung Linh lắc đầu nói:
– Ngươi tha một mình ta không đủ, phải tha cả hai mạng.
Tư Không Huyền nói:
– Thôi được, ta sẽ thả cả cho hai đứa mi, thuốc giải độc đâu?
Chung Linh nói:
– Hiện trong mình ta không có. Con kim linh này độc vô cùng chỉ có mình
ba ta là trị được thôi. Trước ta đã bảo ngươi rồi, đừng bức bách ta phải động
thủ. Gây ra chuyện lôi thôi, ba ta sẽ quở trách ta thì cái mặt ngươi cũng
chẳng đẹp tốt gì.
Tư Không Huyền cả tiếng mắng:
– Con nhãi ranh này! Thân mi đến thế mà mi còn ăn nói hỗn láo, lão gia mà
giận lên sẽ để mi sống vất vưởng thế này cho đến chết đói nghe chưa?
Chung Linh nói:
– Ta đã nói thực với mi mà mi không tin. Ôi thôi! chuyện này còn là rối bét.
Không thể che mắt ba ta được đâu, bây giờ biết làm thế nào?
Tư Không Huyền hỏi:
– Cha mi tên họ là gì?
Chung Linh đáp:
– Ngươi đã bấy nhiêu tuổi đầu sao mà ngu dốt thế? Đời nào ta lại nói tên ba
ta cho ngươi biết?
Tư Không Huyền vùng vẫy giang hồ đã mấy mươi năm, tiếng tăm lừng lẫy
trong phái võ lâm, nay gặp phải hai đứa con nít mà đành chịu bó tay, không
làm gì được. Lão nghiến răng thét lên:
– Cầm mớ lửa ra đây cho ta đốt tóc coi nhãi ranh này, xem nó có phải khai
tên cha nó không?
Một tên cầm bó đuốc đưa đến. Tư Không Huyền cầm lấy bước tới. Chung
Linh nhìn mặt lão dưới ánh lửa sáng lại càng hung dữ bội phần, nàng sợ
phát khiếp la lên:
– Trời ơi! Ngươi chớ đốt tóc ta, tóc cháy thì đầu sẽ bị đau lắm, ngươi không
tin thì hãy thử đốt chòm râu dê của ngươi mà coi!
Tư Không Huyền với bộ mặt nanh ác cũng phải phì cười nói:
– Ta biết rồi mà, đã đốt là phải đau hà tất còn phải đốt thử râu nữa?
Lão cầm bó đuốc vung lên trước mặt Chung Linh. Chung Linh sợ quá kêu
thét lên, Đoàn Dự ôm chặt lấy nàng quát:
– Lão râu dê kia! Chuyện này là tại ta gây ra, ngươi đốt đầu ta đây này!
Chung Linh nói:
– Chớ chớ! Đau lắm anh không chịu nổi đâu!
Tư Không Huyền nói:
– Mi đã sợ đau sao không đưa thuốc giải độc ra để cứu bọn ta?
Chung Linh nói:
– Ngươi thật là thằng ngốc! Ta đã bảo rằng chỉ có ba ta là trị nổi nọc độc
con kim linh. Đến má ta còn không hiểu ngươi tưởng dễ lắm sao?
Tư Không Huyền lại nghe tứ phía có tiếng người rên rỉ, cực kỳ thê thảm vì
bị rắn cắn thì nghĩ thầm rằng: “đây là loại rắn độc kỳ dị, nó làm cho người
ta nhức nhối phi thường không thì làm gì bọn hảo hán này phải rên xiết như
thế? Cả những khi gặp trường hợp phải chặt cụt tay, cụt chân họ còn có thể
nghiến răng chịu đựng chứ có thèm mở miệng than thở bao giờ đâu? Bọn
này đã đuợc người xung quanh đem thuốc trừ rắn độc thoa đắp, song họ vẫn
rên la hoài. Rõ ràng là thuốc của mình chỉ công hiệu với loại rắn thường,
còn đối với con kim linh này chẳng ăn thua gì”. Lão nghĩ vậy căm giận vô
cùng, trừng mắt nhìn Chung Linh quát hỏi lần nữa:
– Cha mi là ai? Phải nói cho mau!
Chung Linh đáp:
– Ngươi cố tình muốn ta phải cho ngươi biết danh tính ba ta ? Thế ngươi
không sợ sao?
Tư Không Huyền sực nhớ đến chuyện “Vũ huyệt tứ linh” và liên tưởng đến
tên một người nghĩ thầm: “Chẵng lẽ chính y đã nuôi Vũ huyệt tứ linh?
Chẳng lẽ y chưa chết sao? Nếu quả y trá tử để mai danh ẩn tích mà mình
đem tên tuổi y nêu ra, tất nhiên y sẽ không để mình yên”.
Chung Linh thấy nét mặt Tư Không Huyền thoáng qua một cơn hoảng hốt
thì trong lòng rất khoan khoái, nàng nói:
– Ngươi mau thả chúng ta ra, để ba ta khỏi đến phiền trách ngươi.
Tư Không Huyền đầu óc tính toán rất mau lẹ: “bây giờ mình thả con này ra,
nếu ba nó quả là thằng cha đó, thế nào y cũng mở cuộc điều tra, một khi y
biết rõ mình tò mò đến việc bí mật của y, không khi nào y chịu để mình
sống mà phải giết mình đi cho khỏi lộ chuyện. Trái lại nếu mình giết con
nhỏ này đi thì đồng đảng mình khó lòng sống được, đằng nào cũng dở”. Sau
y tắc lưỡi một cái tự nhủ: “Hừ nhỏ nhen há phải trang quân tử? Không ác
sao thành kẻ trượng phu? Thà rằng để đám thủ hạ của mình chịu chết còn
hơn thả hổ về rừng, rước lấy tai hoạ. Nghĩ vậy lão ngấm ngầm vận nội công
vào bàn tay, nhằm đỉnh đầu Chung Linh đánh xuống.
Chung Linh thấy lão đột nhiên biến sắc, biết ngay mình sắp bị nguy, lại
thấy lão giơ tay trái đánh xuống, vội rú lên:
– ối ối! đừng đánh!
Tư Không Huyền khi nào chịu thôi. Tay lão đánh xuống chỉ còn cách đầu
Chung Linh chừng một thước, bất thình lình lão thấy sau gáy mình bị đau
nhức không biết bị vật chi cắn vào nên bàn tay đó tuy đánh xuống đỉnh đầu
Chung Linh nhưng nội công đã bị tiêu tán, chẳng khác gì xoa đầu đứa trẻ
mà thôi.
Tư Không Huyền bị rắn cắn, sợ hết hồn vội vận khí ra trấn giữ trái tim, tay
phải vứt bó đuốc xuống đất, thò tay phải về phía sau bóp cổ chặt. Bỗng
nhiên cườm tay lại thấy tê nhức, thì ra con Kim linh bị vùi trong đám đất từ
nãy, lách mãi bò ra được, nhân lúc kẻ thù của chủ nó không kịp đề phòng
nhảy đến đớp.
Tư Không Huyền liên tiếp bị rắn cắn luôn hai miếng thì chẳng còn hồn vía
nào nữa, ngồi bệt xuống đất, vận động nội công khu trừ nọc độc.
Thủ hạ Tư Không Huyền vội xúc đất đổ lên mình con Kim linh. Kim linh
nhảy xông lên đớp ngã một tên rồi chạy trốn, chui vào đám cỏ rậm, chỉ thấy
ánh vàng nhấp nháy mấy cái trong bóng tối rồi mất hút.
Những kẻ tả hữu Tư Không Huyền vội lấy thuốc chữa rắn độc trong uống,
ngoài thoa, hầu hạ, chạy chữa cho chủ, lại lấy sâm Dã sơn nhét vào miệng
cho lão thêm khí lực. Đồng thời Tư Không Huyền đề khí để chống lại hai
chỗ rắn cắn. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc, vì không chịu nổi nữa, lão rút
đoản đao bên mình ra chém một nhát, cổ tay đứt lìa, rơi ra. Thật là:
“Muốn ngăn nọc độc vào tim phổi
Tráng sĩ già gan chặt cẳng tay”
Song cổ tay chặt bỏ đi còn được, chứ vết cắn sau gáy thì không thể nào chặt
bỏ cổ đi được. Bọn thủ hạ thấy chủ chặt cụt cổ tay, đều ghê rợn hãi hùng,
vội lấy thuốc dấu rịt vào. Nhưng máu tuôn ra như suối thuốc rịt vào lại bị
trôi đi. Một tên xé vạt áo hết sức buộc chặt cánh tay chủ, máu chảy ra từ từ
rồi ngừng hẳn.
Chung Linh thấy cảnh rùng rợn này cũng phải phát khiếp, sắc mặt tái mét,
không dám lên tiếng.
Tư Không Huyền cất giọng trầm trầm hỏi:
– Con rắn nhỏ sắc vàng đó có phải là con Kim linh trong “Vũ huyệt tứ linh”
không?
Chung Linh gật đầu đáp:
– Chính phải đó
Tư Không Huyền lại hỏi:
– Người bị rắn cắn đau nhức bảy ngày rồi mới chết phải không?
Chung Linh gật đầu. Tư Không Huyền sai thủ hạ:
– Đem thằng nhỏ ra đây!
Thủ hạ vâng lời, bới đống đất lẫn đá lôi Đoàn Dự ra.
Chung Linh vội kêu lên:
– Đừng, đừng! Việc này không can dự gì đến Đoàn huynh, đừng gia hại đến
anh.
Nàng vừa nói vừa toan vùng dậy. Bọn Thần Nông vội xúc đất lấp lên lỗ
hổng vừa kéo Đoàn Dự ra. Chung Linh lại không cựa quậy được nữa. Nàng
trông thấy Tư Không Huyền muốn giết Đoàn Dự bất giác khóc rống lên.
Chính Đoàn Dự tuy trong lòng cũng sợ hãi vô cùng nhưng ngoài mặt vẫn
gượng trấn tĩnh mỉm cười nói:
– Chung cô nương! Đại trượng phu coi cái chết như trở về nơi cực lạc. Trước
mặt đám ác ôn này ta không nên tỏ ra khiếp nhược.
Chung Linh nói:
– Tôi không phải là đại trượng phu. Tôi chả coi cái chết như về nơi cực lạc
đâu.
Tư Không Huyền vẫn một giọng trầm trầm sai thủ hạ:
– Các ngươi lấy “Đoạn trường tán” cho thằng nhỏ này uống và theo cân lạng
cho y chỉ có thể chịu đựng được trong bảy ngày.
Thủ hạ lấy ra một thứ thuốc tán sắc đỏ bắt Đoàn Dự uống một nửa bình.
Chung Linh vội kêu lên rằng:
– Thuốc độc đó, Đoàn huynh chớ uống!
Từ lúc Đoàn Dự nghe thấy tên Đoạn trường tán đã biết ngay là thuốc độc.
Nhưng nghĩ mình đã ở tay người, không uống cũng không xong, thản nhiên
cầm lấy uống, chàng lấy đầu lưỡi nếm mùi, cười mà rằng:
– Ngọt đây mà Tư không bang chúa! Ngươi uống một nửa bình này đi mà
chơi!
Tư Không Huyền cả giận “hừ” một tiếng.
Chung Linh đang nước mắt ròng ròng cũng phải phì cười nhưng rồi nàng lại
bật tiếng khóc ngay.
Tư Không Huyền nói:
– Thuốc đoạn trường tán này uống sau bảy ngày chất độc mới ngấm vào,
làm cho ruột đứt từng khúc mà chết, bây giờ mi phải đi lấy thuốc để giải
nọc rắn trong bảy ngày, bảy đêm về đây cho ta thì ta sẽ giải độc cho mi.
Chung Linh nói:
– Chỉ có mình ba ta vận động nội công mới giải được nọc độc con kim linh
chứ làm gì có thuốc?
Tư Không Huyền nói:
– Nếu vậy thì phải mời cho được ba mi tới đây giải cứu mi chứ sao.
Chung Linh nói:
– Ngươi nói coi bộ dễ dàng lắm nhỉ. Ba ta có chịu ra khỏi núi bao giờ đâu.
Ba ta đã quyết định không rời khỏi cửa hang nửa bước.
Tư Không Huyền nghĩ thầm: “con bé nói câu này là đúng sự thực rồi”. Lão
trầm ngâm chưa trả lời thì Đoàn Dự đã nói:
– Thế thì kéo cả đến tư phủ Chung cô nương xin tôn đại nhân giải cứu cho
có mau hơn không?
Chung Linh gạt đi:
– Không được! Ba tôi đã có lời nguyền: bất luận kẻ nào, hễ đã bước chân
vào hang núi chỗ ba tôi ở nhất định là phải chết.
Tư Không Huyền thấy chỗ sau gáy bị rắn cắn mỗi lúc một thêm nhức nhối,
ngứa ngáy rất là bứt rứt khó chịu, nổi giận nói:
– Ta chẳng thèm nói nhiều lời nữa. Mi không đi mời được ba y thì thôi, ta
cho chết ráo cả một mẻ.
Chung Linh nghĩ một lúc rồi bảo:
– Ngươi thả ta dậy để ta viết thư mời ba ta đến đây. Ngươi cho thằng nào
không sợ chết cầm đi.
Tư Không Huyền nói:
– Ta bảo thằng nhỏ họ Đoàn này đi, hà tất phải sai ai?
Chung Linh nói:
– Ngươi không nhớ gì cả. Ta đã bảo: bất luận kẻ nào đã bước chân vào chỗ
ở ba ta đều phải chết mà. Ta không muốn cho Đoàn huynh ta chết nghe
chưa?
Vẫn một giọng trầm trầm Tư Không Huyền nói:
– Y đã sợ chết, thủ hạ ta há không sợ chết sao? Tuỳ đấy, không đi thì thôi,
rồi xem bọn mi chết trước hay ta chết trớc?
Chung Linh nghẹn ngào nói:
– Lão già râu dê kia! Ngươi chỉ ráng bắt nạt đưbợc tiểu cô nương, không cần
giữ thể diện nữa ? Chuyện này khách giang hồ biết ra thì thanh danh ngươi
sẽ bị tiêu tan vì có những hành vi đê mạt, chẳng anh hùng hảo hán chút nào.
Tư Không Huyền chỉ để tâm vận nội công, ngăn ngừa nọc độc, không nói gì
nữa. Đoàn Dự khẳng khái nói:
– Chung cô nương ơi! Để tôi đi được mà! Lệnh tôn thấy tôi đến cầu người đi
cứu cô nương tất không gia hại đâu mà sợ.
Chung Linh lộ vẻ vui mừng nói:
– Được rồi anh ơi! Tôi nghĩ được kế này có thể vẹn toàn. Anh đừng nói rõ
với ba tôi là tôi ở tại đây, nếu giết anh đi thì không biết đâu mà tìm tôi. Khi
anh đưa ba tôi tới đây rồi phải chuồn đi tức khắc không thì anh sẽ nát ra như
cám đó.
Tư Không Huyền trỏ tay về hòn núi góc tây bắc nói:
– Ta phái người đem thuốc ra chờ ở đó, Đoàn quân chạy trốn đến phía sau
hòn núi này, sẽ có người đưa cho.
Tư Không Huyền thấy Đoàn Dự chịu đi mời người cứu mạng cho bọn lão,
lão đã đổi cách xưng hô ra chiều nhã nhặn. Lão nói xong truyền lệnh cho
thủ hạ bới đất kéo tay Chung Linh ra, lấy vòng sắt xích hai tay nàng lại rồi
mới cào nốt chỗ đất lấp phần dưới thân thể nàng, bỗng thấy con Thanh linh
dắt sau lưng Chung Linh ngọ ngậy, ngoài ra các con rắn khác đều bị chết
ngộp chết.
Chung Linh hỏi:
– Ngươi không cởi tay cho ta làm sao ta viết thư được?
Tư Không Huyền đáp:
– Gớm cái cô này mới quái gở chứ! Việc gì phải viết thư? Lại định giở trò
đấy chứ gì? Cô cứ đưa đồ vật gì giắt bên mình cho Đoàn quân cầm đi làm
tin là mời được lệnh tôn ngay.
Chung Linh nói:
– Ta rất ghét viết lách. Ngươi nói ta khỏi phải biên thư thì còn gì bằng?
Nhưng ta có vật gì để cầm đi làm tin đâu? à phải! Đoàn huynh cởi con
Thanh linh đưa về cho ba tôi.
Đoàn Dự nói:
– Không được! Nó không chịu nghe lời tôi, giữa đường nó đợp một cho
miếng là rồi đời.
Chung Linh tươi cười nói:
– Trong túi áo tôi có cái hộp nhỏ, anh móc ra đây!
Đoàn Dự đưa tay ra sờ vào áo nàng, bỗng nhiên vội rụt tay lại, tự biết mình
thò tay vào bụng một thiếu nữ là rất vô lễ. Chung Linh lại không cảm giác
như thế, bảo chàng:
– Đúng rồi, túi áo ở bên trái này.
Đoàn Dự nghĩ rằng tai hoạ đến nơi, trong lúc nguy cấp này, tiểu cô nương
thật là người quyền biến, bỏ hết tỵ hiềm giữa hai bên nam nữ, lẽ đâu mình
còn câu nệ? Thế rồi chàng lùa tay vào bụng nàng, sờ thấy một vật tròn tròn,
nóng nóng liền móc ra.
Chung Linh nói:
– Trong cái hộp bằng ngọc này có đựng một vật kỵ cả hai con kim linh và
thanh linh. Nếu con thanh linh không chịu nghe lời anh cầm cái hộp này giơ
ra trước đấu nó, tự nhiên nó không làm dữ. Đoàn Dự theo lời nàng, cầm cái
hộp giơ lên bên đầu con thanh linh lắc lắc, trong hộp phát ra thứ tiếng kỳ dị,
quả nhiên nó chùn lại lập tức, dường như sợ hãi lắm.
Đoàn Dự lấy làm thú vị nói:
– Tôi thử xem trong có vật gì nào?
Chàng toan mở nắp hộp ra coi, Chung Linh vội ngăn lại bảo:
– ấy chớ, nắp hộp này không mở được đâu!
Đoàn Dự hỏi:
– Sao vậy?
Chung Linh ngoảnh mặt về phía Tư Không Huyền đưa mắt cho chàng nói:
– Đó là một điều bí mật không thể để người ngoài nghe được. Khi anh trở về
tôi sẽ nói cho anh biết.
Đoàn Dự nói:
– à ra thế đấy! Rồi chàng cầm hộp sang tay trái, còn tay phải lần vào sau
lưng Chung Linh cởi con thanh linh ra quấn vào lưng mình. Con thanh linh
ngoan ngoãn để chàng muốn làm gì thì làm, không hề phản kháng. Đoàn
Dự cả mừng nói:
– Con rắn này hay tuyệt.
Chung Linh dặn thêm:
– Lúc nào đói bụng, nó tự biết đi kiếm chẫu chàng ăn mà ăn, anh không
phải lo gì cho nó cả. Anh xuỳ một hơi là sai nó đớp người, huýt sáo ba tiếng
“pho pho pho” là gọi nó về.
Dặn xong nàng xuỳ, huýt sáo. Đoàn Dự rất lấy làm thú vị, học tập mãi.
Tư Không Huyền đang đau, nghe hai người bàn tán nói nói, cười cười lại
càng tức bực nghĩ thầm: “Hai đứa nhỏ này không còn biết tý gì cả, đã chết
đến gáy rồi còn đùa giỡn với rắn rết”. Bất giác lão quát lên:
– Đoàn quân không đi chóng lên rồi mà về? Tánh mạng bọn ta nguy trong
sớm tối, nếu dọc đường còn xảy chuyện rắc rối là chết ráo. Chung cô nương
từ đây đến quý phủ, vừa đi vừa về mất độ mấy ngày?
Chung Linh nói:
– Nếu đi được mau lẹ thì chỉ mất hai ngày, cùng lắm là bốn ngày Đoàn
huynh sẽ về tới.
Tư Không Huyền thấy hơi yên dạ lại giục:
– Thôi Đoàn quân lên đường đi!
Chung Linh nói:
– Ta còn phải dặn đường lối cho Đoàn huynh, các ngươi hãy tránh đi, không
được một ai nghe trộm đấy nhé!
Tư Không Huyền ra lệnh cho thủ hạ tránh đi.
Chung Linh nói:
– Cả ngươi nữa tránh đi cho ta dặn Đoàn huynh!
Tư Không Huyền ngấm ngầm nghiến hai hàm răng lại, đứng dậy vừa đi vừa
nguyền rủa: “Chờ ta khỏi vết thương rồi sẽ liệu tính cho mi. Nếu để mi yên
lành chẳng hoá ra Tư Không Huyền này sống uổng hay sao?”.
Chung Linh than thở cùng Đoàn Dự:
– Đôi ta vừa gặp gỡ đã phải chia tay rồi.
Đoàn Dự cời nói:
– Vừa đi, vừa về bốn ngày có là mấy?
Chung Linh trố mắt ra nhìn chàng một hồi rồi nói:
– Anh tới nơi phải vào ra mắt má tôi, đem hết đầu đuôi mọi chuyện thuật
cho người nghe, để má tôi truyền đạt lên với ba tôi, thế thì mọi việc mới ổn.
Nàng giơ bàn chân nhỏ xíu, vạch rõ đường lối trên mặt đất. Nhà nàng ở tây
ngạn sông Lan Thương, trong hang núi. Kể đường xá cũng chẳng bao xa
nhng địa thế rất là bí hiểm, nếu không đợc chỉ dẫn cặn kẽ thì người ngoài
quyết không thể tìm đến nơi được.
Đoàn Dự có trí nhớ dai, chàng nghe Chung Linh nói những ngã đường
chuyển từ đông qua tây, rẽ nam qua bắc nhất nhất ghi vào lòng.
Chung Linh dặn xong, chàng nói:
– Thế là xong rồi chứ? Tôi đi nhé!
Nói xong trở gót đi liền. Chàng đi được mơi bước, Chung Linh chợt nhớ ra
điều gì gọi giật lại:
– Anh hãy trở lại đây! Tôi còn dặn nữa.
Đoàn Dự quay lại hỏi:
– Còn gì nữa?
Rồi chàng toan trở gót, Chung Linh dặn với:
– Anh chớ nói thực họ Đoàn, nhất là phải dấu kín ba anh biết phép điểm
huyệt “Nhất Dương Chỉ”, vì ba tôi mà biết ra tất thay lòng đổi dạ.
Đoàn Dự cười nói:
– Được rồi! Cô nương tuy còn nhỏ tuổi mà tâm linh thật là sáng suốt.
Chàng miệng ca vang khúc hát, hiên ngang ra đi. Lúc đó trời vừa chập tối,
ánh trăng mới ló. Đoàn Dự nhờ ánh trăng trong, trông về hướng tây tiến
bớc. Tuy chàng không có võ công nhưng còn trẻ măng, sức lực dồi dào,
chân thoăn thoắt bước mau. Chàng đi được chừng mười dặm, đến sau ngọn
cao nhất núi Vô Lượng, bỗng nghe tiếng nước chảy róc rách, phía trước mặt
hiện ra một lạch suối. Chàng miệng đang khát nước, lần đến bờ suối, thấy
nước trong xanh, vừa thò tay xuống toan vốc nước uống, chợt nghe phía sau
có tiếng cười khanh khách. Đoàn Dự giật mình quay đầu lại xem, thấy mũi
trường kiếm ánh sáng xanh lè, lấp loáng, chĩa vào bụng mình. Chàng ngẩng
mặt lên nhìn, té ra là Cam Nhân Hào, vẻ mặt hung dữ, đang cười ra chiều
khoái trá.
Đoàn Dự tươi cười hỏi:
– Tưởng ai hoá ra anh, anh làm tôi sợ quá, suýt ngã. Này Cam huynh, trời
tối rồi, anh còn đứng làm chi đây?
Cam Nhân Hào đáp:
– Đệ vâng mệnh gia sư đứng đây chờ Đoàn huynh. Xin mời Đoàn huynh vào
cung Kiếm Hồ cùng gia sư đàm đạo.
Đoàn Dự đáp:
– Hôm nay thì không được đâu, vì tại hạ có việc gấp phải đi ngay. Xin để
hôm khác sẽ đến vấn an.
Cam Nhân Hào đáp:
– Dù bận gì thì bận cũng xin Đoàn huynh nể mặt đệ vào một chút, kẻo gia
sư quở trách đệ.
Đoàn Dự trông hắn có vẻ mặt bất chính, trong bụng đã đoán biết ý hắn lẩm
bẩm một mình: “Không xong rồi! Nếu thằng cha này cố ý giữ mình lại,
không đi tìm được thầy về chữa rắn độc thì bấy nhiêu người đảng Thần
Nông tất không toàn tính mạng mà phái Vô Lượng trút đợc mối lo tâm
phúc”.
Rồi chàng hỏi lại:
– Sao thế huynh lại biết tạ hạ qua đây?
Cam Nhân Hào đằng hắng một tiếng rồi đáp:
– Cuộc gặp gỡ giữa các hạ và Chung cô nương với đảng Thần Nông tại hạ đã
mắt thấy tai nghe hết cả. Phái Vô Lượng cùng các hạ vốn không thù oán
quyết chẳng làm phiền gì đến các hạ đâu! Chỉ lưu tôn giá vài hôm mà thôi,
rồi sẽ lại để các hạ tự do.
Đoàn Dự nói:
– Cớ sao lại giữ tôi mấy ngày ở đây? Không thể được đâu, tôi đã uống đoạn
trường tán của đảng Thần Nông vào bụng chỉ vài hôm thuốc ngấm, đứt ruột
ra thì ở lại sao được?
Cam Nhân Hào cười nói:
– Cần gì, chỉ cần uống ít thuốc “chỉ thống” là hết đau ngay.
Đoàn Dự nghe hắn nói mà chột dạ. Trong lúc bối rối, chưa tìm ra kế thoát
thân. Theo hắn vào cung Kiếm Hồ dĩ nhiên là mình khó sống được, lại để
luỵ cho Chung Linh cùng người đảng Thần Nông, tất cả có đến 30 nhân
mạng.
Cam Nhân Hào dí mũi thanh trường kiếm vào bụng Đoàn Dự. Đoàn Dự đã
thấy hơi đau, Cam Nhân Hào lại giục:
– Ta đi thôi! Dù anh không muốn vào cũng bắt buộc phải vào, thà anh cứ
vào ngay đi là hơn.
Đoàn Dự nổi giận nói:
– Ngươi muốn giết ta phải không?
Cam Nhân Hào đáp:
– Gã họ Đoàn kia! Đã bôn tẩu giang hồ sao ngươi còn coi tính mạng to thế?
Ngươi chẳng xứng đáng là người gan dạ chút nào.
Bỗng đánh “roạc” một tiếng, mũi kiếm nhọn đã đưa từ trên ngực xuống đến
bụng dưới, làm cho áo chàng xẻ thẳng một quãng dài đến hai thước.
Cam Nhân Hào quả đáng là cao đồ phe đông phái Vô Lượng, đường kiếm đi
đúng mức không sai một ly. Đoàn Dự chỉ rách áo chứ không sây sát chút
nào. Chàng thấy gió thổi vù vù vào bụng giá lạnh, vội kéo hai bên vạt áo lại
cho khỏi hở bụng.
Cam Nhân Hào cười nói:
– Da thịt ngươi trắng mịn, trông giống con gái như hệt.
Rồi bỗng hắn lại trở bộ mặt hung dữ, giục:
– Nếu không đi mau, lão gia điên tiết lên, sẽ băm mặt ngươi ra.
Đoàn Dự không sao được đành đi theo hắn, định để giữa đường sẽ liệu xem
có kế nào thoát thân được chăng. Chàng vừa đi vừa khép áo lại nói:
– Ta mà biết trước phái Vô Lượng các ngươi độc ác thế này thì để mặc đảng
Thần Nông dồn hơi độc cho chết hết, chẳng hoài hơi can thiệp làm gì.
Cam Nhân Hào thét lên:
– Ngươi ba hoa gì vậy? Phái Vô Lượng ta toàn là những tay anh hùng hảo
hán, há sợ lũ Thần Nông vô liêm sỉ?
Lại một nhát kiếm nhằm sau lưng Đoàn Dự chém xuống, bỗng nghe đánh
chát một tiếng, mũi kiếm bị chặn lại. Đoàn Dự vụt nhớ ra nhủ thầm: “ừ nhỉ!
Sao ta không kêu con thanh linh giúp ta một tay”. Chàng liền chúm miệng
theo cách Chung Linh đã dạy, huýt lên một hồi. Con thanh linh nhoai đầu ra
nhảy tới trước mặt Cam Nhân Hào. Gã trông thấy giật mình, chạy giật lùi
lại, con thanh linh đớp không trúng, xoay mình toan nhảy sang đớp tay gã.
Cam Nhân Hào đã biết con rắn này lợi hại thế nào rồi. Đến ngay thanh
trường kiếm của sư phụ gã còn bị nó vặn gãy nên vội nhảy sang bên né
tránh.
Sở dĩ con thanh linh đớp sểnh hai lần là vì Đoàn Dự chưa biết huy động nó:
khi sai đi tấn công, chàng quên thả nó ra đã huýt sáo, thành ra quá phần nửa
còn quấn ở lng mình nên nó không được linh hoạt cho lắm và không nhoai
được tới kẻ địch.
Đoàn Dự thấy Cam Nhân Hào đã tránh xa, nghĩ bụng: “không thừa lúc này
chuồn đi còn đợi đến bao giờ?”. Liền nhằm phía tây mà chạy. Cam Nhân
Hào quay gót đuổi theo, vừa chạy vừa la:
– Trong mình ta có thuốc kỵ rắn. Con rắn xanh kia làm gì nổi ta? Mi có
chạy dằng trời!
Nói vậy thì nói nhưng vẫn không dám đuổi sát đến nơi. Đoàn Dự chạy được
nửa dặm nhọc, thở phì phì. Cam Nhân Hào mau lẹ dị thờng: tay trái gã bẻ
một cành cây dài, vừa đuổi vừa nhằm sau lưng chàng mà quất. Đoàn Dự
trong khi nguy cấp thì may sao phúc đáo tâm linh, sực nhớ lại cách điều
động con thanh linh là phải cởi nó ra rồi mới huýt sáo. Chàng liền quay lại
phía sau, dùng hết sức quăng con thanh linh ra. Nó chưa nhoai tới thì Cam
Nhân Hào nhanh mắt trông thấy, né tránh kịp rồi đuổi chầm chậm cho cách
xa thêm. Gã nghĩ thầm: “Anh chàng công tử bột này chẳng biết tý võ công
nào, mình cứ đuổi cho y mệt dần, chỉ lúc nữa là y kiệt lực cũng đủ chết. Bị
Cam Nhân Hào đuổi phía sau, Đoàn Dự cắm đầu chạy thẳng về phía Tây.
Chừng một khắc, chàng nhọc quá, thở không ra hơi, càng chạy lòng càng
phiền não, nghĩ thầm: “Nếu mình bị bắt, tất Chung cô nơng không thể
thoát chết đợc thì mình còn mặt mũi nào mà trông thấy ai nữa?”. Trong lúc
hoang mang, chàng chẳng để ý gì đến đường lối, cứ nhằm rừng cây rậm rạp
chạy vào hòng thoát thân. Cam Nhân Hào đuổi một lúc nữa, bỗng nghe
tiếng nước chảy róc rách, sóng vỗ ỳ ầm như nước triều dâng. Gã ngửng đầu
lên thấy về góc Tây bắc dường như một giải ngân hà lơ lửng không gian: đó
là dòng thác lớn từ trên sườn núi cao đổ xuống. Gã liền dừng bước cất tiếng
gọi:
– Đoàn tiểu tử! Phía trước là cấm địa phái ta. Mi chỉ đi mời trượng nữa là
chết không có chỗ mà chôn.
Đoàn Dự cả mừng nghĩ thầm: “nếu là cấm địa của phái Vô Lượng, tất y
không dám xông vào đuổi theo nữa. Còn mình đây đã đến bớc đường cùng
thì sợ cóc gì? Nghĩ vậy chàng phấn khởi trong lòng, chạy nhanh hơn trước.
Cam Nhân Hào lại gọi giật giọng:
– Phải đứng lại ngay! Mi muốn chết hay sao mà cứ xông vào cấm địa?
Đoàn Dự cười đáp:
– Vì ta muốn sống nên mới phải trốn chạy chứ.
Chưa dứt lời, bất thình lình chân chàng bớc hẫng. Vì chàng không có võ
nghệ lại đang lúc chạy miết nên không dừng lại kịp. Chàng vừa kêu lên
được một tiếng “chết rồi” thì người đã rơi vào quãng không đến quá mười
trượng. Cam Nhân Hào đuổi đến ven núi, nhìn xuống thấy một làn khói
trắng bao phủ đầy khe, mờ mịt chẳng biết đến đâu là cùng. Gã nghĩ bụng
Đoàn Dự đã lăn xuống đây tất phải tan xương nát thịt rồi. Ngay chỗ chân gã
đứng cũng đã thuộc phạm vi cấm địa nên không dám chần chừ, quay gót trở
về trình sư phụ.
Đoàn Dự từ sườn núi rơi xuống, chơi vơi giữa quãng không, hai tay vung
vẩy loạn lên, cầu mau bấu víu đợc cái gì chăng. Chàng lăn xuống đến hơn
trăm trợng nữa thì phúc làm sao, con thanh linh, từ lúc nhoai ra phía sau
để toan đớp Cam Nhân Hào, Đoàn Dự vẫn chỉ cầm khấu đuôi, vướng vào
cây thông ở sườn núi, mọc đâm ngang ra. Nó khôn ngoan quấn rất mau
khúc đầu vào cành cây mấy vòng. Đoàn Dự thấy mình đang rơi xuống bỗng
nhiên dừng lại liền nắm chặt thêm khấu đuôi con thanh linh, nhnưg rồi mỏi
tay quá, không chịu nổi, toan buông đuôi rắn ra. Con Thanh linh thật vô
cùng linh diệu, nó biết trước, liền co khấu đuôi lại, quấn chặt lấy tay chàng
mấy vòng. Bỗng chàng kêu to lên một tiếng “ối chao ôi” vì bị treo lơ lửng,
xương cánh tay phải chàng bị sai khớp. Thân thể con thanh linh bền dai lạ
thường, con người nặng nề thế, lại còn lúc la lúc lắc mà nó chịu đựng được.
Đoàn Dự cúi đầu nhìn xuống, mây phủ mịt mờ, trông chẳng thấy khe đâu.
Chàng toan bám vào thân con thanh linh để trèo ngược lên như leo dây,
song tay phải bị sai khớp, đau đớn vô cùng, không tài nào leo lên được. Còn
đang lúng túng chưa biết làm thế nào, thân chàng vẫn đu qua đu lại, bỗng
chạm vào vách núi, chàng đưa tay trái ra bám trúng một cành cây ngắn, hai
chân quờ quạng tìm được chỗ đứng. Bấy giờ mới hoàn hồn, chàng nhìn kỹ
sườn núi thấy một chỗ nứt toạc khá lớn nên hai bên có những mỏm đá lồi
ra, có thể bấu víu vào để lần xuống. Chàng đứng thở một lúc rồi nghĩ bụng
rằng:
– Nếu cứ đứng đây, không tìm đường lên hay xuống cũng không xong. Trèo
lên quyết là không được rồi, chỉ còn cách lần mò xuống đáy khe rồi sẽ tìm
đường trở ra. Tuy là chàng thư sinh yếu ớt nhưng chàng rất gan dạ, tự nhủ:
“Xét cho cùng đã không giữ được toàn tính mạng thì chết ở đâu cũng thế.
Cái chết đối với bậc đại trượng phu nào có nghĩa lý gì?” Chàng liền thổi
tiếng sáo miệng thu con thanh linh về.
Thanh linh nghe hiệu, buông cành cây ra, cuộn tròn mình lại nằm trong tay
Đoàn Dự. Chàng quấn một đầu rắn vào cành cây dưới gốc, rồi tay trái bám
lấy mình rắn, tựa như vịn vào sợi dây dài, lần lần từng bước đi xuống. Cứ
bám gần hết mình con rắn thì chàng lại đạp chân vào một mấu đá chìa ra,
dừng lại để thu rắn về. Mỗi lần tụt xuống như thế chàng lại khoan tâm thêm
đợc một chút. May mà sườn núi càng xuống dưới càng xoải dần không
đứng dựng nh ở trên cao nữa. Sau chàng không phải vịn vào con thanh
linh, tự mình vừa quay trở vừa bấu víu vào sườn núi bước lần xuống. Chợt
thấy tiếng bì bõm, càng xuống thấp lại càng nghe rõ. Chàng không khỏi giật
mình kinh hãi nghĩ thầm: “dưới này dường nh có vũng nớc xoáy, sóng
đánh lật ngược lại, chỉ gặp một cơn sóng to là nát thân. Bỗng thấy những
giọt nước trong như hạt ma rào bắn tung lên đập cả vào mặt mũi rát rạt.
Thời khắc không cho phép chàng có đủ thì giờ để suy tính nữa. Trong
khoảnh khắc xuống đến đáy khe, chàng đứng thẳng người lên bất giác cất
tiếng khen: “Đẹp quá!”. Bên tả sờn núi, giải thác nước lớn trắng phau,
trông tựa như một con rồng treo lơ lửng trên không, cuồn cuộn đổ xuống
một cái hồ trong vắt, rộng bao la, trông không thấy bờ bên kia. Tuy thác
nớc chảy suốt ngày đêm xuống mà không bao giờ hồ đầy tràn cả, dường
như có chỗ rút nớc đi. Trên mặt hồ chỉ chỗ thác đổ vào là nớc chảy quanh
co, sóng vỗ bì bùm, còn ngoài xa từ hơn mời trượng trở đi lại phẳng như
một tấm gương khổng lồ.
Đứng trước phong cảnh kỳ tuyệt của tạo hoá, Đoàn Dự ngây ngời, trố mắt
ra mà nhìn, thầm khen ngợi phong cảnh hùng vĩ. Chàng đa mắt nhìn chếch
sang bên: trên bờ hồ hoa Trà trùng điệp, những bông lớn bằng miệng bát.
Trà Vân Nam có tiếng vào bậc nhất thiên hạ nhưng so với hoa trà bờ hồ này
còn kém phần rực rỡ nhiều. Thật là một thứ hoa trà kỳ lạ, chàng chưa từng
thấy bao giờ.
Đoàn Dự mải say mê cảnh đẹp, nhìn ngắm hồi lâu mới cảm thấy tay đau vì
trật khớp xương. Chàng xắn tay áo lên mà than rằng: “Đốt xương ơi là đốt
xương! Giả sử mi ăn khớp với nhau thì ta đâu phải đau đớn thế này? Mi chỉ
trật ra ngoài đầu đốt một chút là con người đã thành ra sống dở chết dở”.
Thế rồi chàng nghiến răng, lấy tay trái giật một cái thật mạnh, phát ra tiếng
kêu “lục cục”. Đầu xương cánh tay phải trật ra lại in vào khớp. Tuy nhiên
chàng cảm thấy đau nhói hơn trước. Đau thì đau nhưng tay đã cử động được
như thường. Đoàn Dự cả mừng, mặc dù vất vả lo lắng mất quá nửa ngày
nhưng giờ toàn thân chàng thấy rạo rực cả lên vì sung sướng đã thoát khỏi
mấy lần gặp tai nạn chết người. Không biết trò chuyện cùng ai, chàng nằm
nghỉ trên đám cỏ, trở mình vài lần rồi vỗ vào lưng con thanh linh mà nhủ
rằng:
– Thanh linh hỡi thanh linh! Bữa nay không được mi cứu mạng cho ta thì
bây giờ ta đã sang bên thế giới cực lạc rồi còn gì. Từ đây trở đi, ta sẽ bảo
tiểu thư của mi đãi mi rất tử tế mới phải.
Nói rồi chàng cảm thấy khát nước, liền chạy ra bờ hồ vốc nước lên uống.
Nước hồ mới ngon ngọt làm sao. Uống tới đâu thấy mát mẻ tới đó. Tinh
thần đã tỉnh táo, chàng nhớ đến công việc cần kíp, phải mau tìm lối ra đi.
Chàng nghĩ: “Cam Nhân Hào ở trên núi này đã lâu, gã mà đến đây thì ta
khó lòng thoát khỏi bàn tay tàn bạo. Chàng liền men bờ hồ đi tìm lối ra. Cái
hồ này hình bầu dục, có đến phần nửa ẩn vào các bụi cây um tùm. Đoàn Dự
quanh về mé đông theo đường vành thúng đi được chừng ba dặm. Mé đông
nam cũng như mé tây bắc, sườn núi đều dựng đứng, tuyệt không có đường
nào ra được. Duy chỗ chàng xuống vừa rồi là sườn núi thoải hơn cả, ngoài
ra không còn nơi nào có thể trèo lên được.
Khe núi im lặng như tờ, đừng nói vết chân người, ngay loài dã thú cũng
không thấy bóng một con nào cả. Thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng chim kêu từ
đằng xa đa lại mà thôi. Nhìn cảnh tượng này, Đoàn Dự lại buồn thiu.
Chàng nghĩ thầm: “dù mình chết đói ở đây cũng chẳng cần gì nhưng chỉ sợ
Chung cô nương thiệt mạng thì mình còn mặt mũi nào mà trông thấy ai
nữa?”.
Chàng ngồi bờ hồ, nét mặt đăm chiêu. Hồi lâu chàng tự nhủ: “Chẳng qua tại
mình hoảng hốt chưa tìm ra mà thôi, thế nào cũng có con đường nhỏ ở phía
sau rừng cây kia mới phải”. Nghĩ vậy chàng cao hứng, vừa cất tiếng hát
vang, vừa men theo bờ hồ để tìm lối ra.

Hết Chương 3

Hết Hồi 3

===============================================================

Chương 4

HỒI 4
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao


Kim Dung

Lần này Đoàn Dự men theo bờ hồ, xem xét kỹ càng, lách cả vào những nơi
mịt mờ, rậm rạp. Song sau bao nhiêu đám hoa cỏ, cây cối um tùm, chỗ nào
cũng vách đá kiên cố, dựng đứng lên cao ngất trời. Đừng nói đường lối đi
ra, cả đến một hang dã thú hay một lỗ rắn chui cũng không có. Giọng hát
mỗi lúc một thấp, đầu óc mỗi lúc một nặng trịch. Chàng quay trở về đến
chỗ thác nước thì cặp giò đã mỏi nhừ, ngồi phịch xuống đất, vẻ mặt bơ phờ
mệt nhọc.
Trong lúc thất vọng, chàng đâm ra nghĩ vơ vẩn, ước ao biến thành con cá,
lội ngược dòng thác lên chơi đỉnh núi. Thế rồi chàng để ý ngắm kỹ thác
nước từ dưới lên, chợt thấy mé hữu có một phiến đá sáng bóng như ngọc,
chàng suy luận ra rằng: hàng ngàn vạn năm trước kia thác nước này lớn hơn
bây giờ nhiều, dòng nước chảy xiết đã lâu năm lắm mài mặt đá phẳng lỳ, và
mãi về sau dòng thác hẹp lại, tảng đá trong suốt như thuỷ tinh, bóng loáng
như gơng đồng đó mới chìa lên.
Đoàn Dự chợt nhớ ra Song Thanh đạo cô, chưởng giáo phe tây phái Vô
Lợng, lúc thua cuộc đấu kiếm nội bộ với phe đông có hỏi móc Tả Tử Mục,
chưởng giáo phe thắng cuộc rằng: “Mấy năm nay việc nghiên cứu của sư
huynh ở cung Kiếm Hồ về phiến ngọc bích đã được tường tận cha?”. Rồi
Tả Tử Mục vẻ mặt tức giận, trách Song Thanh đạo cô đã quên cả luật lệ,
đem việc bí mật của bổn phái ra đề cập trước mặt người ngoài nên đạo cô
không dám hỏi gì nữa. Chàng nhớ cả việc đảng Thần Nông thâm thù phái
Vô Lượng về việc không cho ra phía sau núi hái thuốc. Nhưng xét cho cùng,
nếu phía sau núi Vô Lượng chỉ toàn núi non trùng điệp, hoang sơn dã lĩnh
thì có quan hệ chi? Sẵn trí minh mẫn chàng đâm ra nghi ngờ, rồi chàng đem
tất cả mọi điều mắt thấy tai nghe từ khi tới cung Kiếm Hồ ra suy ngẫm: lúc
nàng Chung Linh đề cập tới hai chữ “ngọc bích” Tả Tử Mục giải thích hàm
hồ “Hay là trong núi Vô Lượng có thứ ngọc quý báu gì chăng?” thế rồi nàng
cười lạt mãi. Nay xem ra thì chữ bích đó không phải là ngọc mà nghĩa là
vách. Ngọc bích là phiến đá vách núi trong như ngọc. Hơn nữa phiến ngọc
bích đó lại ở phía sau núi Vô Lượng thì rõ ràng có một mối quan hệ rất lớn
đến mọi điều bí ẩn của phái Vô Lượng.
Đoàn Dự liên tưởng đến lúc mình sắp lăn xuống vực thẳm, Cam Nhân Hào
còn gọi giật lại bảo đây là cấm địa của phái Vô Lượng, cố ý ngăn lại không
cho vào. Đoạn chàng ôn lại việc trước: lúc mình theo Mã Ngũ Đức đến cung
Kiếm Hồ, có lần mình đã hỏi Mã tiên sinh vì sao cứ năm năm lại có một
cuộc tỷ thí nội bộ giữa ba phe: đông, nam, bắc phái Vô Lượng và phe thắng
cuộc ở lại năm năm để làm gì? Thì tiên sinh lắc đầu đáp: “đó là một điều bí
mật trọng đại của môn phái Vô Lượng, người ngoài không ai hiểu được”.
Rồi mình không tiện hỏi vặn nữa.
Sau khi sắp đặt những đầu mối với nhau và suy luận, chàng tỉnh ngộ đoán ra
rằng: trên phiến đá vách núi kia hẳn có khắc những điều bí mật về kiếp
pháp. Sở dĩ đời trước phái Vô Lượng có đặt ra lệ một trong ba phe thắng
cuộc đấu kiếm được ở cung Kiếm Hồ năm năm là để kháp phá điều bí ẩn
đó. Chàng đoán ra điểm chính yếu này tự nhiên sẽ tìm được lời giải đáp các
nghi vấn khác: vì sao mà các phe phải gắng tranh đấu cho được ở cung
Kiếm Hồ? Vì sao không thuận cho đảng Thần Nông ra phía sau núi hái
thuốc? Vì sao khu này đặt vào khu cấm địa bất khả xâm phạm? Vì sao Song
Thanh đạo cô đề cập đến việc nghiên cứu kiếm pháp? Vì sao Tả Tử Mục
tìm câu giải thích hàm hồ?
Từ thuở nhỏ Đoàn Dự đã được thấm nhuần sâu xa Phật học và Nho học,
chàng vốn ngán ngẩm nghề võ. Phen này cũng vì không chịu học võ mà
phải bỏ nhà bỏ cửa ra đi. Trong một ngày trời, nào bị cực nhục nào bị ép
uống thuốc độc mà đều do bọn võ biền khinh khi, ức hiếp chàng cả nên
chàng càng ghét cay ghét đắng môn học bất lương này. Đồng thời chàng
ghét luôn cả phiến đá có liên quan đến nghề võ. Chàng bèn ngoảnh mặt đi,
chẳng muốn nhìn nó làm chi nữa. Chàng kết luận: tất cả những cuộc tranh
giành, xáo trộn ở trên đời đều do võ lực mà ra. Phải chi trên phiến ngọc
bích kia có ghi khắc những bí quyết vô địch về võ công thì nó sinh ra mối
tai vạ cho người đời mà thôi, so với con Kim linh và Đoạn trường tán thì nó
còn tệ hại hơn nhiều.
Chàng quanh đi quẩn lại mãi trên bờ hồ, bỗng nổi tính hiếu kỳ, ngồi phân
tích giọng lưỡi của Song Thanh cùng Tả Tử Mục khích bác nhau. Dường
như bí quyết này cực kỳ nan giải, không thì sao trong năm năm trời cha
nghiên cứu được tường tận? Ta cũng muốn coi chơi thử xem có gì bí hiểm
đến thế? Nghĩ vậy chàng lại ngẩng đầu lên nhìn phiến thạch bích thì chỉ
thấy sáng bóng, tuyệt không có một dấu vết, khác nào tờ giấy trắng mà
thôi? Chẳng có bí quyết võ công, kiếm thuật hay hoạ đồ gì ráo. Đoàn Dự
nhìn thẳng, nhìn nghiêng một lúc rồi nghĩ thầm: “một là lời cố nhân nói
chưa chắc đã là sự thật, hoặc giả bậc tiền bối phái Vô Lượng muốn thêu dệt
ra trò này để khích lệ đệ tử về sau cố công luyện kiếm, hay là mình đoán
sai…”.
Đoàn Dự nhìn ngắm hồi lâu, vừa đói vừa nhọc chàng lăn ra ngủ. Sáng hôm
sau tỉnh dậy, đói như cào ruột, trong khe núi này trái cây chẳng có, rau rong
hạt dẻ cũng không. Đến tra chàng đói quá không chịu được nữa đành bẻ
nắm cánh hoa trà bỏ vào mồm nhai. Thứ hoa này sắc đẹp thế mà mùi vị lại
đắng ngắt. Nhưng đói quá, chàng phải nhai liều. ăn độ chừng tám chín chục
bông mới đỡ đói lòng được đôi chút. Chàng lại nằm liền vài tiếng đồng hồ
thì mặt trời đã xế về tây, trên mặt hồ mờ ảo nổi lên ánh cầu vồng trông tuyệt
đẹp. Đoàn Dự cho đó là do thác nước phản chiếu ánh mặt trời mà ra, chàng
nghĩ bụng lúc mình chết đến nơi, được ngắm cảnh tuyệt đẹp, tuyệt mỹ thì
trời đối đãi với mình cũng là hậu lắm, lại còn được chết bên bờ hồ hoa tươi,
cỏ đẹp thế này thật là phong nhã quá rồi. Chàng cảm thấy khoan khoái
trong lòng, ngủ đi lúc nào không biết.
Chàng ngủ một giấc dài, tỉnh dậy vào lúc nửa đêm, lại ngẩng đầu lên nhìn
phiến ngọc bích. Lúc đó trên phiến đá in hai vật rất rõ trông như người vẽ
vào, chàng ngạc nhiên tưởng mình loé mắt liền ngồi dậy, dụi mắt nhìn kỹ
lại thì rõ ràng hai cái bóng đen sì, một bóng hình cánh cung phảng phất như
hình cầu vồng lúc ban ngày, còn một bóng nữa là hình thanh kiếm lại rõ
ràng lắm, đủ cả từ chuôi kiếm, vòng đỡ tay cho đến thân kiếm, mũi kiếm
không thiếu sót chỗ nào. Chàng để tâm suy xét, đoán là phía trước phiến
ngọc bích tất có thanh kiếm thật do ánh trăng phản chiếu in hình vào đó.
Thấy mũi kiếm chỉ vào hình cánh cung, chàng chú ý nhìn hình này, càng
nhìn càng thấy rõ hệt nh hình cầu vồng. Lát sau gió thổi tan đám mây nhỏ
lảng vảng, trăng sáng vằng vặc, hình kiếm càng đen hơn trước còn hình
cung lộ ra bảy màu sặc sỡ, tầng lớp rất phân minh rõ rệt, chẳng khác chi
cầu vồng thật.
Đoàn Dự rất lấy làm kỳ tự hỏi: “Tại sao hình bóng lại có mầu sắc được?”.
Chàng đa mắt nhìn sang vách đá phía đối diện với phiến ngọc bích, thấy
lng chừng có ánh rực rỡ, chập chờn. Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ nói một
mình: “Phải rồi lưng chừng vách bên kia có đặt một thanh kiếm vào chỗ
hổng vách đá, ngoài ra còn một tảng bảo thạch lớn đủ bảy màu sắc. ánh
trăng chiếu mầu sắc bảo thạch bên kia in qua phiến ngọc bích bên này nên
hiện ra đủ màu sắc rực rỡ đẹp tuyệt.
Chỉ còn một điều rất khó là chỗ để bảo vật cao đến mấy chục trượng, thì
không có cách nào lên coi tận nơi cho biết rõ. Đứng dưới trông lên chỉ thấy
hào quang rung rinh khi ẩn khi hiện, mà nhìn sang bên phiến ngọc bích thì
thật là kỳ ảo, quyến rũ. Nhưng cảnh đẹp chẳng đợc bao lâu, ánh trăng xê
dịch đi chỗ khác, hình ảnh rực rỡ nhạt dần rồi mất hết, còn trơ lại phiến
ngọc bích trắng ngần.
Nhân sự bất ngờ, Đoàn Dự phát giác những sự kiện trên đây, chàng nghĩ
thầm: “Té ra những điều bí mật núi Vô Lượng là ở chỗ đó. Nếu không sa
vào hang sâu vực thẳm này thì làm gì mà biết được những hình ảnh kia?
Nhờ lúc ánh trăng soi chênh chếch đi mới hiện ra. Hàng năm mấy khi gặp
được lúc ánh đá rực rỡ phản chiếu lên phiến ngọc bích? Người phái Vô
Lợng phần nhiều là nghiên cứu phiến ngọc bích giữa ban ngày thì còn thấy
cóc gì? Dù cho họ có trông lên đỉnh vách núi, đào đất quật đá để hòng
khám phá ra diều bí ẩn cũng chẳng ăn thua gì”. Nghĩ tới đây, chàng bất giác
bật lên tiếng cười khanh khách. Rồi chàng cho rằng: “dù lấy được thanh bảo
kiếm cùng cái vật hình cánh cung vân thất sắc kia đi chăng nữa cũng chỉ để
làm đồ chơi mà thôi, phỏng có ích gì mà phải lao tâm phí lực làm chi cho
uổng? Thiên hạ sao lại có những người ngốc thế?”. Thần trí bình thản,
chàng nằm xuống nghỉ rồi ngủ quên đi.
Đang ngủ say, bỗng nhiên chàng giật mình tỉnh dậy, tự hỏi: “ồ sao mũi
kiếm lại chỉ vào đầu dưới hình cầu vồng, tựa hồ nh có điều bí mật ở chỗ
đó? Người đem thanh bảo kiếm cùng bảo vật gắn vào vách núi làm chi để
mất công như thế? Không những phải là người võ công tột bậc mà còn phải
có khúc dây thật dài ròng xuống mới trèo lên mà làm được. Họ đã hao tổn
tâm lực an bài nh vậy tất có dụng ý gì đây? Phải chăng điều bí mật ở chỗ
hình cầu vồng? Cứ xem hai hình bóng in vào phiến ngọc bích thì không tìm
đâu ra được lối giải thích nào khác nữa. Về cái hình cầu vồng thấy lúc ban
ngày thì một đầu lơ lửng trên không, một đầu dính xuống mặt hồ chỗ thác
nớc đổ vào, giả tỷ điều bí mật lớn lao ở chỗ này thì không có cách nào
nắm được”.
Đoàn Dự ngây người ra suy nghĩ hồi lâu, lẩm bẩm một mình: “Cầu vồng
biến ảo không nhất định, hôm nay hiện lên chỗ này, mai chưa chắc đã đúng
chỗ ấy, khó mà căn cứ vào đó được”.
Hôm sau Đoàn Dự nhịn đói ngồi mong chờ cầu vồng xuất hiện. Đến lúc
hoàng hôn, cầu vồng từ từ hiện lên. Đoàn Dự nhìn kỹ lại thì đúng như hôm
trước, không sai tý nào, một đầu lơ lửng trên không, một đầu dính xuống
mặt hồ, chàng lại càng thất vọng chạy ra bờ hồ chỗ thác nước đổ xuống,
sóng vỗ bì bòm, nghe đến đinh tai nhức óc. Chỉ trong khoảnh khắc, nước
bắn toé lên ướt cả quần áo. Chỗ nước xoáy trong hồ rất lớn, nước chảy vòng
tròn rất là mau lẹ. Đi lại gần chỗ này thì không thấy hình bóng cầu vồng
đâu nữa. Đoàn Dự tính lại thì từ hôm sa vào khe núi này đến nay là ngày
thứ ba, chỉ còn bốn ngày nữa nếu không chết đói thì đoạn trường tán cũng
làm cho mình đứt ruột ra mà chết, Chung Linh tất cũng sẽ bị bọn Thần
Nông sát hại. Đằng nào mình cũng chết chi bằng nhảy xuống vũng nước
xoáy này xem có gì lạ không?
Một là chàng đã lâm vào tuyệt địa chỉ còn tìm cách biến chuyển trong chỗ
liều mình, hai là chàng tính tình hào sảng nói làm là làm không cần suy
tính.
Đoàn Dự rớn người nhảy xuống vũng nớc xoáy, toàn thân bị sức mạnh
ghê gớm cuốn đi. Chàng nín thở nhưng vẫn mở mắt nhìn ra thấy một mầu
trắng toát mù mịt, thác nước giờ đã biến thành dòng nước chảy xiết kéo tuột
chàng xuống đáy hồ. Đoàn Dự tuy biết bơi lội nhưng không tự chủ được, để
mặc cho dòng nước lôi cuốn. Chỉ trong khoảnh khắc, bị nước vào đầy
miệng, chàng mê man nh say như tỉnh, chẳng biết đã bị nước cuốn đi bao
xa. Bất thình lình chàng cảm thấy thân mình bị đẩy mạnh một cái, tung lên
khỏi mặt nước. Đang lúc chơi vơi, chàng quờ tay may vớ được một túm dây
leo, chàng liền nắm lấy, định thần nhìn ra thì bốn bề tối đen như mực.
Chàng đưa chân phải ra sờ soạng, bỗng đạp trúng một vật. Chàng liền đưa
nốt chân trái đặt vào đó, nhưng cha dám buông tay ra, vẫn nắm lấy túm
dây leo, dò dẫm cất bước. Chỗ này nước chỉ ngập vế đùi, mà không chảy
xiết nữa. Chàng buông tay đứng thẳng người lên, bỗng đánh “binh” một
tiếng, đầu chạm phải vật gì cứng rắn. Chàng đau điếng người bất giác kêu
lên: “Chết rồi! Chết rồi! Sao mà mình vô ý đến thế?”. Chàng cố nhịn đau,
đưa tay ra sờ soạng, thấy vật trên đầu giá lạnh và cứng nhắc thì ra toàn là đá
núi.
Đoàn Dự ôn lại những sự vừa qua, nhớ rằng mình nhảy xuống vũng nước
xoáy, lúc đầu bị thác nước chảy mạnh cuốn xuống đáy hồ. Từ đáy hồ trôi
theo một luồng chảy ngầm để thoát nước hồ đi, rồi bỗng sức nước đẩy mạnh
một cái, bắn tung mình vào khe này. Cứ xem cục diện trước mắt thì dữ
nhiều lành ít nhưng cũng chẳng biết làm thế nào được, đành là nhắm mắt
đưa chân tới đâu hay đó. Nghĩ vậy rồi, chàng quỳ hai gối xuống cho khỏi
đụng đầu, lần lần tiến về phía trước. Hai tay hết đưa lên đầu lại đưa ra trước
mặt để đề phòng những sự va chạm. Bên tai vẫn nghe nước chảy róc rách
lúc mau, lúc khoan. Chàng quỳ gối, lần bước một hồi xem chừng đá núi ở
trên đầu đã khá cao có thể cúi lom khom đi được. Khom lưng đi một đoạn
nữa thì đứng ngay người lên. Đang đi có khi gặp nhũ đá rủ xuống nhưng
may lúc nào chàng cũng đưa tay ra sờ trước, không thì nhiều phen va chạm
đến phải vỡ mặt sứt mày.
Đoàn Dự chợt nhớ đến con thanh linh, sờ lại thấy nó vẫn nằm im quanh
lưng mình, mới hơi yên dạ. Chàng tự hào bữa nay một chuyện hi hữu đã đến
với chàng. Không những mình từ nhỏ tới giờ cha từng được gặp, mà người
đời cũng ít ai đợc trải qua những vụ ly kỳ nh vậy. Nhất là bè lũ thầy trò
phái Vô Lượng kiếm trải qua mấy đời và phí bao nhiêu ngày giờ chỉ đứng
trên mà nhìn, mà ngắm, mà nghiên cứu phiến ngọc bích một cách vô hiệu
quả, chưa chắc có tay nào nhảy xuống vực sâu, quan sát dới ánh trăng
đặng thấy hình ảnh thanh bảo kiếm cùng ảnh bảo thạch như cầu vồng. Đến
chuyện nhảy xuống vũng nước xoáy, chắc cũng chỉ có một mình mình lâm
vào tình trạng nắm vững cái chết trong tay mới có cuộc mạo hiểm này.
Chàng càng ngẫm nghĩ lại càng đắc ý, bất giác nổi lên một trận cười ha hả,
rồi nói huyên thuyên, mình tự nhủ mình: “Gã tiểu tử Đoàn Dự kia! Bữa nay
ngươi chắc chết trăm phần trăm, nếu may măn mà ngươi sống sót, ra khỏi chỗ
này thì tha hồ mà cười thầy trò Tả Tử Mục, Cam Nhân Hào một phen cho
thoả thích”. Chàng sung sớng quá cười rộ lên khanh khách, chợt nghe phía
bên có tiếng cười khanh khách đưa đến.
Đoàn Dự giật mình kinh hãi, không dám cười nữa thì bên kia cũng im lặng
như tờ. Đoàn Dự lớn tiếng hỏi:
– Ai đó?
Bên kia cũng có tiếng ồm ồm:
– Ai đó?
Đoàn Dự lại hỏi:
– Người hay là ma đó?
Bên kia cũng có tiếng hỏi:
– Người hay là ma đó?
Đoàn Dự lắng tai nghe, bất giác bật cười nói:
– Mình cứ tưởng là ma quỷ, té ra là tiếng vang.
Rồi chàng nghĩ thầm: “Chỉ khi nào nói ở trong gian nhà lớn hoặc trong hang
núi mới thành tiếng vang. Vậy thì mé bên phải này tất có khoảng trống rộng
lớn. Ha ha, mình thích chí cười vang thế mà cũng được việc. Nếu không
cười lên mấy tiếng sao biết nơi đây có hang động? Thế rồi chàng kêu loạn
lên, lần mò đi theo về phía có tiếng vang. Vừa sờ lần vừa đi chẳng mấy tý,
quả nhiên đến một khoảng trống không. Chàng đưa tay lên cao và đưa ra hai
bên sờ soạng không thấy gì cả. Đang đi dò dẫm có chỗ bấu vịn giờ ra quãng
không tối mò, chàng cảm thấy hơi sợ đành cứ bước một tiến về phía trước.
Dưới chân không còn vướng vấp gì cả. Bỗng nhiên tay chàng chạm phải một
vật tròn tròn, lạnh lạnh, phát lên tiếng leng keng trong như tiếng đồng hồ.
Chàng thò tay sờ lại thì cái vòng đồng này giống như vòng ở trước cửa các
nhà thường.
Chàng tự nhủ đã có vòng cửa, tất có cánh cửa. Chàng nghĩ vậy rồi cứ lần
mò, sờ soạng mãi, quả thấy đến chục cái đầu đinh lớn thì vừa mừng, vừa sợ
tự hỏi: “Chẳng lẽ phía trong này lại có người ở thì lạ quá”. Chàng liền lắc
mạnh cái vòng cho nó bật lên tiếng kêu leng keng rồi chờ xem bên trong có
ai thưa không. Chờ một lát chẳng thấy gì, lại gõ mạnh vào cái vòng ba tiếng
nữa cũng chẳng thấy ai tha. Chàng liền đưba tay ra đẩy cửa. Cánh cửa này
dường nh đúc bằng kim khí, nên rất nặng nề. Nhưng không cài then trong
nên chàng cố hết sức đẩy, cánh cửa từ từ hé mở.
Chàng lớn tiếng nói:
– Tại hạ là Đoàn Dự, không được lệnh vời mà dám đường đột tới quý phủ,
thật là có lỗi, xin chủ nhân khoan thứ cho!
Chàng chờ một lát, không thấy phía trong có tiếng đáp lại, đành cất bước
mạnh dạn tiến vào. Đoàn Dự vào trong cửa rồi, tuy chàng mở mắt thật to mà
trông cũng chẳng rõ chi hết, chỉ thấy nơi đây không còn khí ẩm ớt như ở
bên ngoài nữa. Chàng tiếp tục đi vào, bỗng đánh kịch một tiếng trán chàng
chạm phải vật gì rồi, cũng may mà chàng đi thong thả nên không bị đau
mấy. Chàng đưa tay lên sờ thì ra đây cũng là một tầng cửa. Lại cố sức đẩy
đợc hé mở ra, bên trong vẫn tối om. Bất tất phải thuật dài dòng, chàng đi
như thế qua cả thảy sáu lần cửa, có lần mở được ngay, có lần bị đất bùn vít
chặt thì phải cố sức đẩy khá lâu cánh cửa mới hé ra đủ nghiêng người đi để
lách vào. Qua lần cửa thứ sáu, chợt thấy ló ra chút ánh sáng, chàng giật
mình hồi hộp nhủ thầm: “Ta thoát ra đến chỗ có ánh mặt trời rồi chăng?”.
Chàng nhìn kỹ thì đây là một toà thạch thất. Từ bên trái lọt vào một tia sáng
mờ ảo, chứ không phải ánh sáng mặt trời. Chàng nhằm phía có ánh sáng đi
tới, chợt thấy một con tôm hùm rất lớn đi ngang qua bên ngoài cửa sổ.
Chàng rất lấy làm kỳ, đi thêm mấy bước nữa lại thấy một con cá chép có vân
rực rỡ vụt qua. Bấy giờ chàng mới để ý nhìn kỹ cửa sổ, thì ra là một khối thuỷ tinh rất lớn gắn vào vách đá. Khối này gồm ba phiến lớn bằng miệng chậu ghép liền vào nhau. ánh sáng bên ngoài lọt qua cửa sổ thủy tinh chiếu vào trong nhà.
Đoàn Dự lại đứng bên cửa sổ nhìn ra, thấy bên ngoài mịt mờ xa thẳm không rõ đâu là cùng thì biết rằng mình đang ở đáy sông chứ không phải đáy hồ. Chàng lại nghĩ đến người chủ tòa thạch thất này đã tốn biết bao nhiêu tâm cơ để kiến tạo nên nó, cùng nghĩ cách lấy ánh sáng ở ngoài nước sông rọi vào trong nhà. Ba phiến thủy tinh kia là vật báu hiếm có, khó lòng kiếm được. Chàng lại quay vào xem trong nhà thấy có một cái bàn đá, trước bàn để cái ghế đá, trên bàn có đặt một tấm gương đồng, bên gương còn để mấy thứ nào lược đầu, nào vòng xuyến, rõ ràng là một nhà khuê các. Tấm gương đồng đã ăn gỉ xanh lè mà mặt bàn cát bụi dầy đến đốt ngón tay đủ tỏ rằng trong nhà đã bao lâu nay không có người đặt chân tới.
Trước cảnh tượng đó Đoàn Dự không khỏi ngơ ngẩn nghĩ thầm: “Mấy năm về trước, tại đây nhất định đã có một vị tiểu thư ở ẩn. Không hiểu nàng đau buồn nỗi gì mà phải xa cõi nhân gian, lánh mình vào nơi tĩnh mịch này?”. Chàng thầm suy nghĩ một lúc rồi lại xem khắp mọi chỗ trong nhà. Trên vách đá gắn la liệt những gương đồng, chàng đếm được hơn ba chục chiếc thì lấy làm lạ, đoán ra rằng: “Vị tiểu thư ở đây trước là bậc tuyệt thế giai nhân, ngày ngày ngắm bóng thương thân trách phận”. Nghĩ vậy chàng cũng vì ai thổn thức can trường.
Đoàn Dự quanh quẩn trong nhà thạch thất, lúc lẩm bẩm một mình, lúc thở dài sườn sượt thương cho thân phận con người mình chưa từng thấy mặt.
Bỗng chàng sực nhớ lại chuyện mình, bất giác than rằng: “trời ơi! Từ nãy tới giờ mình chỉ vơ vẩn nghĩ chuyện đâu đâu, quên cả lo tính việc mình. Trong buồng này không có ngõ ngách nào, làm sao tìm được lối ra?”.
Chàng nhìn khắp một lần nữa, tuyệt không thấy một cửa ngõ nào cả. Chán nản chàng ngồi phịch xuống ghế đá, than thở: “Đoàn Dự này là một gã xấu trai, nếu chết ở đây hoá ra mạo phạm giai nhân! Sao chẳng chết ngay ở lối đi lúc nãy có hơn không? Trước khi hồn về chín suối ta thử ngó qua lại bộ mặt xem sao?”.
Chàng bèn lấy vạt áo lau hết gỉ đồng trên gương. Gương đã hiện ra chút ánh sáng, nhưng chàng ngồi trên ghế, mà gương đặt xa quá, soi không rõ mặt. Chàng liền đưa tay ra kéo tấm gương lại gần. Không ngờ tấm gương nh gắn chặt vào mặt bàn, chàng phải ra sức lay mạnh một cái, bỗng tự nhiên thấy ghế đá chuyển động. Đoàn Dự cả mừng đứng phắt dậy, gia sức lay thật mạnh tấm gương đồng, chợt nghe tiếng lách cách, ghế đá dời đi chỗ khác, lộ ra một cái động. Chàng cúi nhìn thì thấy có bậc đá thông xuống.
Đoàn Dự mừng rỡ khôn xiết kêu lên: “Tạ ơn Trời, Phật, quả có đường ra rồi”. Đoạn chàng theo bậc đá đi xuống. Không ngờ xuống được vài chục bậc, các bậc đá ngoắt lại, đi ngược lên, càng đi càng lên cao. Lên đến một gian phòng Đoàn Dự thấy phía trước có tia sáng lóe ra, chàng bỗng giật nẩy mình kêu to lên một tiếng, vì chàng trông thấy một trang mỹ nữ tay cầm thanh trường kiếm, mũi trỏ thẳng vào bụng chàng. Nhác trông thật là một vị thanh nhã khác thường, diễm lệ vô song. Chàng chưa từng thấy người nào đẹp đến thế.
Đứng trước một trang sắc nước hương trời, chàng như người mất hồn, há miệng muốn nói mà líu lỡi không thốt ra được câu nào. Hồi lâu thấy mỹ nhân vẫn đứng yên không nhúc nhích. Đoàn Dự định thần nhìn kỹ thì ra mỹ nữ này tuy có vẻ đẹp mê hồn nhưng không phải là người thật, mà là một pho tượng ngọc thạch, chạm chổ rất tinh vi. Pho tượng lớn bằng người thật, mình mặc đồ tơ lụa mềm mại, tà áo rung rinh. Kỳ nhất là đôi mắt có tia sáng long lanh như sóng gợn mùa thu, linh động dị thường, khiến cho Đoàn Dự phải ngây ngời ra mà nhìn. Hồi lâu mới biết là đôi mắt pho tượng chạm bằng thứ đá đen có vân, càng nhìn càng thấy sâu thăm thẳm. Sở dĩ pho tượng này giống ngưuời thật như in là ở đôi nhỡn tuyến mà ra. Mặt pho tợng mỹ nhân bằng thứ ngọc trắng có vân hồng ẩn hiện, trông chẳng khác gì mầu da người thật. Khi Đoàn Dự nghiêng mình ngắm, hình như luồng nhỡn quang pho tượng cũng đổi hướng chăm chú nhìn chàng, chẳng khác chi một vị thần nữ. Đoàn Dự giật mình ngoảnh đầu sang phía hữu thì tia mắt pho tượng cũng quay sang phía chàng. Tóm lại bất luận chàng đứng đâu ngây ngất nhìn pho tượng, thủy chung vẫn bị đôi mắt tượng thần thu hút. Thần sắc pho tượng hiện ra ở đôi mắt nhưng khó mà mô tả cho đúng. Đôi mắt có một trạng thái khác thường: mừng không ra mừng, lo không ra lo; dường như thoáng qua một vẻ buồn, lại tựa hồ có điều chi hờn mát; còn có thể nói là một đôi mắt linh tư, hay đôi mắt chứa một mối sầu lai láng cũng không sai.
Đoàn Dự chuyển hướng ngắm đi ngắm lại pho tượng rồi xá dài cung kính tha rằng:
“Tha thần tiên nương tử! Hôm nay kẻ tiểu sinh là Đoàn Dự này được chiêm ngưỡng phương dung dù có phải là chết cũng không còn điều chi oán thán nữa. Nương tử xa lánh trần tục, một mình ẩn tại nơi đây, chẳng cũng hiu quạnh lắm ru?”.
Tia sáng đôi mắt pho tượng thần dường nh biến ảo khôn lường, nghe lời chàng nói tựa hồ ra chiều xúc động. Đoàn Dự tâm thần ngây ngất, đôi mắt như mờ. Chàng bần thần nhìn pho tượng nói tiếp:
– Tiên sinh không biết cách xưng hô với Nương Tử thế nào cho phải phép. Rồi chàng nghĩ bụng: “Ta thử nhìn kỹ lại, hoặc giả thấy chỗ nào có thể phương danh Nương Tử chăng? Chàng nhìn đi nhìn lại xung quanh rồi chợt nhìn lên đầu pho tượng thấy mớ tóc đúng là tóc người. Một làn tóc mây óng mượt quấn lại thành búi. Bên mơ mái tóc có cài một chiếc vòng ngọc, mặt trên giát hai hạt minh châu lớn bằng đầu ngón tay út, chiếu ra một thứ ánh sáng huyền ảo. Trên tường cũng gắn vô số hạt minh châu, kim cương đua nhau chiếu sáng hào quang. Tường mé tây có tám chữ lớn: “Vô Lượng bí ảo, Giải y nải kiến” gắn bằng những hạt kim cương nhỏ sáng rực. Đoàn Dự cả kinh nghĩ thầm: “Ai mà dám cởi áo Tiên Nương bao giờ?”. Dù đây chỉ là một pho ngọc tượng không phải người thật nhưng từ lúc chàng ngó thấy, tâm trí đã từng phen đảo lộn, không dám mảy may hỗn xược. Chàng tự nhủ: “Bổn tâm ta có cần đến đây để tìm ra điều bí ẩn mầu nhiệm gì đâu? Giả thử ta có nhất tâm như vậy chăng nữa cũng không đời nào dám xúc phạm đến tiên nương. May mà chưa ai vào đây trước ta, không thì đã có kẻ phàm phu, tục tử mạo phạm đến một trang tuyệt thế gian nhân rồi còn gì? Âu là ta đem san phẳng tám chữ này đi đề phòng kẻ đến sau khỏi đụng chạm tới con người ngọc”. Chàng ngó xuống chân tường thấy vô số gương đồng bỏ đó, có đến mấy trăm tấm liền cầm một tấm nạy hết những hạt kim cương ghép thành tám chữ kia cho rơi xuống hết. Chàng lại đập hết cả những lỗ nhỏ gắn kim cương vào, đến không còn một chút dấu vết gì nữa mới thôi.
Làm xong việc đó, Đoàn Dự tự coi mình đã có chút công lao nhỏ mọn đối với pho tượng người ngọc, lòng chàng âm thầm khoan khoái. Chàng trở lại trước mặt pho tượng, như ngây như dại, trong lòng dường nh có âm hồn ám ảnh, mũi tựa hồ ngửi thấy mùi xạ hương phảng phất. Chàng đi từ chỗ yêu đến chỗ kính cẩn, rồi từ chỗ kính cẩn đến chỗ mê mẩn tâm thần, chàng cất tiếng gọi:
– Thần tiên nương tử ơi! Nếu nương tử có phép mầu chỉ nói với tôi một lời, chỉ một lời thôi, thì dù tôi có phải vì nương tử mà tan xương nát thịt cũng hoan hỉ chẳng khác gì bước sang thế giới cực lạc.  Đoạn tự nhiên chàng quỳ gối xuống lạy. Quỳ rồi chàng mới biết rằng ở dưới đất, trước pho tượng có trải sẵn hai cái chiếu, dường như để cho người vào tham bái. Chân chàng quỳ lên chiếc chiếu lớn, dưới chân pho tượng cũng có chiếc chiếu nhỏ hơn, phải chăng để người cúi đầu xuống lạy? Đoàn Dự vừa phục xuống, bỗng nhìn mé trong gót hài tựa như có thêu chữ. Chàng định thần nhìn kỹ quả thấy hài chân trái có tám chữ: “Khẩu thử thiên biến, Cung ngã khu sách”. Hài chân phải có tám chữ: “Tất tao kỳ họa, Thân bại danh liệt”. Pho thần tượng đi đôi hài màu nước biển, mười sáu chữ trên đây nhỏ như đầu ruồi lại thêu bằng thứ chỉ màu xanh, thâm hơn mầu nước biển một chút, nếu không cúi đầu sát xuống thì không tài nào nhìn rõ được. Hoặc giả có người khác nhìn thấy thì câu
“Khấu thử thiên biến, Cung ngã khu sách” tất chạm lòng tự ái khiến họ nổi hung, có khi đá phốc pho tượng đi, còn câu “Tất tao kỳ họa, thân bại danh liệt” thì bất cứ ai cũng chẳng muốn nhìn. Nếu người ngó mưới sáu chữ này là bậc lão thành, việc đời lịch duyệt đã nhiều, coi thường những câu bất lợi đó, sẽ mỉm cười bỏ đi. Nhưng Đoàn Dự đã bị dung nhan pho tượng mê hoặc, chàng lấy làm thú vị được khấu đầu ngàn lạy vì bản tính chàng ưa thờ phụng sắc đẹp, đến việc cầm roi ruổi ngựa cho giai nhân thì đối với chàng là một điều rất hân hạnh. Cầu khẩn vị tất đã được? Sau cùng là việc vì mỹ nhân mà bị đại họa đến phải thân danh tan nát lại là điều sở nguyện của chàng, dù phải muôn thác cũng không hối hận. Tâm hồn chàng say mê điên đảo, đọc xong mấy câu chàng khấu đầu rất cung kính vừa lạy vừa đếm.
Chàng lạy được năm, sáu trăm lạy, bắt đầu thấy lưng mỏi, xương đau, sái đầu sái cổ nhưng chàng vẫn cố gắng đến cùng, lạy cho đủ số mới thôi. Lạy được hơn tám trăm lạy thì cái chiếu trên bắt đầu thụt xuống, rồi từ đó mỗi lần dập đầu là một lần chiếu thụt dần. Đoàn Dự lạy được mấy chục lạy nữa, chiếu thụt xuống hõm, chợt thấy lộ ra ba đầu mũi tên nhỏ, chênh chếch nổi lên, nhằm đúng trán chàng. Đầu mũi tên lấp lóe xanh biếc, chuôi tên buộc vào cơ quan có lò xo. Đoàn Dự thoáng qua đã hiểu ngay, nghĩ thầm:
“Ghê quá! Những mũi tên này đều tẩm thuốc độc, cũng may là mình kính cẩn khấu đầu làm lễ, cái chiếu thụt xuống từ từ, tên độc không phóng ra. Ví phỏng mình bước dẫm lên chiếu, chân thụt xuống đụng mạnh vào cơ quan, tất bị tên độc bắn trúng bụng rồi. Thôi ta hãy cứ lạy đủ ngàn lạy rồi có xảy ra biến cố gì hãy hay”. Chàng vừa nghĩ vừa lạy đều mấy chục lạy nữa, chiếu thụt xuống sâu hơn, lộ ra một miếng đồng có khắc chữ, nhưng chàng không xem vội, chăm chú lạy cho đủ ngàn rồi mới đưa tay vào nhấc tấm đồng ra một cách nhẹ nhàng. Tấm đồng này để rời, không dính vào cơ quan nào cả.
Chàng cầm lên xem, tấm đồng đã nổi gỉ xanh lốm đốm, trên mặt khắc bằng mũi kim nhỏ mấy hàng chữ sau đây: “Ngươi đã lạy đủ ngàn lạy, vậy ta nhận ngươi làm đệ tử. Từ đây sắp tới còn gặp nhiều tai nạn thê thảm nói không xiết được, ngươi đừng hối hận. Võ công hơn đời của phái ta ở khắp nơi trong toà thạch thất, mong rằng ngươi ráng tĩnh tâm nghiên cứu cho ra”.
Đoàn Dự xem xong rất là thất vọng. Bản tâm chàng không muốn học võ nê phải lìa cửa lìa nhà ra đi, khi nào còn chịu trở lại đây nghiên cứu cái võ công hơn đời chi chi đó nữa? Chàng cầm tấm đồng đặt lại cẩn thận nguyên vào chỗ cũ, rồi đứng dậy, hai chân mỏi quá cơ hồ suýt ngã. Ba ngày không được ăn chàng cảm thấy nhọc mệt vô cùng, nghĩ thầm: “Ta phải gấp rút tìm đường trở ra, không thì bỏ mạng. Trong lòng vẫn còn quyến luyến pho tợng mỹ nhân, chân bước đi mặt còn ngoảnh lại. Chàng định nhìn lần nữa rồi thôi, nhưng vừa nhìn lên gặp ngay đôi mắt pho tượng ngọc đang nhìn mình, lòng chàng lại thẫn thờ, đầu óc lại quay cuồng, đứng ngây ra một lúc rồi vái dài sát đất nói:
– Thần tiên nương tử ơi! Tôi chẳng làm đồ đệ nương tử mà cũng không học cái võ công hơn đời của nương tử đâu. Bữa nay vì trong mình có việc khẩn cấp, tôi xin tạm biệt. Sau khi cứu được Chung Linh ra rồi, tôi sẽ trở về đây cùng nương tử đoàn tụ”.
Nói xong chàng cảm thấy lòng thổn thức nhưng phải cất bước ra đi. Ra khỏi thạch thất, chàng theo bậc đá đi chếch lên. Chàng vừa đi vừa do dự, mấy phen toan quay trở lại ngắm tượng ngọc mỹ nhân. Chàng phải quả quyết lắm mới chế phục được cõi lòng.
Đoàn Dự đi được hơn trăm bậc, chuyển qua ba khúc quanh, văng vẳng có tiếng sóng vỗ bì bõm, chàng đi hơn hai trăm bậc nữa, tiếng sóng nghe đã chói tai, phía trước đã thấy ánh sáng rọi vào. Chàng càng đi mau hơn cho đến bậc đá cuối cùng thì thấy trước mắt có một cái hang vừa đủ một người đứng. Chàng ló đầu ra ngoài, giật mình hồi hộp, run lên cầm cập. Bên ngoài nước chảy băng băng, sóng vỗ ầm ầm, một con sông lớn hiện ra trước mắt Đoàn Dự. Hai bên bờ sông là hai rặng núi đá bích lập cao chót vót, cực kỳ hiểm trở. Chàng nhận ra đây đã đến bờ sông Lan Thương, thì nửa mừng nửa sợ, cúi rạp xuống bò ra cửa động, nhìn thấy chỗ mình nằm cao hơn mặt nơức đến mời trượng. Dù mực nước sông có lên cao cũng không thể tràn tới được. Chỉ còn một điều khó khăn là phải vượt qua mấy tầng đèo cao, vực thẳm mới ra tới chỗ đất bằng. Chàng cởi con thanh linh ra nhờ nó giúp sức, vận dụng cả chân tay lúc trèo lên, khi tụt xuống. Tuy trải qua những cơn nguy hiểm hồi hộp, chàng vẫn lu ý nhìn rất kỹ mọi địa thế, ghi nhớ vào lòng để sau này cứu người xong, sẽ trở lại chốn này vào thạch thất thăm… pho tượng mỹ nhân.
Bờ sông toàn là núi đá lởm chởm, không có lấy một con đường nhỏ, Đoàn Dự phải rất vất vả mới đi đợc bảy tám dặm. Đến một gốc cây đào mọc tự nhiên, trên cành trái chín lúc lỉu, chàng mừng quá, trèo lên hái ăn kỳ no bụng. Lại thấy tinh thần phấn khởi, đi chừng hơn mời dặm nữa mới thấy một lối đi xuất hiện. Chàng lần theo lối nhỏ này đi cho tới lúc mặt trời xế bóng thì đến một cái cầu sắt bắc qua sông. Đầu cầu dựng một tấm bia đá khắc ba chữ: “Thiện nhân độ”. Đoàn Dự trông thấy ba chữ “Thiên nhân độ” cả mừng vì trước Chung Linh đã dặn chàng đường lối khởi đầu từ cầu này.
Cầu gồm bốn sợi dây sắt: hai sợi dới gác ván gỗ để đi, còn hai sợi trên dùng làm tay vịn. Đoàn Dự bước chân lên cầu thấy đu đi đu lại đã sợ. Ra đến giữa sông cầu lúc lắc mạnh hơn, chàng nhìn xuống sông chỉ thấy nớc chảy veo veo, tựa như từng đàn ngựa đuổi nhau dưới chân. Chỉ sểnh một chút té nhào xuống thì dù có biết bơi lội cũng không toàn tánh mạng. Chàng càng kinh hãi bội phần không dám trông xuống nữa, cặp mắt chỉ nhìn về phía trước, vừa đi vừa run. Lần từng bước một, sang tới đầu cầu bên kia bấy giờ mới hoàn hồn. Chàng ngồi nghĩ một lúc, ôn lại lời dặn của Chung Linh. Cứ lời nàng nói thì hang núi nàng ở tên là hang Vạn Kiếp. Cổng vào nhà nàng là một ngôi mả lớn.
Đoàn Dự thấy trong người đã đỡ mệt liền đứng dậy đi, lúc rẽ ngang, lúc lượn vòng, khi quanh khe núi, khi vào rừng sâu nhất nhất theo đúng lời chỉ dẫn của Chung Linh. Đi đến bãi tham ma thì trời tối mịt, chàng rẽ qua mé tả, vừa đi vừa đếm cho đến ngôi mộ thứ bảy. Trên ngôi mộ lớn này có dựng tấm bia đá khắc năm chữ: “Vạn cừu Đoàn chi mộ”. Chàng sợ run bắn lên, rất lấy làm kỳ tự hỏi: Sao lại tên là Vạn Cừu Đoàn? Chàng nhớ lại lúc chia tay, Chung Linh chỉ dặn tới bãi tham ma, đi rẽ về mé tả đến ngôi mộ lớn, nhưng nàng không nói đến tên người chết khắc trên bia. Giờ chàng trông thấy ba chữ Vạn Cừu Đoàn không khỏi chột dạ.
Ngoảnh nhìn bốn mặt, sương chiều bao phủ âm thầm, bóng cây lay động, phóng tầm mắt nhìn xa hơn nữa, toàn là mả con mồ lớn, cao thấp lô nhô, chàng không dám chần chừ, y theo lời dặn của Chung Linh ra sức lay chuyển tấm bia đá. Mé tả lay một cái, mé hữu lay hai cái, lần thứ hai cũng lay theo kiểu đó. Sau cùng là lấy chân đá một cái thật mạnh vào chữ giữa tấm bia. Chữ thứ ba lại chính là chữ Đoàn. Đoàn Dự vốn tính xuề xoà, không câu nệ, chàng vừa đá vừa cười thầm: “Nếu dịch địa là gia gia ta thì người nhất định không bao giờ đá vào chữ Đoàn”.
Đoàn Dự đang suy nghĩ về mấy lời Chung Linh dặn bảo sao cha thấy hiệu nghiệm, bỗng hai tảng đá lớn bên mả tự nhiên ngả xuống, hở ra một lối đi vào. Chàng cúi xuống nhìn nhưng bên trong tối om, không trông thấy gì cả, chàng mạnh dạn bước vào. Sờ lần từng bước, lượn hết khúc quanh, chợt thấy cách chỗ mình vài trượng, có một ngọn đèn nhỏ xíu, bé bằng hạt đậu, ánh sáng vàng khè, ảm đạm yếu ớt. Chàng trông về phía ngọn đèn đi tới. Đột nhiên chàng giật mình đánh thót một cái, vì bên ngọn đèn có đặt cỗ quan tài. Nhớ lời dặn của Chung Linh chàng thổi tắt phụt đèn đi, bốn bề lại tối mù tối mịt.
Chờ một lát chàng nghe có tiếng lịch kịch, nắp quan tài hé mở, văng vẳng có tiếng một cô gái hỏi vọng ra:
– Tiểu thư về đấy ạ?
Đoàn Dự đáp:
– Tại hạ là Đoàn Dự vâng mệnh Chung cô nương xin đến bái kiến chúa động.
Cô gái bỗng bật lên một tiếng “Ô hay”, ra chiều kinh ngạc hỏi:
– Ngươi… ngươi là người ngoài sao lại nhận lời uỷ thác của tiểu thư ta?
Đoàn Dự đáp:
– Chung cô nương hiện đang bị nguy khốn, tại hạ đến để báo tin.
Cô gái nói:
– Ngươi chờ đây để ta vào bẩm lại phu nhân.
Đoàn Dự nói:
– Vậy càng hay!
Chàng nghĩ thầm: “Cung cô nương dặn ta đến ra mắt mẫu thân nàng trước, thế này thì có hy vọng đây”.
Đoàn Dự đứng ngoài chờ một lúc khá lâu, chợt nghe có tiếng chân người đi tới. Cô gái lúc nãy trở ra lên tiếng:
– Phu nhân mời cậu vào.
Đoàn Dự nói:
– Tôi không trông rõ đường lối chi hết, làm thế nào đi được?
Rồi thấy một bàn tay đưa ra nắm lấy tay trái chàng. Chàng liền bước vào trong quan tài, theo sau cô gái, noi những bậc đá đi vào. Đi chừng vài trăm bước thì ra tới một khu rộng rãi, sáng sủa, có trồng vô số hoa cỏ. Cô gái buông tay chàng ra nói:
– Xin tôn khách đi theo tôi!
Dưới ánh trăng, Đoàn Dự trông cô gái chừng mười bảy, mười tám tuổi, cách ăn mặc theo kiểu cô hầu thì chắc là đứa nữ tỳ hầu hạ Chung Linh liền cất tiếng hỏi:
– Tôi gọi chị bằng gì cho phải?
Cô gái ngoảnh lại, lắc đầu, đưa tay ra hiệu cho chàng đừng lên tiếng. Đoàn Dự thấy y có vẻ sợ sệt nên không hỏi han gì nữa cứ lẳng lặng theo sau.
Nữ tỳ dẫn chàng xuyên qua một rừng cây, men theo lối đi nhỏ hẹp về mé tay trái đến một căn nhà ngói. Y đứng ngoài gõ cửa ba tiếng “cạch cạch cạch”. Cánh cửa từ từ mở ra, y đưa tay ra vẫy Đoàn Dự rồi đứng tránh sang bên, nhường lối cho chàng vào trước.
Đoàn Dự bước vào trong nhà nhìn xem thì đây là một phòng khách nhỏ. Trên bàn đặt một cây nến sáp lớn, thắp sáng trưng. Bàn ghế rất tinh khiết. Trên vách treo mấy bức hoạ, trên án trần thiết đỉnh đồng cùng những đồ bằng ngọc. Căn nhà này tuy không rộng lắm song cách bày trí cực kỳ tao nhã.
Chàng vào ghế ngồi, nữ tỳ bưng trà lại mời:
– Xin mời công tử xơi nước đi! Phu nhân tôi sắp ra đó.
Đoàn Dự nâng chén trà lên uống, chợt nghe tiếng ngọc đeo kêu leng keng, một thiếu phụ mặc áo lụa xanh uyển chuyển bước ra, trạc tuổi bốn mươi, dong nhan diễm lệ, đôi mắt giống Chung Linh như hệt. Chàng biết đó là Chung phu nhân liền đứng dậy vái dài thưa rằng:
– Vãn sinh là Đoàn Dự xin bái kiến bá mẫu.
Chung phu nhân hơi có vẻ hoảng hốt, chắp tay đáp lễ nói:
– Chào công tử!
Phu nhân vừa chào vừa nhìn diện mạo Đoàn Dự, bất giác biến sắc, rùng mình, thở hổn hển, lắp bắp:
– Ngươi… ngươi…
Đoàn Dự thất kinh:
– Bá mẫu!
Chung phu nhân:
– Ngươi… ngươi… họ Đoàn phải không?
Đoàn Dự sực nhớ lời Chung Linh căn dặn mình chớ nói thật họ Đoàn. Nhng chàng lại nghĩ bụng: “Thiên hạ thiếu gì người họ Đoàn, ngay một tỉnh Vân Nam cũng có đến hàng ngàn hàng vạn. Chẳng lẽ cứ họ Đoàn là biết phép điểm huyệt “Nhất Dương Chỉ” cả hay sao?”. Nên chàng chẳng để ý đến lời nàng dặn. Bây giờ chàng thấy Chung phu nhân có vẻ hoảng hốt hiện ra mặt mới biết lời Chung Linh dặn tất có thâm ý gì đây, chàng muốn nói dối là mình họ khác, nhng đã lỡ mất rồi, đành thưa lại:
– Bẩm phu nhân, vãn sinh họ Đoàn.
Chung phu nhân lại hỏi:
– Công tử quê quán tại đâu? Đại danh lệnh tôn là gì?
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Hai câu này mình phải nói dối mới được, để phu nhân khỏi biết rõ tông tích nhà mình”. Chàng nghĩ vậy liền đáp:
– Vãn sinh quê ở phủ Lâm An, tỉnh Giang Nam, gia phụ tên gọi Đoàn Long.
Chung phu nhân thở phào một cái, ra chiều yên dạ nói:
– Mời công tử ngồi chơi!
Hai người an tọa rồi, Chung phu nhân nhìn đi nhìn lại từ đầu đến chân chàng, dường như để soi mói điều gì. Đoàn Dự thấy phu nhân chăm chú nhìn mình, chàng không giữ được vẻ tự nhiên nữa, liền cất tiếng tha:
– Lệnh ái hiện đang bị nguy khốn, vãn sinh đến báo tin.

Hết Chương 4

Hết Hồi 4

==========================================================================

Hồi 5

HỒI 5
Thiếu nữ áo đen


Kim Dung

Chung phu nhân nghe báo xúc động quá, tinh thần bàng hoàng, giây phút
trấn tĩnh lại được, hỏi ngay:
– Tiểu nữ mắc chuyện gì?
Đoàn Dự liền quay lại, vén áo dài lên, cởi con thanh linh ở trong lưng ra
cầm hai tay đưa trình phu nhân thưa:
– Xin bá mẫu hãy coi vật này! Lệnh ái đã đưa cho vãn sinh đem về làm tin.
Chung phu nhân vừa thấy con thanh linh thì nhíu đôi mày, giật lùi lại để
tránh, lộ vẻ hoảng hốt nói:
– Công tử không ngán loại rắn độc này ? Xin cậu đem nó bỏ vào tận góc
nhà kia!
Đoàn Dự thấy phu nhân sợ rắn rất lấy làm kỳ. Chàng cuộn tròn con thanh
linh lại, đem bỏ góc nhà, rồi trở lại chỗ ngồi đem chuyện mình gặp Chung
Linh ở cung Kiếm Hồ trong trường hợp nào, tự mình đòi đi can thiệp vào
việc đảng Thần Nông ra sao, Chung Linh bị dồn vào tình thế bắt buộc phải
cho con Kim linh ra cắn người rồi bị đảng Thần Nông bắt giữ thế nào nên
mình phải đến đây cầu cứu, nhất nhất thuật hết một lợt nhưng không đả
động gì đến chuyện pho tượng ngọc mỹ nhân trong thạch thất dưới rốn hồ.
Chung phu nhân lẳng lặng, chăm chú lắng nghe chàng thuật chuyện, nét
mặt mỗi lúc một thêm vẻ lo âu. Chờ Đoàn Dự dứt lời, phu nhân thở dài
thườn thượt nói:
– Con nhỏ này cứ bước chân ra khỏi cửa là lại sinh chuyện lôi thôi, chuốc
lấy tai họa.
Đoàn Dự nói:
– Vụ này là do vãn sinh gây ra, bá mẫu chẳng nên quở trách cô nương.
Chung phu nhân run run nhìn chàng nói nhỏ:
– ừ phải! Kể ra vụ này chẳng nên trách y. Ngay mình trước kia cũng thế.
Đoàn Dự hỏi:
– Sao kia ạ?
Chung phu nhân rùng mình, hai má ửng hồng. Tuy bà đã đứng tuổi song vẻ
thẹn thùng, e lệ chẳng khác chi cô gái đang xuân, bà ngượng nghịu đáp:
– Ta… ta nhớ lại một chuyện ngày xa.
Trong khi phu nhân nói câu này, mặt bà đỏ bừng lên rồi đánh trống lảng:
– Ta nghĩ việc này nan giải quá!
Đoàn Dự thấy phu nhân thường thay đổi sắc mặt, ra vẻ hoang mang thì nghĩ
thầm trong bụng: “Bà này không được bình tĩnh bằng cô con gái”. Giữa lúc
ấy ngoài sân có tiếng nói lạnh lẽo khô khan:
– Mi chưa từng nghe nói đến quy củ trong hang Vạn Kiếp của ta hay sao?
Chung phu nhân giật mình bảo Đoàn Dự:
– Lang quân ta đã về, tính người đa nghi lắm, Đoàn công tử hãy tạm lánh
mặt đi!
Vãn sinh cần được bái kiến tiền bối, xin để…
Chàng cha dứt lời, Chung phu nhân liền một tay bịt miệng chàng còn một
tay kéo tuột vào mái hiên phía đông, ghé tai bảo:
– Công tử nấp vào đây, chớ có lên tiếng nhé! Lang quân ta tính nóng như
lửa, chỉ lỡ một tý là chàng mất mạng dễ như chơi, ta không cứu nổi đâu.
Chung phu nhân người đẹp là thế, bề ngoài ra vẻ khiếp nhược là thế, mà bản
lãnh không vừa. Đoàn Dự bị kéo tuột đi, muốn kháng cự không được, đành
chịu một phép. Chàng cảm thấy ấm ức trong lòng, nghĩ mình vất vả lặn lội
đến báo tin, dù sao mình cũng là một người khách mà phải ẩn nấp lén lút,
chẳng khác gì kẻ trộm cắp.
Đoàn Dự còn đang bất mãn bỗng nghe tiếng một người con gái nói:
– Sư tỷ tiểu nữ bị rắn độc cắn, tính mạng nguy đến nơi, xin lão tiền bối ra
tay giải cứu!
Nói chưa dứt lời, ba người đã vào đến nhà khách. Đoàn Dự ghé mắt nhòm
qua khe vách, thấy một cô gái áo xanh, lưng đeo trường kiếm, tay cắp
ngang lưng một cô gái khác, kêu cứu luôn miệng. Một người đàn ông áo
đen, cao lênh khênh, gầy như que củi đứng quay ra ngoài nên chàng không
trông rõ mặt, chỉ thấy đôi bàn tay to tướng bỏ thõng xuống cũng đoán ra
thân hình gã có vẻ khác thường.
Đoàn Dự lại nghe tiếng Chung phu nhân hỏi:
– Hai cô là ai? Sao lại biết chỗ chúng tôi ở đây mà đến?
Cô gái áo xanh từ từ đặt cô kia xuống, hỏi lại:
– Phải chăng bà là Chung phu nhân?
Chung phu nhân gật đầu. Cô gái lễ phép nói:
– Tiểu nữ tên gọi Phạm Hà, môn hạ phái Hoa Sơn ở Thiểm Tây xin bái kiến
Chung phu nhân.
Nói xong chắp tay, cúi đầu sụp lạy một cách rất cung kính.
Chung phu nhân nói:
– Tôi không dám! Xin cô nương đứng dậy!
Phu nhân vừa đáp lễ vừa đỡ cô gái đứng lên. Đoàn Dự trông cô gái chừng
hai mơi bảy, hai mươi tám tuổi, mày rậm, mắt thô, tướng mạo như đàn
ông, nét mặt có vẻ ngang tàng. Chàng lại nghe cô nói tiếp:
– Tiểu nữ cùng sư tỷ Thi Vân đây vâng mệnh sư phụ sang Vân Nam có việc.
Đi qua núi Vô Lượng, sư tỷ sơ ý bị một con rắn nhỏ sắc vàng cắn, gây nên
thương tích cực kỳ trầm trọng.
Đoàn Dự vừa nghe nói đến con rắn vàng đã nghĩ ngay: “Hay là con kim linh
của Chung cô nương?”.
Chung phu nhân hỏi:
– Cô ấy làm sao mà bị rắn cắn?
Phạm Hà đáp:
– Bọn tiểu nữ đi xa nhọc mệt, ngồi bên đường nghỉ, bỗng con kim xà ở
trong đám cỏ bò ra, sư tỷ thấy nó ánh vàng rực rỡ, rất lấy làm kỳ, rút kiếm
chém một nhát, không ngờ nó rất lanh lẹ, xông lên cắn vào cườm tay một
miếng. Sư tỷ tối tăm mặt mũi ngã lăn ra…
Người đàn ông áo đen cười ha hả đáp:
– Con kim linh lanh như điện chớp, bọn mi đã biết rồi đấy chứ gì? Những
cao thủ gấp mười còn chả chế phục nổi, sao các ngươi dám cầm kiếm chém
nó? Chết là đáng đời còn kêu ca gì nữa?
Chung phu nhân nói:
– Người ta đã bị trọng thơng, đường xa lặn lội tới đây cầu cứu mình chẳng
nên mỉa mai nữa.
Đoàn Dự nghe Chung phu nhân nói vậy biết người áo đen kia là cha Chung
Linh, động chủ hang Vạn Kiếp, chợt thấy lão quay lại cười ha hả. Chàng
nhác trông mặt lão không khỏi giật mình vì tướng mạo lão rất ghê sợ: mặt
dài như mặt ngựa, mắt cao, mũi to mà tròn ủng sa xuống gần miệng thành
ra giữa mắt và mũi cách một khoảng trống khá lớn. Chàng tưởng đến Chung
Linh mi thanh, mạc tú, nét mặt xinh tươi phải ngạc nhiên sao cha ruột nàng
lại thô bỉ xấu xa đến thế được?
Chung động chủ vốn tính ba hoa, diễu cợt nhưng khi quay lại nhìn vợ lại đổi
ngay ra vẻ mặt ôn hoà, bộ mặt xấu xí, nanh ác đã dịu lại đôi phần. Lão cười
bảo vợ:
– Nàng bảo làm sao ta nghe làm vậy.
Đoàn Dự càng lấy làm kinh nghĩ thầm: “Chung phu nhân vừa nghe tiếng
chồng về đã sợ cuống quít, nhưng giờ xem động chúa đối với bà vợ không
những đầy vẻ thương yêu còn ra dáng kính nể nữa”.
Phạm Hà cũng hi vọng điểm này vội quỳ xuống kêu van:
– Thưa động chúa cùng phu nhân cứu mạng cho sư tỷ, không những sư tỷ
suốt đời đội ơn đức người mà gia sư cũng hết sức cảm kích thịnh tình.
Chung động chúa hỏi:
– Phải chăng gia sư mi là Đại ma tử: Phó Bá Kỳ? Y còn vào hạng đàn em, ta
có cần đếm xỉa gì đến cảm tình của y? Khi ta chết đi y không đến điếu tang.
Tuy nằm trong quan tài nhưng ta biết rõ cả.
Đoàn Dự nghe giọng lão nói mà phát sợ.
Phạm Hà cũng rủa thầm: “ngươi còn sống sờ sờ ra đó, sao khéo bày trò nào
hạch điếu tang, nào đặt quan tài là có ý gì?”.
Chung động chúa bỗng lớn tiếng hỏi:
– Ta lánh cõi trần bấy nhiêu năm, những người ngoài đời không ai biết ta
còn sống ở nhân gian. Ai đã đưa đường trỏ nẻo cho mi tới tìm ta? Sao mi
biết cửa ngõ vào hang Vạn Kiếp?
Mấy câu này Chung động chúa hỏi bằng một giọng rất gay gắt, cặp lông
mày rủ xuống, miệng méo xệch đi, sắc mặt trông lại càng ghê sợ.
Phạm Hà nói:
– Tiểu nữ không còn cách nào cứu được sư tỷ, trong cơn nguy cấp, đành ôm
xốc sư tỷ chạy vội ra thị trấn tìm xem có thầy thuốc nào cứu được chăng?
Trong khi đang chạy bỗng gặp một cô gái áo đen đang đưa tay ra bắt con
kim xà. Con rắn này cũng khắp mình nhấp nhánh ánh vàng. Tiểu nữ vội
vàng bảo nàng: “con rắn này độc ghê gớm lắm, phải tránh đi cho mau!”.
Chẳng ngờ cô không thèm nghe, cứ thò tay ra bắt lấy cuộn bỏ vào bọc…
Tiểu nữ cả mừng nghĩ rằng cô đã chế phục được nó tất có bản lãnh trị được
nọc độc. Tiểu nữ liền năn nỉ xin cô cứu cho thì cô đáp rằng cô không biết trị
rắn độc mà khắp thiên hạ duy có một người trị được mà thôi. Thế rồi nàng
chỉ đường cho tiểu nữ đến đây cầu chúa động. Tiểu nữ xin nàng cho biết
danh tánh nhưng nàng không chịu nói.
Chung chúa động đưa mắt nhìn phu nhân “Hừ” một tiếng rồi nói:
– Đúng là con bé nhà ta rồi đây. Con người này tâm địa không tốt ta phải
hỏi cho ra mới đợc. Chỉ tại Linh nhi đem rắn ra khỏi động đi chơi để rắn
cắn phải người, chuốc lấy tai vạ.
Đoạn gã quay sang hỏi Phạm Hà:
– Cô gái đó có dặn gì mi nữa không?
Phạm Hà đáp:
– Thưa không ạ.
Chung động chúa lạnh lùng hỏi:
– Thật không còn gì nữa chứ?
Phạm Hà đáp ấp úng:
– Hình như cô nơng có dặn thêm: “Đường vào động chỉ có một lối mà thôi.
Nhng khi vào rồi thì khó lòng ra được toàn vẹn. Phải suy tính kỹ lại xem
sao rồi hãy vào”.
Chung động chúa nói:
– ừ! Có thế chứ! Vậy mi đã nghĩ kỹ lại chưa?
Phạm Hà phục xuống đất lạy kêu van:
– Xin động chúa cùng phu nhân mở lượng từ bi.
Chúa động nói:
– Mi dậy đi thôi! Bây giờ có hai con đường, mi chọn lấy một: một là mi
cùng sư tỷ mi phải chung thân ở lại hang này phục vụ phu nhân. Hai là
chặt tay, cắt lưỡi để không còn đem điều bí mật ở đây tiết lộ ra ngoài được.
Phạm Hà giọng nói run run năn nỉ:
– Tiểu nữ vâng lệnh sư phụ đi Vân Nam có việc gấp. Nếu ở lại đây chầu hầu
phu nhân thì trái lệnh sư phụ.
Chung chúa động nói:
– Thế là mi chọn điều thứ hai phải không?
Phạm Hà tiến lên hai bước ôm lấy chân Chung phu nhân cầu khẩn:
– Xin phu nhân rủ lòng thương đến tiểu nữ. Tiểu nữ ra khỏi động quyết
không dám nói nửa lời, nếu tiểu nữ hớt lẻo cam chịu chết thảm hại dưới
ngàn lưỡi đao.
Chung chúa động cười hềnh hệch nói:
– Chung Vạn Cừu này nếu không nhẹ dạ tin lời thề thốt của người thì đâu
đến nỗi phải trá tử mà chui rúc dưới hang tối như thân rùa?
Rồi đột nhiên lão thò tay trái ra nắm cổ Phạm Hà xách lên. Kể phái đàn bà
thì Phạm Hà cũng là tay võ công khá cao rồi thế mà Chung Vạn Cừu xách
giơ lên cao, chân cách mặt đất đến hơn ba thước. Nàng sợ cuống cuồng kêu
la rầm rĩ đồng thời đưa chân phải phóng ra đá vào ngực Chung Vạn Cừu.
Chung Vạn Cừu không thèm né tránh đưa ngực ra đón lấy cái đá. Bỗng nghe
đánh rắc một tiếng bàn chân Phạm Hà bị gãy cụt. Chung Vạn Cừu vung tay
phải ra, một luồng ánh đen lấp loáng, tựa hồ như trong tay có giấu một lưỡi
đao trủy thủ, chợt nghe hai tiếng “xẹt xẹt” hai cổ tay Phạm Hà đã bị thiến
tẩy.
Chung phu nhân kêu lên một tiếng hãi hùng. Chung Vạn Cừu lại đưa hai
ngón tay khoáng một cái. Phạm Hà rú lên một tiếng thê thảm, miệng trào
máu tươi ra ồng ộc, đúng là nàng đã bị cắt lưỡi rồi.
Đoàn Dự trông thấy ghê hồn, trống ngực đánh hơn trống làng. Chàng đưa
tay lên bịt miệng không dám ho he nửa tiếng, nhưng trong bụng rủa thầm:
“Mi chặt hai tay y, cắt lưỡi y, nhng y còn một chân vẫn có thể vạch chữ lên
cát để tiết lộ những điều bí mật trong hang Vạn Kiếp này”.
Phạm Hà chết giấc. Chung Vạn Cừu quăng nàng xuống đất, túm Thi Vân
đang nằm dưới đất mê man bất tỉnh rồi cũng chặt tay cắt lưỡi như Phạm Hà.
Đoàn Dự thấy vậy lửa giận bừng bừng, chẳng nghĩ gì đến thân mình đang
nằm miệng cọp, quát to lên rằng:
– Con quỉ nhát gan kia! Mi thật là phường đê tiện, vô sỉ không nghĩ gì đến
thể diện nữa.
Chàng nói tới đó, Chung Vạn Cừu giật nẩy mình lên ngơ ngác. Chung phu
nhân sợ quá, mặt cắt không còn hột máu. Đoàn Dự ở sau tấm vách ván bước
mạnh đi ra, trỏ vào mặt Chung Vạn Cừu bảo:
– Chung tiên sinh! Người là hạng khí cục nhỏ nhen, có những hành vi đốn
mạt, không phải bậc đại trượng phu.
Chung Vạn Cừu nhác trông thấy tướng mạo Đoàn Dự, lộ vẻ kinh nghi ấp
úng hỏi:
– Phải… chăng ngươi… ngươi là họ Đoàn?
Đoàn Dự đáp:
– Tại hạ là Đoàn Dự chẳng biết chút võ nghệ nào cả. Người muốn giết,
muốn băm, làm gì thì làm. Nếu ngươi tha ta ra khỏi đây, ta sẽ đem những
hành vi hung bạo, khiếp nhược, tàn sát những kẻ yếu đuối tố giác cùng
khách giang hồ để ai nấy đều biết Chung Vạn Cừu là hạng người nào.
Chung Vạn Cừu không nổi giận lại ngửa mặt lên trời cười ha hả nói:
– Chung Vạn Cừu là hạng người nào, chẳng lẽ khách giang hồ còn chưa biết
? Thằng nhãi con kia! Dễ thường ngơi cha nghe qua biệt hiệu của ta
chăng?
Đoàn Dự đáp cộc lốc:
– Không biết!
Chung Vạn Cừu với một giọng nửa ra lễ phép, nửa ra ỡm ờ nói tiếp:
– Tại hạ là Chung Vạn Cừu, người ngoài đặt cho cái biệt hiệu là “Kiến nhân
tựu sát”. Vừa nói vừa ra vẻ nghênh ngang tự đắc.
Đoàn Dự cũng hơi rùng mình nhưng luồng chính khí bốc lên ngùn ngụt,
dõng dạc nói:
– à thì ra tính ngươi ưa sát hại những kẻ thế cô. Xa nay ta chưa từng thấy ai
dọc ngang trời đất mà lại úy thủ, úy vĩ như ngươi.
Câu này đã chạm lòng tự ái lão, nhưng lão vẫn bình tĩnh không nổi hung.
Đoàn Dự đâm liều chẳng quản gì đến mạng sống chết nữa, nói bô bô:
– Ta xem ngươi võ công cũng vào hạng cao cường lẽ ra là một tay hảo hán
hiên ngang mới phải. Dù sức mình không địch được người thì liều mạng chứ
sao, việc gì mà phải mấp mánh? Chỉ sợ người khác tiết lộ chỗ mình lẩn lút,
rồi hiếp đáp mấy cô gái yếu đuối. Hành động của bậc đại trượng phu quang
minh lỗi lạc đâu có hèn mạt như thế?
Mặt Chung Vạn Cừu lúc xanh xám, lúc đỏ bừng, dường như những lời nói
của Đoàn Dự là những đòn đánh mạnh vào tâm khảm lão. Mắt lão nẩy ra
những hào quang hung dữ. Lão mím môi đứng ngẩn người ra một lúc, đột
nhiên nổi giận đùng đùng, nắm tay đấm mạnh xuống bàn đánh “rầm” một
cái. Bàn bị gãy đôi ra, lão lại đưa chân đá phốc vào tường, tường thủng ra
một lỗ lớn. Đoạn hai tay bưng mặt lão la lên:
– Ta là con quỷ nhát gan! Ta là con quỷ nhát gan.
Lập tức lão cắm đầu chạy ra ngoài. Chung phu nhân sợ run cầm cập, phải
vịn vào tường cho khỏi ngã. Bà có ngờ đâu phen này Chung Vạn Cừu lại
không ra tay hạ sát Đoàn Dự. Bà quay lại hỏi chàng:
– Đoàn công tử! Cậu… cậu không hiểu võ công thật ?
Rồi giơ tay ra vỗ vào sau lưng chàng, chỗ huyệt rất hiểm yếu, chỉ vận động
nội công một chút, đập vào là Đoàn Dự không chết cũng bị thương. Song
Đoàn Dự không hiểu tý gì về võ công nên không biết đó là nguy hiểm, thản
nhiên đáp:
– Vãn sinh cha từng luyện tập võ nghệ, công đâu mà học cái môn để đánh
giết người ấy?
Chung phu nhân thử qua đủ biết chàng nói thật liền ngập ngừng:
– Cậu thật to gan lớn mật, vậy mà dám cùng hắn gây sự.
Đoàn Dự hỏi:
– Phu nhân bảo vãn sinh gây sự với ai?
Phu nhân đỏ mặt không đáp câu chàng hỏi, quay ra gọi nữ tỳ lại bảo:
– Mi lấy thuốc dấu rịt cho hai cô này, đừng để máu chảy ra nhiều quá!
Nữ tỳ vâng dạ ẵm Thi Vân cùng Phạm Hà vào gian chái. Đoàn Dự thấy mặt
con nữ tỳ vẫn thản nhiên nh thường, không hề mảy may xúc động thì biết
rằng nó đã quen với thảm cảnh máu chảy thịt rơi quá nhiều rồi, chẳng kém
bọn Tư Không Huyền.
Chung phu nhân chống tay vào má, lặng lẽ ngẫm nghĩ, mặt biến đổi, dường
như trong lòng đang tính toán việc gì rất nan giải, không sao giải quyết
được.
Đoàn Dự vừa rồi nổi lòng nghĩa khí, bồng bột phát ra những lời xúc phạm
Chung Vạn Cừu để toan liều chết, bây giờ thấy từng vũng máu đọng trên
mặt đất không khỏi sởn gai, rùng mình. Chàng nghĩ thầm: “Ta phải liệu mà
xa chạy cao bay, nếu còn trù trừ thì tất tính mạng không toàn mà bị chết
một cách thê thảm”.
Nghĩ vậy chàng vừa bước chân ra cửa vừa ngoảnh mặt vái chào phu nhân,
thưa rằng:
– Vãn sinh đã trọn phận sự đưa tin, xin phu nhân gấp rút tìm cách giải cứu
cho lệnh ái đi!
Chung phu nhân nói:
– Công tử hãy khoan!
Đoàn Dự dừng bước, phu nhân tiếp:
– Công tử chưa biết, lang quân ta đã nặng lời thề suốt đời không ra khỏi
hang này nửa bước. Nay tiểu nữ bị người bắt giữ, lão quyết chẳng chịu đi
cứu nó đâu. Hừ khó quá! Việc đã đến thế này, thôi ta đành theo công tử đi
vậy.
Đoàn Dự vừa lo, vừa mừng nói:
– Phu nhân đi được cùng vãn sinh thì còn gì hay bằng?
Chàng sực nhớ tới lời Chung Linh hỏi thêm:
– Phu nhân trị được rắn độc chăng?
Chung phu nhân lắc đầu nói:
– Ta không trị được.
Đoàn Dự lại hỏi:
– Vậy thì… vậy thì làm thế nào được?
Chung phu nhân chạy vào phòng ngủ, vội vàng viết vài chữ để lại, thu thập
mấy thứ quần áo cùng đồ vật cần dùng mang theo rồi trở ra bảo Đoàn Dự:
– Ta đi thôi!
Thế rồi bước ra trước. Đoàn Dự vội vào góc nhà lợm con thanh linh quấn
vào lưng.
Phu nhân trên nét mặt kiều diễm vẫn lộ vẻ hoảng hốt đi mau hơn Đoàn Dự
nhiều. Chàng lật đật chạy theo, trong lòng chưa hết thắc mắc hỏi lại:
– Phu nhân không trị được nọc rắn, vãn sinh e rằng đảng Thần Nông không
chịu buông tha lệnh ái.
Chung phu nhân lạnh lùng đáp:
– Ai cần bọn chúng tha? Đảng Thần Nông dám cả gan bắt giữ con gái ta là
không nể mặt ta rồi. Ta không cứu đợc người, há lại không biết giết người
sao?
Đoàn Dự nghe nói không khỏi chột dạ. Vài lời đơn giản mà ngụ ý coi mạng
người như cỏ rác, hành động chẳng kém gì tên hung thần ác quỷ Chung Vạn
Cừu. Có chăng chỉ khác ở chỗ phu nhân coi bề ngoài có vẻ mặt xinh đẹp, ôn
hoà cùng dáng điệu hay luống cuống sợ sệt khiến cho chàng thư sinh càng
phải khiếp phục.
Hai ngời vừa nói chuyện vừa chạy, chừng hơn một dặm chợt có tiếng gọi
to:
– Phu nhân! Nàng… nàng đi đâu đó?
Đoàn Dự ngoảnh đầu nhìn lại thì ra Chung Vạn Cừu theo đường lớn chạy
như bay đuổi gần đến nơi. Chung phu nhân luồn tay qua nách Đoàn Dự,
nhấc bổng lên quát một tiếng “mau”, rồi cứ nhằm phía trước mà tiến. Đoàn
Dự chân không chấm đất, mất hết tự chủ để mặc phu nhân cắp chạy. Thành
ra trước hai sau một, cả ba người cùng lớt như bay, thoáng cái đã được vài
chục trượng.
Kể ra thì khinh công Chung phu nhân còn cao hơn chồng một bậc nhưng
còn phải đèo thêm một người nên Chung Vạn Cừu dần dần đuổi kịp. Đoàn
Dự ruột nóng như lửa, biết rằng chỉ làm sao ra khỏi được cửa hang, tất
nhiên Chung Vạn Cừu giữ lời thề độc không dám đuổi theo nữa. Chàng
bỗng nẩy ra một ý nghĩ: võ công tuy là một môn hại người nhưng giả tỷ
mình học được môn khinh công kể ra rất có lợi mà không hại ai. Chàng tự
hối hận sao không học trước để bây giờ chạy cho lẹ hơn. Chạy còn cách cửa
hang chừng hơn mười dặm, Đoàn Dự đã thấy hơi thở Chung Vạn Cừu phập
phù thổi vào sau gáy. Bỗng nghe đánh “roạt” một tiếng, rồi Đoàn Dự thấy
sau lưng mát lạnh thì ra áo chàng đã bị Chung Vạn Cừu nắm được, kéo rách
toạc một miếng.
Chung phu nhân dùng tay trái hất Đoàn Dự ra ngoài hơn một trượng và quát
lên “chạy đi!”, còn tay phải rút thanh trường kiếm quay lại đâm, cốt để ngăn
cản không cho Chung Vạn Cừu đuổi theo.
Sẵn có võ công tột bậc, Chung Vạn Cừu có thể tránh mũi kiếm dễ như chơi,
huống chi Chung phu nhân tuyệt không có ý giết chồng. Ai ngờ lưỡi kiếm
phóng đi thấy hơi vướng vì mũi kiếm đã đâm vào ngực Chung Vạn Cừu. Thì
ra gã không muốn tránh, cốt ý nhận lấy nhát kiếm của vợ.
Chung phu nhân thất kinh không dám rút kiếm, quay đầu lại thấy mặt chồng
đầy vẻ phẫn nộ, khoé mắt rưng rưng ướt lệ, trước ngực máu loang. Lão cất
tiếng thê thảm hỏi vợ:
– Uyển Thanh, Uyển Thanh nàng ơi! Nàng… nàng nhất định bỏ ta đấy ?
Chung phu nhân thấy nhát kiếm tự tay mình đâm trúng ngực chồng tuy
không đụng đến trái tim nhưng sâu tới vài tấc, không biết sống chết ra sao.
Trong lúc hoảng hốt phu nhân rút mũi kiếm ra, tay nắm chặt lấy vết thương,
nhưng máu tuôn ra như suối chảy, luồn qua kẽ ngón tay phun ra ngoài.
Chung phu nhân giận dỗi hỏi:
– Tại sao mình không tránh?
Chung Vạn Cừu nhăn nhó cười và đáp:
– Nàng đã muốn lìa bỏ ta thì ta chết phứt đi cho rồi.
Chung phu nhân hỏi:
– Ai bảo tôi lìa bỏ mình?… Tôi đi cứu con vài ngày rồi lại trở về chứ đi đâu?
Đoạn đem chuyện Chung Linh bị đảng Thần Nông bắt giữ thuật luôn một
hồi. Đoàn Dự thấy tình cảnh như vậy trong tâm không khỏi xúc động, ngẩn
người ra một hồi. Sau chàng trấn tĩnh lại vội xé vạt áo, ba chân bốn cẳng
chạy lại, định buộc vết thương cho Chung Vạn Cừu. Không ngờ Chung Vạn
Cừu đưa chân trái ra đá cho motä cái và quát to lên rằng:
– Quân vô loài! Ta không muốn nhìn mặt mi.
Rồi hỏi Chung phu nhân:
– Nàng định lừa dối ta, ta không thể tin đưbợc. Đúng là thằng chó chết này
đến định rủ nàng đi. Dù nó hoá ra thành tro than ta vẫn nhận ra được mặt
nó. Nó còn có cái tội nặng lời sỉ nhục ta.
Nói xong ho rũ ra, mỗi cơn ho máu chỗ vết thương lại chảy ra rất nhiều.
Lão chợt nhớ ra điều gì quay lại hỏi Đoàn Dự:
– Mi lại đây! Dù ta bị trọng thương rồi ta vẫn không sợ phép “Nhất Dương
Chỉ” của nhà mi đâu. Lại đây mau cùng ta thử sức!
Đoàn Dự bị cái đá trời giáng ngã lăn ra, má bên trái đâm vào viên đá nhỏ
nhọn hoắt, một bên mặt máu tươi chảy ra đỏ lòm, lóp ngóp bò dậy nói:
– Tại hạ là Đoàn Dự, quê ở Giang Nam, thực không hiểu “Nhất Dương Chỉ”,
nhị dương chỉ là chi hết.
Chung Vạn Cừu lại ho lên mấy tiếng, vẫn một giọng căm hờn:
– Mi còn giả vờ nữa ? Mi về gọi cha mi đến đây!
Lão càng căm hờn lại càng ho dữ. Chung phu nhân nói:
– Mình vẫn chưa chừa cái thói nghi ngờ một cách mù quáng. Mình đã không
tin tôi thì trước mặt mình đây tôi chết đi còn hơn.
Nói xong phu nhân lượm thanh trờng kiếm dưới đất lên toan đâm cổ tự
vẫn. Chung Vạn Cừu vội giằng tay lại, lộ vẻ vui mừng nói:
– Nàng ơi! Có thực không phải nàng bỏ tôi để đi theo quân vô loài kia
chăng?
Chung phu nhân đáp:
– Người ta là một vị công tử họ Đoàn, sao mình lại ăn nói càn rỡ? Luôn
miệng xỉa xói hết bằng quân vô loài nọ đến quân vô loài kia? Tôi định theo
công tử đi giết hết bọn Thần Nông để giải cứu đứa con gái quý báu của
chúng ta về.
Mặc dầu Chung Vạn Cừu đang bị trọng thương nhưng thấy vợ giận dỗi thì
lại rất thương yêu, lão tươi cười đấu dịu:
– Nểu quả như vậy thì lỗi tại ta.
Chung phu nhân xem vết thương thấy máu chảy hoài, nước mắt chan hoà
nức nở:
– Bây giờ biết làm… làm thế nào?
Chung Vạn Cừu cả mừng, đưa tay lên vuốt ve lưng vợ nói:
– Uyển Thanh nàng ơi! Mình lo lắng cho tôi thế này, dù tôi có chết đi chăng
nữa, tưởng cũng không uổng chút nào.
Chung phu nhân hai má ửng đỏ nhẹ nhàng đẩy tay chồng ra nói:
– Đoàn công tử kia kìa, mình làm gì như kẻ điên rồ vậy?
Chung phu nhân thấy chồng đã nguôi giận, nhưng sắc mặt lại càng nhợt
nhạt, trong lòng lo sợ nói:
– Thôi tôi không đi cứu Linh Nhi nữa, nó đã gây nên tai vạ, tính mạng nó
đành phó thác mặc trời.
Đoạn nâng chồng dậy và bảo Đoàn Dự:
– Đoàn công tử! Cậu đến bảo với Tư Không Huyền rằng chồng ta đã chết
rồi. Nếu hắn mà động đến chân lông con gái ta thì đừng trách Hương dược
xoa Mộc Uyển Thanh này độc ác.
Đoàn Dự thấy Chung Vạn Cừu bị thương nặng không kể rồi, Chung phu
nhân cũng không thể bỏ chồng trong lúc thập tử nhất sinh để đi cứu con, chỉ
còn trông vào sáu chữ: “Hương dược xoa Mộc Uyển Thanh” may ra có hăm
doạ được lão Tư Không Huyền chăng? đó còn là một nghi vấn. Chàng nghĩ
đến đoạn trường tán ở trong ruột mình dĩ nhiên không ai giải cứu được mà
giật mình tự nhủ: “Cơ sự đã đến thế này, nói lắm cũng vô ích”, liền cáo từ
Chung phu nhân:
– Vãn sinh xin kiếu để lên đường, đem lời dặn của phu nhân bảo đảng Thần
Nông.
Chung phu nhân Mộc Uyển Thanh thấy chàng vừa nói vừa cất bước, hành
động quả quyết chóng vánh, không chút ngần ngại, chợt nhớ đến một người
liền gọi chàng lại dặn:
– Đoàn công tử, ta còn câu này nữa:
Nói rồi đặt Chung Vạn Cừu xuống, vọt đến trước mặt Đoàn Dự, lấy trong
bọc ra một vật nhét vào tay chàng và dặn nhỏ:
– Công tử cầm vật này trao lại cho Đoàn Chính Minh.
Đoàn Dự nghe đến ba chữ tên Đoàn Chính Minh, không giữ được bình tĩnh,
thay đổi sắc mặt. Mộc Uyển Thanh là người rất tinh tế, vừa nói ba chữ Đoàn
Chính Minh vừa chú ý nhìn mặt Đoàn Dự. Thấy chàng biến sắc bà thở phào
một cái nói tiếp:
– Công tử còn dấu ta được nữa chăng? Thôi công tử đi cứu tính mạng cho
con ta, đồng thời cứu cả tính mạng cho mình nữa.
Rồi không đợi Đoàn Dự trả lời, lật đật trở lại nâng chồng dậy đưa về.
Đoàn Dự cầm lên xem Chung phu nhân vừa nhét vào tay cho mình vật gì thì
ra một cái hộp nhỏ bằng vàng, chạm trổ rất tinh vi. Chàng mở nắp hộp ra
thấy bên trong đựng một mảnh giấy để lâu ngày đã biến ra mầu vàng lợt.
Trên mảnh giấy còn vết tích mấy giọt máu và viết mười chữ: “Năm quý hợi,
tháng hai, ngày mồng năm, giờ sửu”. Nét chữ mềm mại, tựa như do tay một
người đàn bà viết. Ngoài mảnh giấy ra không còn vật gì nữa.
Đoàn Dự tự hỏi: “Bát tự này ghi năm tháng, ngày giờ sinh của ai? Phu nhân
bảo ta đưa về cho gia gia để làm gì? Nó có ăn thua gì đến việc giải cứu tính
mạng Chung cô nương cùng ta đâu? Chung phu nhân đã đoán ra ta là con
trai gia gia ta. Lại xem những lời Chung Vạn Cừu la mắng ta thì đủ biết lão
cũng nhìn thấy diện mạo ta giống hệt gia gia ta, hay là lão có thù hằn gì với
nhà ta?”.
Chàng đang suy nghĩ chợt nghe có tiếng người gọi:
– Đoàn công tử hãy thong thả!
Đoàn Dự quay đầu nhìn lại thấy một ông già mặc áo ngắn chạy tới thi lễ
nói:
– Lão nô là Chung Phúc vâng lệnh phu nhân đến đưa công tử ra khỏi hang.
Đoàn Dự gật đầu nói:
– Nếu vậy càng hay!
Chung Phúc đi trước dẫn đường ra tới cửa hang, bước vào quan tài rồi từ
trong mả chui lên. Lão dẫn Đoàn Dự đi theo một lối rẽ khác. Đi chừng sáu
bảy dặm, đến trước một toà nhà lớn thì dừng lại. Chung Phúc bảo Đoàn Dự:
– Công tử đứng chờ đây một lát.
Lão không đập cổng gọi, nhảy vọt qua tường vào trong. Lúc đó trời đã tối
mịt, trên trời ánh sao lờ mờ. Đoàn Dự liên tưởng đến pho tượng ngọc mỹ
nhân dưới đáy sông. Bất thình lình trong cổng có tiếng vó câu lộp cộp và
tiếng ngựa hi he. Đoàn Dự bất giác bật lên tiếng khen “Ngựa hay tuyệt”.
Cánh cổng chợt mở, đầu ngựa ló ra, đôi mắt lóe sáng trong đêm tối. Nhác
trông Đoàn Dự đã biết ngay là một giống thần câu, khác hẳn ngựa thường.
Lông nó đen láy, bốn vó thon thon như vó ngựa nhỏ nhưng rất cao, toàn
thân coi bộ hùng vĩ hiên ngang.
Con tiểu tỳ giắt ngựa, tóc còn buông rủ, trời tối không trông rõ mặt, tuổi
chừng mười bốn mười lăm, dáng điệu rất là mềm mại.
Chung Phúc theo sau con ngựa, nói với Đoàn Dự rằng:
– Thưa công tử, phu nhân sợ công tử không đủ thì giờ về Đại Lý, sai lão nô
qua đây mượn con tuấn mã này để công tử đi cho kịp.
Đoàn Dự được xem ngựa đã nhiều, mới nghe tiếng con này kêu cũng đã biết
là ngựa hay vô cùng. Hàng vạn con chưa chắc đã chọn được một. Chàng
hoan hỉ đáp:
– Tôi xin đa tạ!
Chàng toan đưa tay ra đón lấy dây cương. ả tiểu tỳ nhẹ nhàng xoa đầu và
vuốt ve bờm ngựa nhẹ nhàng bảo:
– Hắc mai côi! Hắc mai côi! Tiểu thư cho công tử mượn ngươi để cỡi,
ngươi phải nhất nhất nghe lệnh công tử. Đi mau lên rồi mà về nghe!
Con ngựa quay đầu lại liếm tay ả, coi bộ thân mến lắm. Tiểu tỳ dặn ngựa
rồi cầm cương đưa cho Đoàn Dự nói:
– Con ngựa này không thể giục bằng roi vọt được. Công tử càng ngọt ngào
chừng nào nó càng mau lẹ chừng ấy.
Đoàn Dự kính cẩn nói:
– Dạ thưa Hắc mai côi tiểu thư! Tiểu sinh xin đứng đây thi lễ kính chào tiểu
thư.
Nói rồi xá dài. ả tiểu tỳ nhoẻn miệng cười nói:
– Cậu này thật là duyên dáng quá. à mà cậu cưỡi cho khéo kẻo ngã đấy nhé.
Đoàn Dự vốn quen cỡi ngựa từ thuở nhỏ, chàng nhẹ nhàng nhẩy lên yên
rồi nhìn tiểu tỳ bảo:
– Qua có lời đa tạ tiểu thư cô em nhé!
Tiểu tỳ cười nói:
– Thế cậu không tạ ơn em sao?
Đoàn Dự chắp tay nói:
– Đa tạ cô em nhé! Lúc trở lại qua sẽ đem trái ngon quả lạ về làm quà cho.
Tiểu tỳ vẫn cười nói:
– Xin cậu giữ gìn tính mạng là cần. Cậu đi chuyến này chưa chắc còn trở lại
đây nữa không, ai mà mong trái ngon vật lạ của cậu?
Chung Phúc nói:
– Công tử trông hướng bắc mà tiến ra đường lớn về thẳng nước Đại Lý. Xin
công tử cẩn thận mình vàng, lão nô trở về đây.
Đoàn Dự vừa giơ tay lên, ngựa tung bốn vó nhảy vài đợt đã ra xa tới vài
mươi trượng.
Con Hắc mai côi không cần phải giục, đêm tối mà nó phóng như bay. Đoàn
Dự ngó hai bên đường, cây cối trong rừng trông tựa như chạy giật lùi lại
sau. Chàng ung dung ngồi trên ngựa, êm ru dị thường tuyệt không thấy xóc
chút nào. Chàng nghĩ thầm: “Con ngựa chạy nhanh như gió thế này thì chỉ
trưa mai là về đến Đại Lý. Nhưng không biết gia đình mình có chịu can
thiệp cái vụ rắc rối cùng khách giang hồ này không? Chẳng lẽ mình lại phải
qua năn nỉ bá phụ? ôi việc đã xảy ra nhường này mình đành phải cúi đầu
van cha, lạy bác vậy chứ biết làm sao?”.
Đi chưa tới một khắc đồng hồ đã được chừng mười dặm. Một đêm gió thổi
hiu hiu, mùi hương dịu mát của cây cỏ thổi vào mặt, chàng tự nhủ: “Cái
cảnh đêm thanh ruổi ngựa kể cũng là một nguồn lạc thú của con người”.
Bất thình lình phía trước mặt chàng có người đón đường quát to lên rằng:
– Con tiện tỳ kia! Đứng lại!
ánh đao lấp loáng trong đêm tối nhằm chàng chém tới, nhưng ngựa chạy lẹ
quá, đao chém vào quãng không. Ngựa tung vó lên đã nhảy xa hơn hàng
trượng.
Đoàn Dự ngoảnh đầu lại, nhìn thấy phía sau có hai gã đại hán đang đuổi
theo rất gấp. Một gã sử lưỡi đản đao, còn một gã sử cây trường thương. Hai
gã vẫn lớn tiếng mắng:
– Con tiện tỳ kia! Gái mặc giả trai, định che mắt lão gia phải không?
Chỉ trong chớp mắt, ngựa phi nhanh như cuốn gió đã bỏ hai người một
quãng khá xa. Hai gã đại hán tuy chạy mau, đuổi gấp mà trong khoảnh khắc
tiếng la gọi cũng không nghe thấy nữa.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Hai tên lỗ mãng này mồm năm miệng mười gọi ta là
con tiện tỳ, rồi gã còn nói cái gì gái mặc giả trai. Thôi phải rồi, bọn chúng
đón đường chủ nhân con Hắc Mai Côi để trả hận. Chúng nhìn rõ ngựa mà
không nhận ra người cỡi ngựa là ai. Thật là quân lỗ mãng!”.
Chàng đi thêm quãng nữa, bỗng la lên: Thôi hỏng to rồi! Ta nhờ con ngựa
này phóng nhanh mà thoát được hai gã phục kích. Xem ra hai gã này võ
nghệ không phải tay vừa. Nếu tiểu thư không biết vụ này, cứ nghiễm nhiên
đi ra tất bị chúng ám toán. Ta phải trở lại báo tin cho tiểu thư mới được.
Chàng liền dừng ngựa lại nhủ:
– Hắc Mai Côi! Hắc Mai Côi! Có người toan ám hại tiểu thư ngươi đó,
chúng ta phải quay lại báo tin cho tiểu thư hay để nàng gia tâm đề phòng và
chỉ ở nhà đừng có ra ngoài.
Thế rồi Đoàn Dự bắt ngựa quay đầu theo đường cũ, trở lộn về. Gần đến chỗ
hai gã đại hán đón đường vừa rồi, chàng ôn tồn giục ngựa:
– Lẹ lên! Lẹ lên!
Con Hắc Mai Côi hình như hiểu tiếng người, vừa nghe tiếng giục “lẹ lên”,
quả nhiên nó phóng nhanh hơn trước. Nhưng tới nơi lại chẳng thấy hai gã
đại hán đâu nữa. Đoàn Dự lại càng nóng ruột tự hỏi: “Phải chăng hai gã này
đến vây trang trại tiểu thư? Nếu vậy càng nguy biết mấy?”. Chàng luôn
mồm giục ngựa:
– Hắc Mai Côi! Chạy cho mau! Hắc Mai Côi! Chạy cho mau!
Hắc Mai Côi! Phi như bay, vó không chấm đất, chạy về đến trước trại, bất
thình lình hai cây côn phóng ra phang chân ngựa. Hắc Mai Côi không chờ
Đoàn Dự giục, nhảy vọt lên qua khỏi, tiện thế đưa hai chân sau đá phốc một
cái, trúng tên cầm côn bắn ra xa.
Hắc Mai Côi rướn lên một cái nữa là đến cổng trại. Đoàn Dự thấy bốn năm
tên đứng đó thò tay ra giằng lấy dây cương. Tay phải Đoàn Dự bị giựt mạnh
một cái, lôi chàng xuống, đoạn có tiếng quát hỏi:
– Thằng nhỏ này! Mi đến chi đây? Dòm dỏ cái gì?
Đoàn Dự than thầm: “Thật là hỏng bét. Toà nhà này đã bị người vây kín cả
rồi. Không biết chủ nhân đã mắc độc thủ của chúng chưa?”. Tay phải chàng
bị một bàn tay nắm giữ, chẳng khác gì cái đai sắt bóp chặt lại, làm cho cả
nửa người tê nhức. Chàng nói:
– Ta đến tìm chủ nhân tòa nhà này. Tụi bay đến đây làm gì mà hung hăng
thế?
Chợt có tiếng khàn khàn của một lão già khác hỏi:
– Thằng nhãi ranh kia cỡi ngựa của con tiện tỳ, chắc là chỗ thân thích với
nhau. Hãy thả cho nó vào, bọn ta đã nhổ cỏ phải nhổ hết rễ, để rồi tóm cả
một mẻ.
Đoàn Dự hoảng hồn nghĩ thầm: “Thôi ta tự chui đầu vào tròng mất rồi! đã
đến thế này dù muốn chạy đi cũng không thoát được nữa, đành hãy vào đây
rồi sau sẽ liệu”.
Gã kia buông tay chàng ra. Chàng sửa lại khăn áo chỉnh tề rồi ngang nhiên
đi vào. Vào qua cổng đến một trang viện, giữa là lối đi lát đá, hai bên trồng
toàn Mai Côi, hương thơm sực nức. Con đường đá này khúc khuỷu, quanh
co xuyên qua một cái cổng tò vò. Đoàn Dự cứ theo đường đá đi mãi vào
trong, trông hai bên đều có người đứng rải rác cả. Chàng chợt nghe trên cao
có tiếng người ho, ngẩng lên nhìn đầu tường cũng có tới bảy tám người tay
cầm gươm đao sáng loáng. Trời tối trông ánh gươm đao lại càng ghê rợn cả
ngời. Đoàn Dự tự hỏi: Tòa nhà này xem chừng không to là mấy, làm gì có
nhiều người ở, vậy mà chúng kéo đến làm gì lắm thế? Phải chăng chúng
định giết sạch cả nhà người ta?
Tuy trời tối nhưng Đoàn Dự ngó thấy tên nào cũng nhìn mình trừng trừng,
vẻ mặt hung dữ. Có đứa tay lăm lăm cầm đốc gươm thị uy. Chàng cố gượng
trấn tĩnh, nhìn vào tận cùng đường đá thấy một toà đại sảnh. ánh đèn lửa
trong nhà qua khe cửa lọt ra ngoài. Đoàn Dự đi thẳng đến trước cửa dõng
dạc lên tiếng:
– Tại hạ là Đoàn Dự có việc xin vào ra mắt chủ nhân.
Trong nhà có tiếng khàn khàn quát hỏi:
– Ai? Vào trong này!
Đoàn Dự cảm thấy bực mình, đẩy mạnh cửa bước vào. Chàng không khỏi
kinh ngạc khi đưa mắt nhìn thấy kẻ đứng người ngồi có đến mười bảy, mười
tám người. Trên ghế tựa giữa nhà, một người đàn bà áo đen ngồi xây lưng ra
ngoài. Tuy không rõ mặt nhưng trông dáng dấp đường sau cùng mớ tóc đen
lánh, óng mượt rủ xuống thì biết ngay là một trang thiếu nữ. Xung quang
nàng có đến hơn mời người, vừa đàn ông, vừa đàn bà lại có hai nhà sư và
ba bị đạo sĩ. ấy là chưa kể bên trờng kỷ phía đông còn một ông già, một bà
lão cùng hai nhà sư. Chỉ có bốn vị này là tay không còn ngoài ra đều cầm
binh khí.
Trước mặt bà lão, một người nằm sóng sượt dưới đất, trên cổ có vết đao
chém và đã chết từ bao giờ. Đoàn Dự nhìn lại, té ra là lão Chung Phúc,
người bên hang Vạn Kiếp vừa đưa chàng qua đây mượn ngựa lúc nãy. Tuy
Đoàn Dự mới biết lão lần đầu nhưng lão là người tử tế lễ phép, giờ thấy lão
bị thảm tử mà nguyên nhân tự mình gây ra nên chàng rất ngậm ngùi trong
dạ.
Ông già ngồi trên trường kỷ đầu tóc bạc phơ, nhưng dưới cằm nhẵn thín
không có lấy một sợi râu lên giọng khàn khàn quát hỏi Đoàn Dự:
– Thằng nhỏ kia! Mi đến đây có việc gì?
Ngay từ lúc mới bước chân vào Đoàn Dự đã định sẵn chủ ý: mình dấn thân
vào nơi hiểm địa nếu tìm được kế thoát thân là nhất nếu không thì coi như
bị hung tinh chiếu mệnh, nói năng năn nỉ với đám côn đồ cũng chẳng ích gì.
Sở dĩ chàng trông thấy Chung Phúc bị giết, máu nóng sôi lên sùng sục,
chàng không còn biết sợ hãi là gì nữa, hiên ngang đáp:
– Tại hạ là Đoàn Dự, lão trượng cũng thuộc hạng người có tên có họ như ai,
chẳng qua chỉ sống hơn nhau mấy chục tuổi, sao lại dám ỷ mình già nua,
khi khinh hậu bối buông lời vô lễ?
Lão già lông mày đứng dựng ngược lên, mắt nẩy hào quang, tướng mạo cực
kỳ oai nghiêm, không nói gì.
Một gã đại hán đứng đầu đằng này nạt lớn:
– Thằng giặc con này không còn biết trời, biết đất chi cả. Lão già đây gọi
mi là thằng nhỏ còn không đáng hay sao? Mi có biết lão gia là ai không?
Thật mi có mắt mà không thấy núi Thái Sơn.
Đoàn Dự thấy ông già khí phách khác kẻ tầm thường, trong thâm tâm cũng
có đôi phần kính nể liền đáp:
– Ta biết lão trợng đây là ngời có lai lịch chớ chẳng không. Xin lão
trượng cho biết cao tính đại danh!
Lão già không trả lời, gã ngồi bên kia đáp:
– Ta nói cho mi biết để mi có về âm phủ cũng nhắm mắt được. Lão gia đây
chính là Nộ Giang Vương, Tam chưởng tuyệt mệnh Tần lão gia đó.
Đoàn Dự nói:
– Tam chưởng tuyệt mệnh ? Sao lại dùng cái ngoại hiệu khó nghe thế nhỉ,
Tần lão gia sao còn gọi là Nộ Giang Vương?
Nộ Giang Vương Tam chưởng tuyệt mệnh Tần Nguyên Tôn không những
oai danh lừng lẫy cõi Thiên Nam mà thôi, trong các phái võ tại Vân Nam,
lão cũng là một nhân vật khét tiếng. Tóm lại các anh hùng hảo hán trên nam
ngạn cũng như bắc ngạn sông Trường Giang đều ngưỡng mộ oai phong Tần
Nguyên Tôn. Ngờ đâu Đoàn Dự nghe xong không thèm để ý.

Hết Chương 5

Hết Hồi 5

===============================================================

Chương 6

Thiếu nữ áo đen


Kim Dung

Chung phu nhân nghe báo xúc động quá, tinh thần bàng hoàng, giây phút
trấn tĩnh lại được, hỏi ngay:
– Tiểu nữ mắc chuyện gì?
Đoàn Dự liền quay lại, vén áo dài lên, cởi con thanh linh ở trong lưng ra
cầm hai tay đưa trình phu nhân thưa:
– Xin bá mẫu hãy coi vật này! Lệnh ái đã đưa cho vãn sinh đem về làm tin.
Chung phu nhân vừa thấy con thanh linh thì nhíu đôi mày, giật lùi lại để
tránh, lộ vẻ hoảng hốt nói:
– Công tử không ngán loại rắn độc này ? Xin cậu đem nó bỏ vào tận góc
nhà kia!
Đoàn Dự thấy phu nhân sợ rắn rất lấy làm kỳ. Chàng cuộn tròn con thanh
linh lại, đem bỏ góc nhà, rồi trở lại chỗ ngồi đem chuyện mình gặp Chung
Linh ở cung Kiếm Hồ trong trường hợp nào, tự mình đòi đi can thiệp vào
việc đảng Thần Nông ra sao, Chung Linh bị dồn vào tình thế bắt buộc phải
cho con Kim linh ra cắn người rồi bị đảng Thần Nông bắt giữ thế nào nên
mình phải đến đây cầu cứu, nhất nhất thuật hết một lợt nhưng không đả
động gì đến chuyện pho tượng ngọc mỹ nhân trong thạch thất dưới rốn hồ.
Chung phu nhân lẳng lặng, chăm chú lắng nghe chàng thuật chuyện, nét
mặt mỗi lúc một thêm vẻ lo âu. Chờ Đoàn Dự dứt lời, phu nhân thở dài
thườn thượt nói:
– Con nhỏ này cứ bước chân ra khỏi cửa là lại sinh chuyện lôi thôi, chuốc
lấy tai họa.
Đoàn Dự nói:
– Vụ này là do vãn sinh gây ra, bá mẫu chẳng nên quở trách cô nương.
Chung phu nhân run run nhìn chàng nói nhỏ:
– ừ phải! Kể ra vụ này chẳng nên trách y. Ngay mình trước kia cũng thế.
Đoàn Dự hỏi:
– Sao kia ạ?
Chung phu nhân rùng mình, hai má ửng hồng. Tuy bà đã đứng tuổi song vẻ
thẹn thùng, e lệ chẳng khác chi cô gái đang xuân, bà ngượng nghịu đáp:
– Ta… ta nhớ lại một chuyện ngày xa.
Trong khi phu nhân nói câu này, mặt bà đỏ bừng lên rồi đánh trống lảng:
– Ta nghĩ việc này nan giải quá!
Đoàn Dự thấy phu nhân thường thay đổi sắc mặt, ra vẻ hoang mang thì nghĩ
thầm trong bụng: “Bà này không được bình tĩnh bằng cô con gái”. Giữa lúc
ấy ngoài sân có tiếng nói lạnh lẽo khô khan:
– Mi chưa từng nghe nói đến quy củ trong hang Vạn Kiếp của ta hay sao?
Chung phu nhân giật mình bảo Đoàn Dự:
– Lang quân ta đã về, tính người đa nghi lắm, Đoàn công tử hãy tạm lánh
mặt đi!
Vãn sinh cần được bái kiến tiền bối, xin để…
Chàng cha dứt lời, Chung phu nhân liền một tay bịt miệng chàng còn một
tay kéo tuột vào mái hiên phía đông, ghé tai bảo:
– Công tử nấp vào đây, chớ có lên tiếng nhé! Lang quân ta tính nóng như
lửa, chỉ lỡ một tý là chàng mất mạng dễ như chơi, ta không cứu nổi đâu.
Chung phu nhân người đẹp là thế, bề ngoài ra vẻ khiếp nhược là thế, mà bản
lãnh không vừa. Đoàn Dự bị kéo tuột đi, muốn kháng cự không được, đành
chịu một phép. Chàng cảm thấy ấm ức trong lòng, nghĩ mình vất vả lặn lội
đến báo tin, dù sao mình cũng là một người khách mà phải ẩn nấp lén lút,
chẳng khác gì kẻ trộm cắp.
Đoàn Dự còn đang bất mãn bỗng nghe tiếng một người con gái nói:
– Sư tỷ tiểu nữ bị rắn độc cắn, tính mạng nguy đến nơi, xin lão tiền bối ra
tay giải cứu!
Nói chưa dứt lời, ba người đã vào đến nhà khách. Đoàn Dự ghé mắt nhòm
qua khe vách, thấy một cô gái áo xanh, lưng đeo trường kiếm, tay cắp
ngang lưng một cô gái khác, kêu cứu luôn miệng. Một người đàn ông áo
đen, cao lênh khênh, gầy như que củi đứng quay ra ngoài nên chàng không
trông rõ mặt, chỉ thấy đôi bàn tay to tướng bỏ thõng xuống cũng đoán ra
thân hình gã có vẻ khác thường.
Đoàn Dự lại nghe tiếng Chung phu nhân hỏi:
– Hai cô là ai? Sao lại biết chỗ chúng tôi ở đây mà đến?
Cô gái áo xanh từ từ đặt cô kia xuống, hỏi lại:
– Phải chăng bà là Chung phu nhân?
Chung phu nhân gật đầu. Cô gái lễ phép nói:
– Tiểu nữ tên gọi Phạm Hà, môn hạ phái Hoa Sơn ở Thiểm Tây xin bái kiến
Chung phu nhân.
Nói xong chắp tay, cúi đầu sụp lạy một cách rất cung kính.
Chung phu nhân nói:
– Tôi không dám! Xin cô nương đứng dậy!
Phu nhân vừa đáp lễ vừa đỡ cô gái đứng lên. Đoàn Dự trông cô gái chừng
hai mơi bảy, hai mươi tám tuổi, mày rậm, mắt thô, tướng mạo như đàn
ông, nét mặt có vẻ ngang tàng. Chàng lại nghe cô nói tiếp:
– Tiểu nữ cùng sư tỷ Thi Vân đây vâng mệnh sư phụ sang Vân Nam có việc.
Đi qua núi Vô Lượng, sư tỷ sơ ý bị một con rắn nhỏ sắc vàng cắn, gây nên
thương tích cực kỳ trầm trọng.
Đoàn Dự vừa nghe nói đến con rắn vàng đã nghĩ ngay: “Hay là con kim linh
của Chung cô nương?”.
Chung phu nhân hỏi:
– Cô ấy làm sao mà bị rắn cắn?
Phạm Hà đáp:
– Bọn tiểu nữ đi xa nhọc mệt, ngồi bên đường nghỉ, bỗng con kim xà ở
trong đám cỏ bò ra, sư tỷ thấy nó ánh vàng rực rỡ, rất lấy làm kỳ, rút kiếm
chém một nhát, không ngờ nó rất lanh lẹ, xông lên cắn vào cườm tay một
miếng. Sư tỷ tối tăm mặt mũi ngã lăn ra…
Người đàn ông áo đen cười ha hả đáp:
– Con kim linh lanh như điện chớp, bọn mi đã biết rồi đấy chứ gì? Những
cao thủ gấp mười còn chả chế phục nổi, sao các ngươi dám cầm kiếm chém
nó? Chết là đáng đời còn kêu ca gì nữa?
Chung phu nhân nói:
– Người ta đã bị trọng thơng, đường xa lặn lội tới đây cầu cứu mình chẳng
nên mỉa mai nữa.
Đoàn Dự nghe Chung phu nhân nói vậy biết người áo đen kia là cha Chung
Linh, động chủ hang Vạn Kiếp, chợt thấy lão quay lại cười ha hả. Chàng
nhác trông mặt lão không khỏi giật mình vì tướng mạo lão rất ghê sợ: mặt
dài như mặt ngựa, mắt cao, mũi to mà tròn ủng sa xuống gần miệng thành
ra giữa mắt và mũi cách một khoảng trống khá lớn. Chàng tưởng đến Chung
Linh mi thanh, mạc tú, nét mặt xinh tươi phải ngạc nhiên sao cha ruột nàng
lại thô bỉ xấu xa đến thế được?
Chung động chủ vốn tính ba hoa, diễu cợt nhưng khi quay lại nhìn vợ lại đổi
ngay ra vẻ mặt ôn hoà, bộ mặt xấu xí, nanh ác đã dịu lại đôi phần. Lão cười
bảo vợ:
– Nàng bảo làm sao ta nghe làm vậy.
Đoàn Dự càng lấy làm kinh nghĩ thầm: “Chung phu nhân vừa nghe tiếng
chồng về đã sợ cuống quít, nhưng giờ xem động chúa đối với bà vợ không
những đầy vẻ thương yêu còn ra dáng kính nể nữa”.
Phạm Hà cũng hi vọng điểm này vội quỳ xuống kêu van:
– Thưa động chúa cùng phu nhân cứu mạng cho sư tỷ, không những sư tỷ
suốt đời đội ơn đức người mà gia sư cũng hết sức cảm kích thịnh tình.
Chung động chúa hỏi:
– Phải chăng gia sư mi là Đại ma tử: Phó Bá Kỳ? Y còn vào hạng đàn em, ta
có cần đếm xỉa gì đến cảm tình của y? Khi ta chết đi y không đến điếu tang.
Tuy nằm trong quan tài nhưng ta biết rõ cả.
Đoàn Dự nghe giọng lão nói mà phát sợ.
Phạm Hà cũng rủa thầm: “ngươi còn sống sờ sờ ra đó, sao khéo bày trò nào
hạch điếu tang, nào đặt quan tài là có ý gì?”.
Chung động chúa bỗng lớn tiếng hỏi:
– Ta lánh cõi trần bấy nhiêu năm, những người ngoài đời không ai biết ta
còn sống ở nhân gian. Ai đã đưa đường trỏ nẻo cho mi tới tìm ta? Sao mi
biết cửa ngõ vào hang Vạn Kiếp?
Mấy câu này Chung động chúa hỏi bằng một giọng rất gay gắt, cặp lông
mày rủ xuống, miệng méo xệch đi, sắc mặt trông lại càng ghê sợ.
Phạm Hà nói:
– Tiểu nữ không còn cách nào cứu được sư tỷ, trong cơn nguy cấp, đành ôm
xốc sư tỷ chạy vội ra thị trấn tìm xem có thầy thuốc nào cứu được chăng?
Trong khi đang chạy bỗng gặp một cô gái áo đen đang đưa tay ra bắt con
kim xà. Con rắn này cũng khắp mình nhấp nhánh ánh vàng. Tiểu nữ vội
vàng bảo nàng: “con rắn này độc ghê gớm lắm, phải tránh đi cho mau!”.
Chẳng ngờ cô không thèm nghe, cứ thò tay ra bắt lấy cuộn bỏ vào bọc…
Tiểu nữ cả mừng nghĩ rằng cô đã chế phục được nó tất có bản lãnh trị được
nọc độc. Tiểu nữ liền năn nỉ xin cô cứu cho thì cô đáp rằng cô không biết trị
rắn độc mà khắp thiên hạ duy có một người trị được mà thôi. Thế rồi nàng
chỉ đường cho tiểu nữ đến đây cầu chúa động. Tiểu nữ xin nàng cho biết
danh tánh nhưng nàng không chịu nói.
Chung chúa động đưa mắt nhìn phu nhân “Hừ” một tiếng rồi nói:
– Đúng là con bé nhà ta rồi đây. Con người này tâm địa không tốt ta phải
hỏi cho ra mới đợc. Chỉ tại Linh nhi đem rắn ra khỏi động đi chơi để rắn
cắn phải người, chuốc lấy tai vạ.
Đoạn gã quay sang hỏi Phạm Hà:
– Cô gái đó có dặn gì mi nữa không?
Phạm Hà đáp:
– Thưa không ạ.
Chung động chúa lạnh lùng hỏi:
– Thật không còn gì nữa chứ?
Phạm Hà đáp ấp úng:
– Hình như cô nơng có dặn thêm: “Đường vào động chỉ có một lối mà thôi.
Nhng khi vào rồi thì khó lòng ra được toàn vẹn. Phải suy tính kỹ lại xem
sao rồi hãy vào”.
Chung động chúa nói:
– ừ! Có thế chứ! Vậy mi đã nghĩ kỹ lại chưa?
Phạm Hà phục xuống đất lạy kêu van:
– Xin động chúa cùng phu nhân mở lượng từ bi.
Chúa động nói:
– Mi dậy đi thôi! Bây giờ có hai con đường, mi chọn lấy một: một là mi
cùng sư tỷ mi phải chung thân ở lại hang này phục vụ phu nhân. Hai là
chặt tay, cắt lưỡi để không còn đem điều bí mật ở đây tiết lộ ra ngoài được.
Phạm Hà giọng nói run run năn nỉ:
– Tiểu nữ vâng lệnh sư phụ đi Vân Nam có việc gấp. Nếu ở lại đây chầu hầu
phu nhân thì trái lệnh sư phụ.
Chung chúa động nói:
– Thế là mi chọn điều thứ hai phải không?
Phạm Hà tiến lên hai bước ôm lấy chân Chung phu nhân cầu khẩn:
– Xin phu nhân rủ lòng thương đến tiểu nữ. Tiểu nữ ra khỏi động quyết
không dám nói nửa lời, nếu tiểu nữ hớt lẻo cam chịu chết thảm hại dưới
ngàn lưỡi đao.
Chung chúa động cười hềnh hệch nói:
– Chung Vạn Cừu này nếu không nhẹ dạ tin lời thề thốt của người thì đâu
đến nỗi phải trá tử mà chui rúc dưới hang tối như thân rùa?
Rồi đột nhiên lão thò tay trái ra nắm cổ Phạm Hà xách lên. Kể phái đàn bà
thì Phạm Hà cũng là tay võ công khá cao rồi thế mà Chung Vạn Cừu xách
giơ lên cao, chân cách mặt đất đến hơn ba thước. Nàng sợ cuống cuồng kêu
la rầm rĩ đồng thời đưa chân phải phóng ra đá vào ngực Chung Vạn Cừu.
Chung Vạn Cừu không thèm né tránh đưa ngực ra đón lấy cái đá. Bỗng nghe
đánh rắc một tiếng bàn chân Phạm Hà bị gãy cụt. Chung Vạn Cừu vung tay
phải ra, một luồng ánh đen lấp loáng, tựa hồ như trong tay có giấu một lưỡi
đao trủy thủ, chợt nghe hai tiếng “xẹt xẹt” hai cổ tay Phạm Hà đã bị thiến
tẩy.
Chung phu nhân kêu lên một tiếng hãi hùng. Chung Vạn Cừu lại đưa hai
ngón tay khoáng một cái. Phạm Hà rú lên một tiếng thê thảm, miệng trào
máu tươi ra ồng ộc, đúng là nàng đã bị cắt lưỡi rồi.
Đoàn Dự trông thấy ghê hồn, trống ngực đánh hơn trống làng. Chàng đưa
tay lên bịt miệng không dám ho he nửa tiếng, nhưng trong bụng rủa thầm:
“Mi chặt hai tay y, cắt lưỡi y, nhng y còn một chân vẫn có thể vạch chữ lên
cát để tiết lộ những điều bí mật trong hang Vạn Kiếp này”.
Phạm Hà chết giấc. Chung Vạn Cừu quăng nàng xuống đất, túm Thi Vân
đang nằm dưới đất mê man bất tỉnh rồi cũng chặt tay cắt lưỡi như Phạm Hà.
Đoàn Dự thấy vậy lửa giận bừng bừng, chẳng nghĩ gì đến thân mình đang
nằm miệng cọp, quát to lên rằng:
– Con quỉ nhát gan kia! Mi thật là phường đê tiện, vô sỉ không nghĩ gì đến
thể diện nữa.
Chàng nói tới đó, Chung Vạn Cừu giật nẩy mình lên ngơ ngác. Chung phu
nhân sợ quá, mặt cắt không còn hột máu. Đoàn Dự ở sau tấm vách ván bước
mạnh đi ra, trỏ vào mặt Chung Vạn Cừu bảo:
– Chung tiên sinh! Người là hạng khí cục nhỏ nhen, có những hành vi đốn
mạt, không phải bậc đại trượng phu.
Chung Vạn Cừu nhác trông thấy tướng mạo Đoàn Dự, lộ vẻ kinh nghi ấp
úng hỏi:
– Phải… chăng ngươi… ngươi là họ Đoàn?
Đoàn Dự đáp:
– Tại hạ là Đoàn Dự chẳng biết chút võ nghệ nào cả. Người muốn giết,
muốn băm, làm gì thì làm. Nếu ngươi tha ta ra khỏi đây, ta sẽ đem những
hành vi hung bạo, khiếp nhược, tàn sát những kẻ yếu đuối tố giác cùng
khách giang hồ để ai nấy đều biết Chung Vạn Cừu là hạng người nào.
Chung Vạn Cừu không nổi giận lại ngửa mặt lên trời cười ha hả nói:
– Chung Vạn Cừu là hạng người nào, chẳng lẽ khách giang hồ còn chưa biết
? Thằng nhãi con kia! Dễ thường ngơi cha nghe qua biệt hiệu của ta
chăng?
Đoàn Dự đáp cộc lốc:
– Không biết!
Chung Vạn Cừu với một giọng nửa ra lễ phép, nửa ra ỡm ờ nói tiếp:
– Tại hạ là Chung Vạn Cừu, người ngoài đặt cho cái biệt hiệu là “Kiến nhân
tựu sát”. Vừa nói vừa ra vẻ nghênh ngang tự đắc.
Đoàn Dự cũng hơi rùng mình nhưng luồng chính khí bốc lên ngùn ngụt,
dõng dạc nói:
– à thì ra tính ngươi ưa sát hại những kẻ thế cô. Xa nay ta chưa từng thấy ai
dọc ngang trời đất mà lại úy thủ, úy vĩ như ngươi.
Câu này đã chạm lòng tự ái lão, nhưng lão vẫn bình tĩnh không nổi hung.
Đoàn Dự đâm liều chẳng quản gì đến mạng sống chết nữa, nói bô bô:
– Ta xem ngươi võ công cũng vào hạng cao cường lẽ ra là một tay hảo hán
hiên ngang mới phải. Dù sức mình không địch được người thì liều mạng chứ
sao, việc gì mà phải mấp mánh? Chỉ sợ người khác tiết lộ chỗ mình lẩn lút,
rồi hiếp đáp mấy cô gái yếu đuối. Hành động của bậc đại trượng phu quang
minh lỗi lạc đâu có hèn mạt như thế?
Mặt Chung Vạn Cừu lúc xanh xám, lúc đỏ bừng, dường như những lời nói
của Đoàn Dự là những đòn đánh mạnh vào tâm khảm lão. Mắt lão nẩy ra
những hào quang hung dữ. Lão mím môi đứng ngẩn người ra một lúc, đột
nhiên nổi giận đùng đùng, nắm tay đấm mạnh xuống bàn đánh “rầm” một
cái. Bàn bị gãy đôi ra, lão lại đưa chân đá phốc vào tường, tường thủng ra
một lỗ lớn. Đoạn hai tay bưng mặt lão la lên:
– Ta là con quỷ nhát gan! Ta là con quỷ nhát gan.
Lập tức lão cắm đầu chạy ra ngoài. Chung phu nhân sợ run cầm cập, phải
vịn vào tường cho khỏi ngã. Bà có ngờ đâu phen này Chung Vạn Cừu lại
không ra tay hạ sát Đoàn Dự. Bà quay lại hỏi chàng:
– Đoàn công tử! Cậu… cậu không hiểu võ công thật ?
Rồi giơ tay ra vỗ vào sau lưng chàng, chỗ huyệt rất hiểm yếu, chỉ vận động
nội công một chút, đập vào là Đoàn Dự không chết cũng bị thương. Song
Đoàn Dự không hiểu tý gì về võ công nên không biết đó là nguy hiểm, thản
nhiên đáp:
– Vãn sinh cha từng luyện tập võ nghệ, công đâu mà học cái môn để đánh
giết người ấy?
Chung phu nhân thử qua đủ biết chàng nói thật liền ngập ngừng:
– Cậu thật to gan lớn mật, vậy mà dám cùng hắn gây sự.
Đoàn Dự hỏi:
– Phu nhân bảo vãn sinh gây sự với ai?
Phu nhân đỏ mặt không đáp câu chàng hỏi, quay ra gọi nữ tỳ lại bảo:
– Mi lấy thuốc dấu rịt cho hai cô này, đừng để máu chảy ra nhiều quá!
Nữ tỳ vâng dạ ẵm Thi Vân cùng Phạm Hà vào gian chái. Đoàn Dự thấy mặt
con nữ tỳ vẫn thản nhiên nh thường, không hề mảy may xúc động thì biết
rằng nó đã quen với thảm cảnh máu chảy thịt rơi quá nhiều rồi, chẳng kém
bọn Tư Không Huyền.
Chung phu nhân chống tay vào má, lặng lẽ ngẫm nghĩ, mặt biến đổi, dường
như trong lòng đang tính toán việc gì rất nan giải, không sao giải quyết
được.
Đoàn Dự vừa rồi nổi lòng nghĩa khí, bồng bột phát ra những lời xúc phạm
Chung Vạn Cừu để toan liều chết, bây giờ thấy từng vũng máu đọng trên
mặt đất không khỏi sởn gai, rùng mình. Chàng nghĩ thầm: “Ta phải liệu mà
xa chạy cao bay, nếu còn trù trừ thì tất tính mạng không toàn mà bị chết
một cách thê thảm”.
Nghĩ vậy chàng vừa bước chân ra cửa vừa ngoảnh mặt vái chào phu nhân,
thưa rằng:
– Vãn sinh đã trọn phận sự đưa tin, xin phu nhân gấp rút tìm cách giải cứu
cho lệnh ái đi!
Chung phu nhân nói:
– Công tử hãy khoan!
Đoàn Dự dừng bước, phu nhân tiếp:
– Công tử chưa biết, lang quân ta đã nặng lời thề suốt đời không ra khỏi
hang này nửa bước. Nay tiểu nữ bị người bắt giữ, lão quyết chẳng chịu đi
cứu nó đâu. Hừ khó quá! Việc đã đến thế này, thôi ta đành theo công tử đi
vậy.
Đoàn Dự vừa lo, vừa mừng nói:
– Phu nhân đi được cùng vãn sinh thì còn gì hay bằng?
Chàng sực nhớ tới lời Chung Linh hỏi thêm:
– Phu nhân trị được rắn độc chăng?
Chung phu nhân lắc đầu nói:
– Ta không trị được.
Đoàn Dự lại hỏi:
– Vậy thì… vậy thì làm thế nào được?
Chung phu nhân chạy vào phòng ngủ, vội vàng viết vài chữ để lại, thu thập
mấy thứ quần áo cùng đồ vật cần dùng mang theo rồi trở ra bảo Đoàn Dự:
– Ta đi thôi!
Thế rồi bước ra trước. Đoàn Dự vội vào góc nhà lợm con thanh linh quấn
vào lưng.
Phu nhân trên nét mặt kiều diễm vẫn lộ vẻ hoảng hốt đi mau hơn Đoàn Dự
nhiều. Chàng lật đật chạy theo, trong lòng chưa hết thắc mắc hỏi lại:
– Phu nhân không trị được nọc rắn, vãn sinh e rằng đảng Thần Nông không
chịu buông tha lệnh ái.
Chung phu nhân lạnh lùng đáp:
– Ai cần bọn chúng tha? Đảng Thần Nông dám cả gan bắt giữ con gái ta là
không nể mặt ta rồi. Ta không cứu đợc người, há lại không biết giết người
sao?
Đoàn Dự nghe nói không khỏi chột dạ. Vài lời đơn giản mà ngụ ý coi mạng
người như cỏ rác, hành động chẳng kém gì tên hung thần ác quỷ Chung Vạn
Cừu. Có chăng chỉ khác ở chỗ phu nhân coi bề ngoài có vẻ mặt xinh đẹp, ôn
hoà cùng dáng điệu hay luống cuống sợ sệt khiến cho chàng thư sinh càng
phải khiếp phục.
Hai ngời vừa nói chuyện vừa chạy, chừng hơn một dặm chợt có tiếng gọi
to:
– Phu nhân! Nàng… nàng đi đâu đó?
Đoàn Dự ngoảnh đầu nhìn lại thì ra Chung Vạn Cừu theo đường lớn chạy
như bay đuổi gần đến nơi. Chung phu nhân luồn tay qua nách Đoàn Dự,
nhấc bổng lên quát một tiếng “mau”, rồi cứ nhằm phía trước mà tiến. Đoàn
Dự chân không chấm đất, mất hết tự chủ để mặc phu nhân cắp chạy. Thành
ra trước hai sau một, cả ba người cùng lớt như bay, thoáng cái đã được vài
chục trượng.
Kể ra thì khinh công Chung phu nhân còn cao hơn chồng một bậc nhưng
còn phải đèo thêm một người nên Chung Vạn Cừu dần dần đuổi kịp. Đoàn
Dự ruột nóng như lửa, biết rằng chỉ làm sao ra khỏi được cửa hang, tất
nhiên Chung Vạn Cừu giữ lời thề độc không dám đuổi theo nữa. Chàng
bỗng nẩy ra một ý nghĩ: võ công tuy là một môn hại người nhưng giả tỷ
mình học được môn khinh công kể ra rất có lợi mà không hại ai. Chàng tự
hối hận sao không học trước để bây giờ chạy cho lẹ hơn. Chạy còn cách cửa
hang chừng hơn mười dặm, Đoàn Dự đã thấy hơi thở Chung Vạn Cừu phập
phù thổi vào sau gáy. Bỗng nghe đánh “roạt” một tiếng, rồi Đoàn Dự thấy
sau lưng mát lạnh thì ra áo chàng đã bị Chung Vạn Cừu nắm được, kéo rách
toạc một miếng.
Chung phu nhân dùng tay trái hất Đoàn Dự ra ngoài hơn một trượng và quát
lên “chạy đi!”, còn tay phải rút thanh trường kiếm quay lại đâm, cốt để ngăn
cản không cho Chung Vạn Cừu đuổi theo.
Sẵn có võ công tột bậc, Chung Vạn Cừu có thể tránh mũi kiếm dễ như chơi,
huống chi Chung phu nhân tuyệt không có ý giết chồng. Ai ngờ lưỡi kiếm
phóng đi thấy hơi vướng vì mũi kiếm đã đâm vào ngực Chung Vạn Cừu. Thì
ra gã không muốn tránh, cốt ý nhận lấy nhát kiếm của vợ.
Chung phu nhân thất kinh không dám rút kiếm, quay đầu lại thấy mặt chồng
đầy vẻ phẫn nộ, khoé mắt rưng rưng ướt lệ, trước ngực máu loang. Lão cất
tiếng thê thảm hỏi vợ:
– Uyển Thanh, Uyển Thanh nàng ơi! Nàng… nàng nhất định bỏ ta đấy ?
Chung phu nhân thấy nhát kiếm tự tay mình đâm trúng ngực chồng tuy
không đụng đến trái tim nhưng sâu tới vài tấc, không biết sống chết ra sao.
Trong lúc hoảng hốt phu nhân rút mũi kiếm ra, tay nắm chặt lấy vết thương,
nhưng máu tuôn ra như suối chảy, luồn qua kẽ ngón tay phun ra ngoài.
Chung phu nhân giận dỗi hỏi:
– Tại sao mình không tránh?
Chung Vạn Cừu nhăn nhó cười và đáp:
– Nàng đã muốn lìa bỏ ta thì ta chết phứt đi cho rồi.
Chung phu nhân hỏi:
– Ai bảo tôi lìa bỏ mình?… Tôi đi cứu con vài ngày rồi lại trở về chứ đi đâu?
Đoạn đem chuyện Chung Linh bị đảng Thần Nông bắt giữ thuật luôn một
hồi. Đoàn Dự thấy tình cảnh như vậy trong tâm không khỏi xúc động, ngẩn
người ra một hồi. Sau chàng trấn tĩnh lại vội xé vạt áo, ba chân bốn cẳng
chạy lại, định buộc vết thương cho Chung Vạn Cừu. Không ngờ Chung Vạn
Cừu đưa chân trái ra đá cho motä cái và quát to lên rằng:
– Quân vô loài! Ta không muốn nhìn mặt mi.
Rồi hỏi Chung phu nhân:
– Nàng định lừa dối ta, ta không thể tin đưbợc. Đúng là thằng chó chết này
đến định rủ nàng đi. Dù nó hoá ra thành tro than ta vẫn nhận ra được mặt
nó. Nó còn có cái tội nặng lời sỉ nhục ta.
Nói xong ho rũ ra, mỗi cơn ho máu chỗ vết thương lại chảy ra rất nhiều.
Lão chợt nhớ ra điều gì quay lại hỏi Đoàn Dự:
– Mi lại đây! Dù ta bị trọng thương rồi ta vẫn không sợ phép “Nhất Dương
Chỉ” của nhà mi đâu. Lại đây mau cùng ta thử sức!
Đoàn Dự bị cái đá trời giáng ngã lăn ra, má bên trái đâm vào viên đá nhỏ
nhọn hoắt, một bên mặt máu tươi chảy ra đỏ lòm, lóp ngóp bò dậy nói:
– Tại hạ là Đoàn Dự, quê ở Giang Nam, thực không hiểu “Nhất Dương Chỉ”,
nhị dương chỉ là chi hết.
Chung Vạn Cừu lại ho lên mấy tiếng, vẫn một giọng căm hờn:
– Mi còn giả vờ nữa ? Mi về gọi cha mi đến đây!
Lão càng căm hờn lại càng ho dữ. Chung phu nhân nói:
– Mình vẫn chưa chừa cái thói nghi ngờ một cách mù quáng. Mình đã không
tin tôi thì trước mặt mình đây tôi chết đi còn hơn.
Nói xong phu nhân lượm thanh trờng kiếm dưới đất lên toan đâm cổ tự
vẫn. Chung Vạn Cừu vội giằng tay lại, lộ vẻ vui mừng nói:
– Nàng ơi! Có thực không phải nàng bỏ tôi để đi theo quân vô loài kia
chăng?
Chung phu nhân đáp:
– Người ta là một vị công tử họ Đoàn, sao mình lại ăn nói càn rỡ? Luôn
miệng xỉa xói hết bằng quân vô loài nọ đến quân vô loài kia? Tôi định theo
công tử đi giết hết bọn Thần Nông để giải cứu đứa con gái quý báu của
chúng ta về.
Mặc dầu Chung Vạn Cừu đang bị trọng thương nhưng thấy vợ giận dỗi thì
lại rất thương yêu, lão tươi cười đấu dịu:
– Nểu quả như vậy thì lỗi tại ta.
Chung phu nhân xem vết thương thấy máu chảy hoài, nước mắt chan hoà
nức nở:
– Bây giờ biết làm… làm thế nào?
Chung Vạn Cừu cả mừng, đưa tay lên vuốt ve lưng vợ nói:
– Uyển Thanh nàng ơi! Mình lo lắng cho tôi thế này, dù tôi có chết đi chăng
nữa, tưởng cũng không uổng chút nào.
Chung phu nhân hai má ửng đỏ nhẹ nhàng đẩy tay chồng ra nói:
– Đoàn công tử kia kìa, mình làm gì như kẻ điên rồ vậy?
Chung phu nhân thấy chồng đã nguôi giận, nhưng sắc mặt lại càng nhợt
nhạt, trong lòng lo sợ nói:
– Thôi tôi không đi cứu Linh Nhi nữa, nó đã gây nên tai vạ, tính mạng nó
đành phó thác mặc trời.
Đoạn nâng chồng dậy và bảo Đoàn Dự:
– Đoàn công tử! Cậu đến bảo với Tư Không Huyền rằng chồng ta đã chết
rồi. Nếu hắn mà động đến chân lông con gái ta thì đừng trách Hương dược
xoa Mộc Uyển Thanh này độc ác.
Đoàn Dự thấy Chung Vạn Cừu bị thương nặng không kể rồi, Chung phu
nhân cũng không thể bỏ chồng trong lúc thập tử nhất sinh để đi cứu con, chỉ
còn trông vào sáu chữ: “Hương dược xoa Mộc Uyển Thanh” may ra có hăm
doạ được lão Tư Không Huyền chăng? đó còn là một nghi vấn. Chàng nghĩ
đến đoạn trường tán ở trong ruột mình dĩ nhiên không ai giải cứu được mà
giật mình tự nhủ: “Cơ sự đã đến thế này, nói lắm cũng vô ích”, liền cáo từ
Chung phu nhân:
– Vãn sinh xin kiếu để lên đường, đem lời dặn của phu nhân bảo đảng Thần
Nông.
Chung phu nhân Mộc Uyển Thanh thấy chàng vừa nói vừa cất bước, hành
động quả quyết chóng vánh, không chút ngần ngại, chợt nhớ đến một người
liền gọi chàng lại dặn:
– Đoàn công tử, ta còn câu này nữa:
Nói rồi đặt Chung Vạn Cừu xuống, vọt đến trước mặt Đoàn Dự, lấy trong
bọc ra một vật nhét vào tay chàng và dặn nhỏ:
– Công tử cầm vật này trao lại cho Đoàn Chính Minh.
Đoàn Dự nghe đến ba chữ tên Đoàn Chính Minh, không giữ được bình tĩnh,
thay đổi sắc mặt. Mộc Uyển Thanh là người rất tinh tế, vừa nói ba chữ Đoàn
Chính Minh vừa chú ý nhìn mặt Đoàn Dự. Thấy chàng biến sắc bà thở phào
một cái nói tiếp:
– Công tử còn dấu ta được nữa chăng? Thôi công tử đi cứu tính mạng cho
con ta, đồng thời cứu cả tính mạng cho mình nữa.
Rồi không đợi Đoàn Dự trả lời, lật đật trở lại nâng chồng dậy đưa về.
Đoàn Dự cầm lên xem Chung phu nhân vừa nhét vào tay cho mình vật gì thì
ra một cái hộp nhỏ bằng vàng, chạm trổ rất tinh vi. Chàng mở nắp hộp ra
thấy bên trong đựng một mảnh giấy để lâu ngày đã biến ra mầu vàng lợt.
Trên mảnh giấy còn vết tích mấy giọt máu và viết mười chữ: “Năm quý hợi,
tháng hai, ngày mồng năm, giờ sửu”. Nét chữ mềm mại, tựa như do tay một
người đàn bà viết. Ngoài mảnh giấy ra không còn vật gì nữa.
Đoàn Dự tự hỏi: “Bát tự này ghi năm tháng, ngày giờ sinh của ai? Phu nhân
bảo ta đưa về cho gia gia để làm gì? Nó có ăn thua gì đến việc giải cứu tính
mạng Chung cô nương cùng ta đâu? Chung phu nhân đã đoán ra ta là con
trai gia gia ta. Lại xem những lời Chung Vạn Cừu la mắng ta thì đủ biết lão
cũng nhìn thấy diện mạo ta giống hệt gia gia ta, hay là lão có thù hằn gì với
nhà ta?”.
Chàng đang suy nghĩ chợt nghe có tiếng người gọi:
– Đoàn công tử hãy thong thả!
Đoàn Dự quay đầu nhìn lại thấy một ông già mặc áo ngắn chạy tới thi lễ
nói:
– Lão nô là Chung Phúc vâng lệnh phu nhân đến đưa công tử ra khỏi hang.
Đoàn Dự gật đầu nói:
– Nếu vậy càng hay!
Chung Phúc đi trước dẫn đường ra tới cửa hang, bước vào quan tài rồi từ
trong mả chui lên. Lão dẫn Đoàn Dự đi theo một lối rẽ khác. Đi chừng sáu
bảy dặm, đến trước một toà nhà lớn thì dừng lại. Chung Phúc bảo Đoàn Dự:
– Công tử đứng chờ đây một lát.
Lão không đập cổng gọi, nhảy vọt qua tường vào trong. Lúc đó trời đã tối
mịt, trên trời ánh sao lờ mờ. Đoàn Dự liên tưởng đến pho tượng ngọc mỹ
nhân dưới đáy sông. Bất thình lình trong cổng có tiếng vó câu lộp cộp và
tiếng ngựa hi he. Đoàn Dự bất giác bật lên tiếng khen “Ngựa hay tuyệt”.
Cánh cổng chợt mở, đầu ngựa ló ra, đôi mắt lóe sáng trong đêm tối. Nhác
trông Đoàn Dự đã biết ngay là một giống thần câu, khác hẳn ngựa thường.
Lông nó đen láy, bốn vó thon thon như vó ngựa nhỏ nhưng rất cao, toàn
thân coi bộ hùng vĩ hiên ngang.
Con tiểu tỳ giắt ngựa, tóc còn buông rủ, trời tối không trông rõ mặt, tuổi
chừng mười bốn mười lăm, dáng điệu rất là mềm mại.
Chung Phúc theo sau con ngựa, nói với Đoàn Dự rằng:
– Thưa công tử, phu nhân sợ công tử không đủ thì giờ về Đại Lý, sai lão nô
qua đây mượn con tuấn mã này để công tử đi cho kịp.
Đoàn Dự được xem ngựa đã nhiều, mới nghe tiếng con này kêu cũng đã biết
là ngựa hay vô cùng. Hàng vạn con chưa chắc đã chọn được một. Chàng
hoan hỉ đáp:
– Tôi xin đa tạ!
Chàng toan đưa tay ra đón lấy dây cương. ả tiểu tỳ nhẹ nhàng xoa đầu và
vuốt ve bờm ngựa nhẹ nhàng bảo:
– Hắc mai côi! Hắc mai côi! Tiểu thư cho công tử mượn ngươi để cỡi,
ngươi phải nhất nhất nghe lệnh công tử. Đi mau lên rồi mà về nghe!
Con ngựa quay đầu lại liếm tay ả, coi bộ thân mến lắm. Tiểu tỳ dặn ngựa
rồi cầm cương đưa cho Đoàn Dự nói:
– Con ngựa này không thể giục bằng roi vọt được. Công tử càng ngọt ngào
chừng nào nó càng mau lẹ chừng ấy.
Đoàn Dự kính cẩn nói:
– Dạ thưa Hắc mai côi tiểu thư! Tiểu sinh xin đứng đây thi lễ kính chào tiểu
thư.
Nói rồi xá dài. ả tiểu tỳ nhoẻn miệng cười nói:
– Cậu này thật là duyên dáng quá. à mà cậu cưỡi cho khéo kẻo ngã đấy nhé.
Đoàn Dự vốn quen cỡi ngựa từ thuở nhỏ, chàng nhẹ nhàng nhẩy lên yên
rồi nhìn tiểu tỳ bảo:
– Qua có lời đa tạ tiểu thư cô em nhé!
Tiểu tỳ cười nói:
– Thế cậu không tạ ơn em sao?
Đoàn Dự chắp tay nói:
– Đa tạ cô em nhé! Lúc trở lại qua sẽ đem trái ngon quả lạ về làm quà cho.
Tiểu tỳ vẫn cười nói:
– Xin cậu giữ gìn tính mạng là cần. Cậu đi chuyến này chưa chắc còn trở lại
đây nữa không, ai mà mong trái ngon vật lạ của cậu?
Chung Phúc nói:
– Công tử trông hướng bắc mà tiến ra đường lớn về thẳng nước Đại Lý. Xin
công tử cẩn thận mình vàng, lão nô trở về đây.
Đoàn Dự vừa giơ tay lên, ngựa tung bốn vó nhảy vài đợt đã ra xa tới vài
mươi trượng.
Con Hắc mai côi không cần phải giục, đêm tối mà nó phóng như bay. Đoàn
Dự ngó hai bên đường, cây cối trong rừng trông tựa như chạy giật lùi lại
sau. Chàng ung dung ngồi trên ngựa, êm ru dị thường tuyệt không thấy xóc
chút nào. Chàng nghĩ thầm: “Con ngựa chạy nhanh như gió thế này thì chỉ
trưa mai là về đến Đại Lý. Nhưng không biết gia đình mình có chịu can
thiệp cái vụ rắc rối cùng khách giang hồ này không? Chẳng lẽ mình lại phải
qua năn nỉ bá phụ? ôi việc đã xảy ra nhường này mình đành phải cúi đầu
van cha, lạy bác vậy chứ biết làm sao?”.
Đi chưa tới một khắc đồng hồ đã được chừng mười dặm. Một đêm gió thổi
hiu hiu, mùi hương dịu mát của cây cỏ thổi vào mặt, chàng tự nhủ: “Cái
cảnh đêm thanh ruổi ngựa kể cũng là một nguồn lạc thú của con người”.
Bất thình lình phía trước mặt chàng có người đón đường quát to lên rằng:
– Con tiện tỳ kia! Đứng lại!
ánh đao lấp loáng trong đêm tối nhằm chàng chém tới, nhưng ngựa chạy lẹ
quá, đao chém vào quãng không. Ngựa tung vó lên đã nhảy xa hơn hàng
trượng.
Đoàn Dự ngoảnh đầu lại, nhìn thấy phía sau có hai gã đại hán đang đuổi
theo rất gấp. Một gã sử lưỡi đản đao, còn một gã sử cây trường thương. Hai
gã vẫn lớn tiếng mắng:
– Con tiện tỳ kia! Gái mặc giả trai, định che mắt lão gia phải không?
Chỉ trong chớp mắt, ngựa phi nhanh như cuốn gió đã bỏ hai người một
quãng khá xa. Hai gã đại hán tuy chạy mau, đuổi gấp mà trong khoảnh khắc
tiếng la gọi cũng không nghe thấy nữa.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Hai tên lỗ mãng này mồm năm miệng mười gọi ta là
con tiện tỳ, rồi gã còn nói cái gì gái mặc giả trai. Thôi phải rồi, bọn chúng
đón đường chủ nhân con Hắc Mai Côi để trả hận. Chúng nhìn rõ ngựa mà
không nhận ra người cỡi ngựa là ai. Thật là quân lỗ mãng!”.
Chàng đi thêm quãng nữa, bỗng la lên: Thôi hỏng to rồi! Ta nhờ con ngựa
này phóng nhanh mà thoát được hai gã phục kích. Xem ra hai gã này võ
nghệ không phải tay vừa. Nếu tiểu thư không biết vụ này, cứ nghiễm nhiên
đi ra tất bị chúng ám toán. Ta phải trở lại báo tin cho tiểu thư mới được.
Chàng liền dừng ngựa lại nhủ:
– Hắc Mai Côi! Hắc Mai Côi! Có người toan ám hại tiểu thư ngươi đó,
chúng ta phải quay lại báo tin cho tiểu thư hay để nàng gia tâm đề phòng và
chỉ ở nhà đừng có ra ngoài.
Thế rồi Đoàn Dự bắt ngựa quay đầu theo đường cũ, trở lộn về. Gần đến chỗ
hai gã đại hán đón đường vừa rồi, chàng ôn tồn giục ngựa:
– Lẹ lên! Lẹ lên!
Con Hắc Mai Côi hình như hiểu tiếng người, vừa nghe tiếng giục “lẹ lên”,
quả nhiên nó phóng nhanh hơn trước. Nhưng tới nơi lại chẳng thấy hai gã
đại hán đâu nữa. Đoàn Dự lại càng nóng ruột tự hỏi: “Phải chăng hai gã này
đến vây trang trại tiểu thư? Nếu vậy càng nguy biết mấy?”. Chàng luôn
mồm giục ngựa:
– Hắc Mai Côi! Chạy cho mau! Hắc Mai Côi! Chạy cho mau!
Hắc Mai Côi! Phi như bay, vó không chấm đất, chạy về đến trước trại, bất
thình lình hai cây côn phóng ra phang chân ngựa. Hắc Mai Côi không chờ
Đoàn Dự giục, nhảy vọt lên qua khỏi, tiện thế đưa hai chân sau đá phốc một
cái, trúng tên cầm côn bắn ra xa.
Hắc Mai Côi rướn lên một cái nữa là đến cổng trại. Đoàn Dự thấy bốn năm
tên đứng đó thò tay ra giằng lấy dây cương. Tay phải Đoàn Dự bị giựt mạnh
một cái, lôi chàng xuống, đoạn có tiếng quát hỏi:
– Thằng nhỏ này! Mi đến chi đây? Dòm dỏ cái gì?
Đoàn Dự than thầm: “Thật là hỏng bét. Toà nhà này đã bị người vây kín cả
rồi. Không biết chủ nhân đã mắc độc thủ của chúng chưa?”. Tay phải chàng
bị một bàn tay nắm giữ, chẳng khác gì cái đai sắt bóp chặt lại, làm cho cả
nửa người tê nhức. Chàng nói:
– Ta đến tìm chủ nhân tòa nhà này. Tụi bay đến đây làm gì mà hung hăng
thế?
Chợt có tiếng khàn khàn của một lão già khác hỏi:
– Thằng nhãi ranh kia cỡi ngựa của con tiện tỳ, chắc là chỗ thân thích với
nhau. Hãy thả cho nó vào, bọn ta đã nhổ cỏ phải nhổ hết rễ, để rồi tóm cả
một mẻ.
Đoàn Dự hoảng hồn nghĩ thầm: “Thôi ta tự chui đầu vào tròng mất rồi! đã
đến thế này dù muốn chạy đi cũng không thoát được nữa, đành hãy vào đây
rồi sau sẽ liệu”.
Gã kia buông tay chàng ra. Chàng sửa lại khăn áo chỉnh tề rồi ngang nhiên
đi vào. Vào qua cổng đến một trang viện, giữa là lối đi lát đá, hai bên trồng
toàn Mai Côi, hương thơm sực nức. Con đường đá này khúc khuỷu, quanh
co xuyên qua một cái cổng tò vò. Đoàn Dự cứ theo đường đá đi mãi vào
trong, trông hai bên đều có người đứng rải rác cả. Chàng chợt nghe trên cao
có tiếng người ho, ngẩng lên nhìn đầu tường cũng có tới bảy tám người tay
cầm gươm đao sáng loáng. Trời tối trông ánh gươm đao lại càng ghê rợn cả
ngời. Đoàn Dự tự hỏi: Tòa nhà này xem chừng không to là mấy, làm gì có
nhiều người ở, vậy mà chúng kéo đến làm gì lắm thế? Phải chăng chúng
định giết sạch cả nhà người ta?
Tuy trời tối nhưng Đoàn Dự ngó thấy tên nào cũng nhìn mình trừng trừng,
vẻ mặt hung dữ. Có đứa tay lăm lăm cầm đốc gươm thị uy. Chàng cố gượng
trấn tĩnh, nhìn vào tận cùng đường đá thấy một toà đại sảnh. ánh đèn lửa
trong nhà qua khe cửa lọt ra ngoài. Đoàn Dự đi thẳng đến trước cửa dõng
dạc lên tiếng:
– Tại hạ là Đoàn Dự có việc xin vào ra mắt chủ nhân.
Trong nhà có tiếng khàn khàn quát hỏi:
– Ai? Vào trong này!
Đoàn Dự cảm thấy bực mình, đẩy mạnh cửa bước vào. Chàng không khỏi
kinh ngạc khi đưa mắt nhìn thấy kẻ đứng người ngồi có đến mười bảy, mười
tám người. Trên ghế tựa giữa nhà, một người đàn bà áo đen ngồi xây lưng ra
ngoài. Tuy không rõ mặt nhưng trông dáng dấp đường sau cùng mớ tóc đen
lánh, óng mượt rủ xuống thì biết ngay là một trang thiếu nữ. Xung quang
nàng có đến hơn mời người, vừa đàn ông, vừa đàn bà lại có hai nhà sư và
ba bị đạo sĩ. ấy là chưa kể bên trờng kỷ phía đông còn một ông già, một bà
lão cùng hai nhà sư. Chỉ có bốn vị này là tay không còn ngoài ra đều cầm
binh khí.
Trước mặt bà lão, một người nằm sóng sượt dưới đất, trên cổ có vết đao
chém và đã chết từ bao giờ. Đoàn Dự nhìn lại, té ra là lão Chung Phúc,
người bên hang Vạn Kiếp vừa đưa chàng qua đây mượn ngựa lúc nãy. Tuy
Đoàn Dự mới biết lão lần đầu nhưng lão là người tử tế lễ phép, giờ thấy lão
bị thảm tử mà nguyên nhân tự mình gây ra nên chàng rất ngậm ngùi trong
dạ.
Ông già ngồi trên trường kỷ đầu tóc bạc phơ, nhưng dưới cằm nhẵn thín
không có lấy một sợi râu lên giọng khàn khàn quát hỏi Đoàn Dự:
– Thằng nhỏ kia! Mi đến đây có việc gì?
Ngay từ lúc mới bước chân vào Đoàn Dự đã định sẵn chủ ý: mình dấn thân
vào nơi hiểm địa nếu tìm được kế thoát thân là nhất nếu không thì coi như
bị hung tinh chiếu mệnh, nói năng năn nỉ với đám côn đồ cũng chẳng ích gì.
Sở dĩ chàng trông thấy Chung Phúc bị giết, máu nóng sôi lên sùng sục,
chàng không còn biết sợ hãi là gì nữa, hiên ngang đáp:
– Tại hạ là Đoàn Dự, lão trượng cũng thuộc hạng người có tên có họ như ai,
chẳng qua chỉ sống hơn nhau mấy chục tuổi, sao lại dám ỷ mình già nua,
khi khinh hậu bối buông lời vô lễ?
Lão già lông mày đứng dựng ngược lên, mắt nẩy hào quang, tướng mạo cực
kỳ oai nghiêm, không nói gì.
Một gã đại hán đứng đầu đằng này nạt lớn:
– Thằng giặc con này không còn biết trời, biết đất chi cả. Lão già đây gọi
mi là thằng nhỏ còn không đáng hay sao? Mi có biết lão gia là ai không?
Thật mi có mắt mà không thấy núi Thái Sơn.
Đoàn Dự thấy ông già khí phách khác kẻ tầm thường, trong thâm tâm cũng
có đôi phần kính nể liền đáp:
– Ta biết lão trợng đây là ngời có lai lịch chớ chẳng không. Xin lão
trượng cho biết cao tính đại danh!
Lão già không trả lời, gã ngồi bên kia đáp:
– Ta nói cho mi biết để mi có về âm phủ cũng nhắm mắt được. Lão gia đây
chính là Nộ Giang Vương, Tam chưởng tuyệt mệnh Tần lão gia đó.
Đoàn Dự nói:
– Tam chưởng tuyệt mệnh ? Sao lại dùng cái ngoại hiệu khó nghe thế nhỉ,
Tần lão gia sao còn gọi là Nộ Giang Vương?
Nộ Giang Vương Tam chưởng tuyệt mệnh Tần Nguyên Tôn không những
oai danh lừng lẫy cõi Thiên Nam mà thôi, trong các phái võ tại Vân Nam,
lão cũng là một nhân vật khét tiếng. Tóm lại các anh hùng hảo hán trên nam
ngạn cũng như bắc ngạn sông Trường Giang đều ngưỡng mộ oai phong Tần
Nguyên Tôn. Ngờ đâu Đoàn Dự nghe xong không thèm để ý.

Hết Chương 6

Hết Hồi 6

============================================================

Chương 7

Một cuộc giả mạo lý thú

    Mộc Uyển Thanh nói móc:
– úi chà! Một gã thư sinh trói gà không chặt thì có thành tích gì đáng kể? Có
ra chăng nữa là đang ngấp nghé ngôi đông sàng nhà ông “Kiến nhân tựu
sát” Chung Vạn Cừu là cùng chứ gì?
Chung phu nhân đỏ mặt nói:
– Bọn ta chỉ là những kẻ thất phu lỗ mãng trong đám giang hồ, đâu dám
chơi trèo, không bao giờ có hy vọng được Đoàn công tử về làm rể.
Mộc Uyển Thanh nói:
– ấy cũng may mà gã không phải khách giang hồ nên tôi không thèm giết.
Giả tỷ gã biết đôi chút võ nghệ thì tôi đã cho một nhát kiếm xong đời rồi.
Nàng nói tới đây sực nhớ tới lời hứa hẹn với Kim Đại Bằng không giết Đoàn
Dự, bèn tiếp:
– Dù sao gã cũng được một vài điểm thuỷ chung, tỷ như gã biết có kẻ toan
ám toán tôi, liền quất ngựa quay về báo tin rồi bọn Tần Nguyên Tôn bao
vây tôi, gã ngang nhiên xông vào toan che chở cho tôi để thoát vòng nguy
hiểm. Hà hà! Tiếc rằng gã có lòng nghĩa hiệp mà không đủ tài nghĩa hiệp.
Nói tới đây nàng đã đổi giọng ôn tồn:
– Chung phu nhân! Gã tiểu tử này mà còn có lương tâm hơn phu nhân nhiều.
Này nhé! Phu nhân đã biết bọn Thanh Tùng có âm mưu sắp đến bao vây tôi
vậy mà cứ sai Chung Phúc đến mượn con Hắc Mai Côi để tôi không còn con
thần câu ấy thì lấy gì chạy cho thoát? Cái kế ấy mới độc địa làm sao.
Chung phu nhân nói:
– Không phải! Ta chỉ vì quá thương ái nữ mà thôi, đâu có ác ý hại cô
nương?
Vợ chồng ta đã tính kỹ rồi: bọn Tần Nguyên Tôn, Thanh Tùng làm gì thì
làm, cũng không thể đụng được đến chân lông cô nương. Ta thấy Thanh
Tùng khí tức xông lên đến cổ, từng khuyên y đừng có dấn thân vào đất chết.
Giờ ta chắc y tất phải mất mạng dưới lưỡi kiếm của cô nương rồi.
Sự thật thì Chung phu nhân thấy sau cuộc bao vây, Mộc Uyển Thanh vẫn
đợc vô sự, đã đoán biết Thanh Tùng võ nghệ còn kém Tần Nguyên Tôn,
Kim Đại Bằng, Tuệ Thuyền nhiều, lý nghi phải chết đầu nước.
Mộc Uyển Thanh cời lạt:
– Phu nhân tinh thật!
Thoáng một cái Mộc Uyển Thanh đã nhảy tới cầm dây trói chân tay Đoàn
Dự xách bổng chàng lên đi luôn.
Chung phu nhân gọi to lên rằng:
– Cô nương hãy thong thả, ta có điều này muốn nhờ cô nương.
Mộc Uyển Thanh quay lại lạnh lùng đáp:
– Phu nhân muốn nhờ tôi điều chi? Nhờ gì thì nhờ bây giờ tôi cũng không
nghe, chờ lúc trở về hãy hay.
Nàng vừa nói vừa xách Đoàn Dự đi thẳng. Ra khỏi phần mộ, nàng đẩy tấm
bia lại như cũ rồi gọi con Hắc Mai Côi đến, xách Đoàn Dự nhảy lên yên,
gia roi cho ngựa chạy. Dọc đường Mộc Uyển Thanh mấy lần hỏi han Đoàn
Dự nhưng chàng không thèm nhìn mà cũng chẳng nói nửa lời. Chàng nhớ
lại những thủ đoạn ghê gớm của nàng và đêm qua bị nàng làm cho đau đớn
ê chề, lòng chàng vẫn còn ấm ức nhưng không dám chọc giận nàng.
Con thần câu chạy nửa ngày đường, không có chuyện gì xảy ra. Đến trưa,
Đoàn Dự trong lòng nóng nẩy, muốn Mộc Uyển Thanh cởi trói cho mình
nhưng hai tay bị trói chặt, không thể cử động để ra hiệu được, đành cất lời
xin vậy:
– Xin cô nương cởi trói cho ta!
Mộc Uyển Thanh nói:
– à ra ngươi không câm nữa ? Sao bây giờ lại chịu mở miệng nói với ta?
Đoàn Dự nói:
– Thật là vạn bất đắc dĩ mà ta phải dở thói lần khân. Cô nương là Hương
dược xoa thì ta đây đã thành gã “Xú tiểu tử” quả là khó ăn khó nói.
Mộc Uyển Thanh không nhịn được phải phì cười. Nàng nghĩ bụng: “đã đến
thế này đành phải tha y ra”. Đoạn nàng rút kiếm cắt đứt dây trói, đẩy Đoàn
Dự xuống đất, đoạn nàng cũng xuống ngựa, bỏ đó đi chơi.
Đoàn Dự bị trói đến quá nửa ngày, chân tay ê ẩm, không cử động được,
nằm co duỗi hồi lâu mới đứng lên được. Chàng thấy con Hắc Mai Côi đang
gặm cỏ gần đó, có vẻ hiền lành ngoan ngoãn, lại không thấy thiếu nữ đứng
đó nghĩ bụng: “không nhân cơ hội này trốn đi thì còn đợi đến bao giờ?”.
Nghĩ vậy chàng nhảy tót lên lưng ngựa. Con Hắc Mai Côi tuyệt không phản
kháng, chàng liền gò cương cho nó phi nước đại, trông về hướng bắc mà
tiến.
Mộc Uyển Thanh nghe tiếng vó ngựa lốp bốp vội rượt theo. Tuy nàng khinh
công giỏi, nhưng ngựa chạy quá mau không tài nào đuổi kịp.
Đoàn Dự quay lại chắp tay nói:
– Mộc cô nương! Xin hẹn ngày khác ta lại gặp nhau.
Mới nói được bấy nhiêu thì con Hắc Mai Côi đã chạy xa hơn 20 trượng,
bóng nàng thiếu nữ đã khuất sau bụm cây rừng. Đoàn Dự thoát khỏi độc thủ
của con người quỷ quái, trong lòng khoan khoái vô cùng, luôn miệng dỗ
ngựa:
– Hắc Mai Côi ơi! Ngoan lắm! Chạy lẹ lên! Chạy lẹ lên!
Chàng lại nghĩ bụng: “bây giờ mà Mộc Uyển Thanh có muốn phóng ám tiến
cũng không thể phóng tới được nữa”.
Hắc Mai Côi chạy được hơn dặm đường, Đoàn Dự tự hỏi: “mình lại liên
miên mất một ngày nữa rồi, không biết đi cứu Chung cô nương còn kịp
chăng? Bây giờ nên về Đại Lý hay đến thẳng núi Vô Lượng?
Đang lúc phân vân chưa quyết, bỗng nghe một tiếng huýt sáo từ đằng xa
vẳng lại, tiếng sáo rất dài, ngân nga vang động cả khu rừng. Con Hắc Mai
Côi nghe tiếng huýt sáo lập tức quay đầu trở về. Đoàn Dự cả kinh, vột thí
dỗ:
– Hắc Mai Côi! Hắc Mai Côi! Ngoan lắm giỏi lắm! Đừng chạy lộn trở về
nghe!
Rồi hết sức gò cương bắt nó quay đầu lại, không ngờ con thần câu bây giờ
lại bất kham, muốn gò cương thế nào thì gò, nó cứ đứng dựng thẳng lên
chạy lộn lại chứ không chịu nghe lời Đoàn Dự chỉ huy.
Chớp mắt con Hắc Mai Côi đã chạy về đến trước mặt Mộc Uyển Thanh rồi
đứng dừng lại không nhúc nhích. Đoàn Dự lâm vào tình trạng không biết
nên cười hay nên khóc, nét mặt chàng trông cực kỳ thảm hại.
Mộc Uyển Thanh bảo chàng:
– Ta muốn giữ lời hứa với Kim Đại Bằng không giết ngươi mà ngươi lại cố ý
gạt ta, dám tự ý bỏ trốn lại còn ăn trộm ngựa của ta nữa. Thế thì lời hứa với
Kim Đại Bằng ta không cần phải giữ nữa.
Đoàn Dự xuống ngựa ngang nhiên đáp:
– Con Hắc Mai Côi trước ngươi đã cho ta mượn, ta chưa xong việc thì chưa
trả lại ngươi, sao lại bảo là ăn trộm được. Ngươi muốn giết ta thí cứ việc mà
giết. Đoàn Dự này đường đường tấm thân nam tử đội trời đạp đất, chả cần
năn nỉ ai hết, có đâu lại đi van lạy một người đàn bà?
Mộc Uyển Thanh rút kiếm ra khỏi vỏ một nửa, lạnh lùng nói:
– Ngươi tưởng ngươi to gan lớn mật, ta không dám giết ngươi sao? Ngươi
cậy có kẻ nào cầm đầu mà dám bướng bỉnh với ta?
Đoàn Dự đáp:
– Ta đối với cô không có điều chi hổ thẹn, cần gì phải mượn thế lực ai?
Đôi mắt thu ba của Mộc Uyển Thanh loé ra những tia sáng chiếu thẳng vào
mặt Đoàn Dự. Chàng cũng nhìn chằm chặp vào mắt nàng, tuyệt không tỏ
chút chi sợ hãi.
Hai người nhìn nhau một hồi rồi “soạt” một tiếng, Mộc Uyển Thanh lại xỏ
kiếm vào vỏ quát:
– Ngươi cút đi! Ta hãy tạm gửi cái đầu trên cổ ngươi, lúc nào bản cô nương
cao hứng sẽ lại lấy!
Đoàn Dự đã tưởng thế nào cũng chết, chẳng ngờ Mộc Uyển Thanh lại tha.
Chàng rùng mình một cái, không nói gì nữa, thủng thẳng quay gót bước đi.
Mộc Uyển Thanh thấy chàng đi đã khá xa, lẩm bẩm một mình: “thằng cha
này sao mà ngang bướng lạ đời? Thiên hạ ít người như hắn. Biết bao nhiêu
kẻ võ nghệ cao cường đứng trước mặt ta cũng sợ hết hồn, thế mà hắn cứ
thản nhiên như không”.
Đoàn Dự đi vài mươi trợng, không nghe tiếng vó ngựa, quay đầu nhìn lại,
thấy Mộc Uyển Thanh vẫn đứng trơ trơ thì nghĩ thầm: “có lẽ nàng còn có
chủ ý gì cay độc đây. Hẳn sắp dở trò con mèo giỡn con chuột chán chê rồi
mới cắn chết. Ta thoát chết hay không là tuỳ ở tay nàng”.
Đoàn Dự đi mỗi lúc một xa, vẫn không nghe tiếng vó ngựa đuổi theo, đã
qua mấy khúc rẽ chàng mới hơi yên dạ, bớt lo về mặt Mộc Uyển Thanh.
Chàng cảm thấy những chỗ chân tay mình mẩy bị thương rất đau đớn, bất
giác than rằng: “Ôi, tính tình cô này thật là kỳ quặc! Hay là cha mẹ nàng
chết cả rồi, đời nàng đã trải bao nhiêu bước đường cay đắng. Hay là nàng
xấu xa, nên phải che kín không muốn để ai nhìn thấy mặt? Như vậy thì
nàng cũng là người thật đáng thương…”. Trở về hiện tại, chàng tự nghĩ: “bây
giờ ta về Đại Lý, có khi chưa kịp tới nơi, giữa đường thuốc độc phát ra, đã
đứt ruột chết rồi. Hiện Chung cô nơng nóng lòng chờ người đến cứu, ngày
dài như năm. Nàng không thấy ta trở lại, thân phụ nàng cũng không đến
giải cứu, tất bảo ta không đa tin về nhà. Âu là ta sang thẳng núi Vô Lượng,
chịu chết với nàng một chỗ, để nàng biết rằng ta không phụ nàng là đủ”.
Chủ ý đã quyết, Đoàn Dự nhìn nhận phương hướng, nhằm thẳng phía núi
Vô Lượng mà đi. Bờ sông Lan Thương thật quá hoang vu, có khi đi đến
mấy chục dặm đường mà không gặp một nóc nhà. Suốt ngày hôm đó, chàng
đành kiếm trái cây trong rừng ăn cho đỡ đói. Tối đến tìm một chỗ cao ráo,
ngủ một giấc.
Trưa hôm sau Đoàn Dự lại qua sông Lan Thương, đi cho tới lúc trời đã
hoàng hôn thì đến một thị trấn nhỏ. Tiền bạc chàng dắt trong lưng đã bị rơi
mất sau khi nhảy xuống hồ. Trong bụng đói quá chàng nhìn lại quần áo
rách tả tơi, chỉ còn lại viên ngọc bích đính vào mũ là vật rất quý liền lấy ra
tìm vào tiệm bán gạo. Tiệm này không phải nơi mua bán vàng ngọc nhưng
cả thị trấn chỉ có cửa hàng này là lớn hơn cả. Chủ tiệm thấy chàng có vẻ khí
khái hiên ngang, không dám khinh thường nhưng không biết ngọc quý chỉ
chịu mua với giá ba lượng bạc mà thôi. Chàng chẳng hiểu giá cả mà cũng
không thèm cò kè, cầm ba lượng bạc vào quán cơm ăn một bữa thật no. ăn
xong chàng toan đi mua một bộ quần áo may sẵn nhưng không có chỗ nào
bán. Còn đang lưỡng lự cha biết tính sao, chợt thấy bên quán cơm, bên khu
đất trống có phơi hai tấm vải đen. Bỗng nhiên Đoàn Dự sực nhớ lời Chung
phu nhân dặn chàng đa tên Hương dược xoa Mộc Uyển Thanh hăm doạ
bọn Thần Nông để cứu con bà. Chàng nảy ra ý nghĩ: “chi bằng ta hoá trang
làm cô gái điên rồ kia đến khủng bố Tư Không Huyền một phen? Nếu
không thành công thì đành chiu chết, may mà loè được bọn chúng chẳng
thú lắm sao?”.
Nghĩ vậy chàng liền đem phân bạc mua một tấm vải, mượn dao kéo, kim
chỉ về quán cơm may cắt. Vốn là một thư sinh chuyên nghề bút nghiên,
chàng có may cắt, khâu vá bao giờ, loay hoay mãi không biết làm thế nào.
Sau cùng đành cầm tấm vải quấn vào che hết cả người, thừa đâu cắt đó, hở
đâu thì khâu lại. Chàng làm vất vả, mồ hôi toát ra như tắm. Người trong
quán chẳng ai hỏi han gì đến, để mặc chàng muốn làm gì thì làm. Tối đến
nhà hàng đi ngủ cả, mình chàng thức ngồi may cắt.
Đến cuối canh một, chàng vừa may vừa ngắm đi ngắm lại, không còn chỗ
nào hở da thịt ra mới thôi. Mười ngón tay đã xoè ra nắm vào được, không
vướng mắc gì nữa. Thế là thành bộ áo vụng về, dúm dó nhưng chàng rất lấy
làm đắc ý. Xong áo còn tập cách đi đứng, nhất là bắt chước giọng nói lanh
lảnh và lạnh nhạt. Chàng tự biết không thể nào giống Mộc Uyển Thanh
được, nhưng chàng chắc ở chỗ vị tất Tư Không Huyền đã từng nghe tiếng
nàng. Đã cả gan làm liều, chàng bất chấp cả phục sức lẫn tiếng nói có giống
hay không. Sau chàng nghĩ đến Mộc Uyển Thanh lung đeo trường kiếm mà
mình thì ngượng nghịu, không biết dử dụng gươm đao, bớt được cái gì càng
đỡ lộ tẩy vì cái đó. Đoàn Dự thanh toán tiền nong trả nhà hàng rồi ra đi lên
núi Vô Lượng, vừa đi vừa nghĩ kế đối phó với đảng Thần Nông. Nguyên
tiệm cơm này ở ngay chân núi, lại gặp đêm sáng trăng vằng vặc, chàng tìm
đường đi đến khoảng giữa canh hai thì xa trông trên sườn núi, phía trước
mặt thấy ánh lửa sáng chàng biết đảng Thần Nông dồn trú ở đó. Cứ trông
chỗ sáng lửa đi tới. Còn cách đống lửa chừng vài mươi trợng, bất thình lình
một gã tay cầm liễu tử thương từ trong bóng tối nhảy ra quát hỏi:
– Ai? Đi đấu? Có việc chi?
Đoàn Dự cười lạt một tiếng, chúm môi, dở giọng lạnh lùng hỏi:
– Tư Không Huyền đâu? Bảo y ra đây bái kiến ta!
Gã này thấy Đoàn Dự toàn thân khoác áo đen, chỉ để hở đôi mắt giật nẩy
mình lên, miệng há hốc ra. Gã nghĩ thầm: “gần đây trong đám giang hồ có
đồ rầm lên về một cô gái giống ma quỷ hiện hình”, bất giác gã run bần bật
hỏi:
– Người… người là Hương dược…
Đoàn Dự nổi giận quát:
– A! Mi dám kêu danh hiệu ta phải không?
Gã này cho đích thị là Hương Dược Xoa rồi, bấy lâu nay ai nghe oai danh
nàng mà chẳng khủng khiếp? Gã không dám hỏi lại, vừa run vừa nói:
– Hiện Tư Không bang chúa bị… bị thương, không đi lại được. Xin cô
nương… vào thẳng cho.
Đoàn Dự cười thầm tự hỏi:
– Nay ta hoá thành một vị cô nương rồi ?
Chàng kịt mũi bắt chước giọng Mộc Uyển Thanh buông thõng:
– Cũng được.
Chàng biết đi càng mau càng đỡ lộ hình tích, liền mạnh dạm vào đến trước
đống lửa thấy bao nhiêu người đảng Thần Nông bị con Kim linh cắn đều
nằm la liệt. Chung Linh chân tay đều bị trói trật cánh khuỷu, vừa nhìn thấy
Đoàn Dự nàng cuống quít la ầm lên:
– A ha! Uyển tỷ nương! chị đến cứu em đấy a?
Tư Không Huyền đã mấy ngày đau đớn thiểu não vì rắn cắn, tinh thần
hoảng hốt, vừa trông thấy Đoàn Dự ăn mặc như vậy đã ngờ là Hương Dược
Xoa tiếng tăm chấn động trong đám giang hồ, lại nghe thủ hạ vào báo, kế
tiếp đến Chung Linh reo gọi “Uyển tỷ nương” thì không còn nghi ngờ gì
nữa, hai tay bám vào một tên thủ hạ, lật đật đứng dậy nói:
– Tại hạ bị rắn độc cắn không thi lễ đặng, xin cô nương tha tội cho.
Đoàn Dự chủm môi nói:
– Chung cô nương là bạn ta, mi có biết không?
Tư Không Huyền đáp:
– Thực tình tại hạ không biết, nên trót mạo phạm.
Đoàn Dự nói:
– Vậy mi phải thả ngay ra!
Tư Không Huyền vẫn sợ oai Hương Dược Xoa, tự liệu sức ngay lúc khoẻ
mạnh cũng không địch nổi nàng. Nhưng lão nghĩ rằng: “tha Chung Linh rồi
mà không được thuốc giải độc thì cả mình lẫn thủ hạ không thể nào sống
được”. Trước cái chết hiển nhiên, lão không tính toán gì nữa hỏi ngay:
– Cô nương có thuốc chữa rắn độc đấy chăng?
Đoàn Dự móc trong bọc ra một cái hộp tròn đựng đầy thuốc hoàn. Nói là
thuốc nhưng thực ra là cá và cơm nghiền nát rồi tán thêm một ít đất khô vào
viên lại. Những thứ này chàng đã chuẩn bị từ lúc ăn cơm ngoài tiệm, chàng
bảo Tư Không Huyền:
– Đây là thứ thuốc trị nọc rắn có một không hai do chính tay Kiến nhân tựu
sát Chung Vạn Cừu tự chế ra. Tiên sinh chịu lấy cho mi là phúc nhà mi to
lắm đấy.
Nói xong cầm cái hộp quẳng xuống đất.
Tư Không Huyền bấy nay vẫn còn ngờ cái chết của Kiến nhân tựu sát
Chung Vạn Cừu, cha Chung Linh là trá tử để đi ẩn lánh, giờ Đoàn Dự nói
vậy, lão không nghi ngờ gì nữa đáp ngay:
– Đa tạ cô nương! đa ta đại hiệp!
Thủ hạ lượm hộp thuốc lên đưa cho Tư Không Huyền. Tư Không Huyền mở
hộp thuốc ra ngửi, chỉ thấy mùi cá tanh và mùi đất. Bọn Thần Nông chuyên
nghề chế thuốc nên Tư Không Huyền hiểu tính dược một cách rất tinh vi.
Cao, đan, hoàn, tán bất luận thuốc gì lão chỉ ngửi cũng biết do các chất gì
chế ra và cân lạng bao nhiêu. Thuốc giải độc này có quan hệ đến tính mạng
lão, dĩ nhiên lão phải xem xét cẩn thận. Sau khi ngửi chẳng thấy một tý mùi
thuốc nào, lão đâm nghi ngờ liền hỏi:
– Xin cô nương cho biết cách dùng thuốc này ra sao?
Đoàn Dự đáp:
– Mỗi người chỉ uống một viên. Sau mười hai tiếng đồng hồ thì hết nọc độc
con kim linh. Vậy mi phải thả ngay Chung Linh ra.
Tư Không Huyền “vâng” một tiếng rồi cúi xuống cầm cành cây đang cháy
lên soi người Đoàn Dự. Lão thấy bộ áo đen không những đường khâu vụng
về dúm dó mà lại chẳng ra hình thù áo xiêm gì ráo. Lão càng thêm ngờ vực,
tiến lên thêm một bước, đánh hơi thật mạnh mà chẳng ngửi thấy mùi thơm
chút nào, tự hỏi: “khách giang hồ đồn rằng Hương Dược Xoa tiết ra mùi
thơm ngào ngạt, ở đằng xa đã ngửi thấy do đó mới có ngoại hiệu là Hương
Dược Xoa, hay là thị này mạo nhận chăng?”.
Đoàn Dự nhìn cử chỉ biết là lão đã sinh nghi, chàng sợ hết hồn đành phải
làm già quát to:
– Ta bảo mi phải thả ngay Chung cô nương, mi đã nghe rõ chưa?
Tư Không Huyền tuy có dạ hồ nghi nhưng cha dám lộ vẻ cáu giận, lão vẫn
nhỏ nhẹ ôn tồn nói:
– Xin Mộc cô nương xét cho! Đảng Thần Nông chúng tôi bao nhiêu người
bị rắn độc cắn, mất còn trong sớm tối, tỷ như thuốc của Chung đại hiệp cấp
cho mà không hiệu nghiệm thì chúng tôi đành bó tay chịu chết cả hay sao?
Không phải tại hạ dám chống mệnh lệnh cô nương mà chỉ xin cô nương nán
lại vài bữa. Tại hạ khỏi rồi sẽ cung kính đa cô nương về quý phủ, cùng
khấu đầu trước Mộc cô nương để tạ ơn tái tạo.
Đoàn Dự nói:
– Sao lại có chuyện rắc rối thế được? Ta đã bảo thả người ra là phải làm
nghe chưa?
Đoàn Dự lại quay sang bảo lão già đứng cạnh Chung Linh:
– Mi cởi trói cho Chung cô nương đi!
Vì quá hoang mang chàng không giữ gìn, buột miệng nói mau, lôi giọng thô
khàn của đàn ông ra. Lão già đứng đó lại là một gã rất tinh tế, đã nghe
giọng chàng nói lại nhờ ánh lửa sáng, lão nhìn thấy bang chúa đưa mắt cho
mình thì nghĩ thầm: “chưa biết người này thực giả ra sao, bang chúa không
tiện hỏi y còn mình đây là thuộc hạ, dù sao cũng chỉ là kẻ lỗ mãng, không
can hệ gì. Ví bằng thị là Hương Dược Xoa thật đi chăng nữa bấy giờ bang
chúa sẽ tạ lỗi là cùng”. Nghĩ vậy lão lớn tiếng đáp:
– Mộc cô nương muốn tha Chung cô nương cũng chẳng khó gì. Chỉ xin cô
nương cho tôi coi rõ mặt.
Đoàn Dự hỏi:
– Mi đòi coi bản mặt cô nương ? Mi muốn chết đó sao?
Lão già lại nghĩ thầm: “Dù cho thị này có bản lãnh đến đâu đi nữa nhưng
thân cô thế cô. Bọn ta đông thế này lại không đàn áp nổi một người con gái
sao? Tuy lão nghĩ vậy nhưng oai danh Hương Dược Xoa rất lớn, gần đây
nghe các phái tán dương thì có tài xuất quỷ nhập thần”. Lão vẫn sợ hiểm
hoạ khôn lường liền tươi cười nói:
– Tiểu lão đây dù có mười mạng chăng nữa cũng không dám mạo phạm. Vì
tiểu lão từng nghe tiếng lớn cô nương trong lòng bao ngưỡng mộ, rất mong
cô nương cho xem vài môn tuyệt kỹ để tiểu lão được mở rộng tầm con mắt.
Đoàn Dự lẩm bẩm: “Hỏng bét! Thật là hỏng bét” rồi gượng gạo đáp:
– Bản cô nương chẳng biết gì ngoài việc giết người, thế này thì ra lũ mi
muốn chết cả đây.
Trong đảng Thần Nông có gã Tư Đà người ở Quý Châu không nhẫn nại
được nữa, kêu to lên rằng:
– Ngươi muốn bọn ta thả Chung Linh thì ngươi phải cho bọn ta coi bản lãnh
của ngươi đã.
Nói rồi gã hùng hổ bước ra. Lúc này Tư Không Huyền mười phần đã nghi
đến chín, cũng nói hùa vào:
– Phải đó Hoàng lão đệ xin Mộc cô nương dạy cho mấy đường.
Hoàng Tư Đà được bang chúa cổ vũ, lại chàng phấn khởi rút phắt lưỡi đại
hoán đao ở sau lưng ra vung lên một cái, năm chiếc vòng sắt kêu leng keng,
âm thanh vang dội, rồi sấn sổ đến đứng sững trước mặt Đoàn Dự. Người lão
cao lớn khôi ngô mặt lẩn lên những thớ thịt rắn chắc, trông rất oai phong
hùng tráng.
Đoàn Dự than thầm: bây giờ dù mình có bị lộ tẩy cũng không cần, chỉ e
Chung cô nương uổng mạng sớm mất hai ngày. Chàng nhìn Huỳnh Tư Đà
mặt đầy sát khí, bất giác hoảng sợ lùi lại hai bước. Tư Đà thấy chàng chân
bớc run rẩy tựa như người chẳng biết võ nghệ chút nào thì trong bụng nghĩ
lung lắm! Chẳng lẽ ả này không biết võ công mà dám mạo hiểm đến đây?
Nên gã vẫn gờm gờm. Gã tiến lên hai bước cầm đại hoàn đao chém dứ một
nhát. Vòng đao lại kêu loảng choảng đinh tai. Đoàn Dự chẳng còn hồn vía
nào nữa, lại lùi thêm ba bước thì lưng đã giáp vào gốc cây hoè lớn.
Cả đảng Thần Nông lớn bé có đến hơn trăm người, mắt đổ dồn cả vào Đoàn
Dự, thấy chàng lùi mấy bước tuy chưa lộ tớng đàn ông nhưng trông điệu
bộ rõ ra người không có bản lãnh chút nào. Chúng thì thầm bàn nhau: có kẻ
nói:
– Dường như cô này võ nghệ rất tầm thường.
Tên khác đáp:
– Anh biết gì mà nói? Những bậc chân tài không bao giờ để lộ ra ngoài. Cô
ả giả vờ đó!
Một gã bảo:
– Hình như cô ả có vẻ sợ Huỳnh Tư Đà.
Lại có gã làu bàu:
– Chúng ta cứ xúm vào mà đánh. Mình cô ả địch thế nào lại với hàng trăm
người?
Tư Không Huyền goị to:
– Mộc cô nương! Cô nương chỉ giáo Huỳnh đệ đi! Và xin gượng nhẹ cho! Y
chịu thì thôi xin đừng sát hại!
Đoàn Dự đáp:
– Ta không biết thế nào là gượng nhẹ cả. Ta đã ra tay là phải giết người. Gã
Huỳnh kia! Mi khôn hồn thì cút ngay đi!
Chàng nói mấy câu đó có vẻ ngạo mạn khác thường, nhưng giọng nói run
run ra chiều sợ sệt.
Huỳnh Tư Đà quát:
– Vậy ngươi cứ tự tiện đi! Tánh mạng Huỳnh mỗ phó mặc gơm đao định
đoạt.
Dứt lời gã giơ đao lên, Đoàn Dự nói:
– Ta chỉ vẫy tay một cái là mi toi mạng ngay. Ta khuyên mi nên giữ mình
cẩn thận là hơn.
Huỳnh Tư Đà nói:
– Thôi mời cô nương ra tay đi!
Huỳnh Tư Đà thấy chân Đoàn Dự run lên, liền cầm đao nhằm ngực chàng
chém một đường “khai môn kiến sơn”. Vì oai danh Hương dược xoa lớn
quá, gã chỉ chém dứ chứ không dám đâm thật, mũi đao còn cách ngực Đoàn
Dự đến năm tấc. Tay phải gã cử động, mũi đao trở thế đâm vẹt sang bên
đánh “soạt” một cái. Vai áo bên trái chàng bị rách mất một miếng. Đoàn Dự
thất kinh toan lùi lại nữa thì sau lưng lại vướng gốc cây không còn đất.
Chàng than thầm: “thôi ta đành chịu chết!”. Rồi gọi to lên rằng:
– Chung cô nương! Cô… cô liệu mà chạy đi!
Chung Linh biết mặt Uyển Thanh đã lâu nên thấy Đoàn Dự từ thân hình đến
giọng nói và cách cử chỉ nhất nhất không giống Mộc Uyển Thanh chút nào
thì biết ngay là giả nhưng chưa rõ chân tướng là ai. Đến lúc lâm nguy, nghe
tiếng chàng gọi, nhận ra mới thất thanh kêu lên:
– Ngươi… ngươi là Đoàn…
Chung Linh chưa dứt lời đã thấy Huỳnh Tư Đà chém một đao nữa, tay áo
bên phải Đoàn Dự lại đứt một miếng.
Huỳnh Tư Đà đắc chí cười ha hả nói:
– Hương dược xoa nàng hỡi! Hôm nay Huỳnh mỗ thực đắc tội, muốn thử
xem dung nhan của nàng nguyệt thẹn hoa nhường nh Tây Thi tái thế, hay
xấu như quỷ dạ xoa?
Một gã đứng cạnh cũng cười phụ hoạ theo:
– Ngoại hiệu cô ả là dược xoa thì xấu như quỷ dạ xoa đứt đi rồi, không thì
sao lại che dấu mặt đi làm gì?
Bọn Thần Nông thấy Tư Đà đánh được hai miếng mà Đoàn Dự thì chân tay
luống cuống, mồm miệng cũng không giữ gìn nữa, thốt ra những lời vô ý
thức.
Trong khi đồng đảng nổi lên giọng cười giễu cợt Huỳnh Tư Đà lại khoa cây
đao đại hoàn dùng thế “Ngọc long tà phi” chém vẹt vào miếng vải che mặt
Đoàn Dự. Đoàn Dự hoảng hồn quay mặt về phía sau, đồng thời do phản ứng
tự nhiên giơ hai tay lên chống đỡ. Bất thình lình đánh huỵch một tiếng
Huỳnh Tư Đà bật ngược trở lại, té lăn xuống đất, thanh đại hoàn đao theo
đà vung mạnh lên, chợt rời khỏi tay Huỳnh Tư Đà bắn tung xa đến mấy
trượng, vòng sắt đụng vào nhau phát ra tiếng kêu “xoang xoảng” rền rĩ mãi.
Huỳnh Tư Đà nằm im dưới đất, duỗi thẳng cẳng, ngửa mặt lên trời, trên đầu
còn cắm một mũi tên ngắn sắc đen.
Bọn Thần Nông thấy vậy khiếp sợ rụng rời, chỉ có hai gã chạy đến để tay
lên mũi thì thấy Huỳnh Tư Đà đã tắt thở rồi. Hai gã này kết giao rất thân
với Huỳnh Tư Đà, coi nhau như tình cốt nhục, thấy bạn chết thì vừa kinh,
vừa giận, cầm gươm nhảy đến chém Đoàn Dự. Nhưng vừa nhảy lên chân
chưa chấm đất đã nghe hai tiếng “vút vút” cả hai đều ngã lăn đùng cùng một
lúc, quằn quại mấy cái rồi cũng nằm im.
Bọn Thần Nông thấy một lúc chết luôn ba mạng, nhốn nháo cả lên bỗng có
người hô to lên rằng:
– Anh em đâu! Chúng ta chia bốn mặt bủa vây, nhất tề xông vào thử xem
con quỷ cái này có phóng ám khí giết hết bọn ta không?
Mọi người nghe nói nổi lòng căm phẫn người áo đen, không sợ hãi gì nữa.
Hơn hai mươi tên quanh lại bao vây bốn mặt. Đoàn Dự ngoảnh nhìn bốn
phía, đều có kẻ thù vây kín. Tên nào tên nấy mặt mũi hung ác trông rất ghê
sợ, tay cầm gươm đao sáng loáng. Chàng sợ quá đứng ỳ ra đó. Chẳng ngờ
dư hai mươi tên xông vào còn cách Đoàn Dự trong vòng một trượng đã nghe
“vút vút vút” liên thanh, ám khí bay đến tới tấp, kế tiếp là những tiếng
“huỵch, huỵch huỵch” phát ra do những cây thịt đổ nhào. Chỉ trong một hơi
thở, dư hai mươi tên đều mất mạng. Hết thảy là những tay bản lãnh không
vừa trong đảng Thần Nông đều bị tiêu diệt trong nháy mắt thì làm gì mà Tư
Không Huyền chẳng bạt vía kinh hồn. Huống chi trước đây cũng ngoài hai
mươi tên đã bị con kim linh cắn đang bị trọng thương, chỉ còn hạng tầm
thường sống sót.
Tư Không Huyền nghiến răng rít lên:
– Hương… Hương dược xoa! Tiếng đồn oai danh ngươi quả đã không ngoa.
Quả ngươi có những thủ đoạn cực kỳ tàn khốc.
Đoàn Dự như người mơ ngủ, chàng có nghĩ gì đến chuyện đến đây đánh
nhau? Vậy mà kẻ địch nằm chết ngổn ngang. Rõ ràng là có bàn tay ám trợ,
nhưng nhìn bốn phía thì tuyệt không có bóng người nào cả. Chàng không
hiểu họ ẩn nấp ở đâu để giúp mình. Chàng lại thấy nhiều người bị thảm tử,
bất giác động mối thương tâm nghẹn ngào nói:
– Tư Không bang chúa ơi! Vụ… vụ này chính là ngươi… ngươi bức bách ta
quá. Thực tình ta… ta cũng đau lòng.
Tư Không Huyền căm hờn:
– Còn tánh mạng lão phu đây tuỳ tôn ý muốn băm vằm thế nào cũng được.
Nay bộ hạ Tư Không Huyền này đã vỡ tan tành, lão phu cũng không thiết
sống nữa.
Đoàn Dự ngậm ngùi nói:
– Nếu ngươi… ngươi chịu tha Chung cô nương ra thì ta quyết không… không
hại ngươi.
Chàng vì xúc động quá mà giọng nói ôn hoà, đâu có lạnh lùng như Mộc
Uyển Thanh. Tuy nhiên Tư Không Huyền đang lúc vừa căm hờn vừa bối rối
trước cảnh bao nhiêu thủ hạ được việc đều chết hết, không còn sót lấy một
tên nào kha khá thì còn lòng nào mà để ý đến chàng là trai hay gái, còn
phân biệt đâu là chân, đâu là giả nữa.
Tư Không Huyền gọi to lên bảo một tên thủ hạ:
– Triệu Tư Đà! Đằng nào cũng chết, ngươi giết con nhãi họ Chung đi cho ta!
Triệu Tư Đà vâng lệnh tiến lên giơ đao nhằm sau gáy Chung Linh toan
chém. Bỗng nghe “vút” một tiếng lại mũi tên ngắn bay đến, Triệu Tư Đà
quay đầu lại phía sau, té nhào, lưỡi đao lại chém trúng mặt mình. Nguyên
lúc chém Chung Linh, gã đinh ninh thế nào Hương Dược Xoa cũng phóng
ám tiến ngăn trở nên mắt vẫn vè vè trông chừng Đoàn Dự, chỉ chờ tay phải
chàng cử động là nằm rạp xuống để tránh. Ngờ đâu ám tiến phóng ra mà
tuyệt không thấy gì báo hiệu trước.
Vừa rồi bọn Thần Nông vây đánh Đoàn Dự, ám tiến bay đến tới tấp. Trong
lúc hỗn loạn không nhìn rõ đã đành, bây giờ lại thấy Triệu Tư Đà tự nhiên
lăn ra chết, chẳng khác gì sét nổ chớp giật thì còn ai biết được ám tiến từ
đâu phóng tới? Bọn Thần Nông sợ quá đều đứng ngẩn người ra như kẻ mất
hồn. Có mấy kẻ nhát gan nhủn cả đầu gối không đứng vững đợc nữa, phải
quỳ hay ngồi xuống.
Đoàn Dự trỏ một gã đứng tuổi bảo:
– Mi thả Chung cô nương ra!
Gã này biết rằng nếu không tuân lệnh sẽ toi mạng như Triệu Tư Đà. Luật lệ
đảng Thần Nông tuy rất nghiêm khắc nhưng gã coi cái chết trước mắt còn
khẩn cấp hơn. Gã run bần bật, cắm đầu chạy lại, rút đoản đao cắt đứt hết
dây trói tay chân Chung Linh mà không dám nhìn Tu Không Huyền.
Chung Linh được cắt đứt dây trói rồi, chạy ngay đến trước mặt Tư Không
Huyền nói:
– Ngơi lấy hết thuốc trong hộp ra rồi trả lại hộp cho ta! Tư Không Huyền
tuy rất nghi ngờ về thứ thuốc giải độc của Đoàn Dự đưa cho nhưng vẫn móc
ra cầm trong tay, trao trả hộp lại cho nàng. Lòng lão còn đang ngơ ngẩn băn
khoăn về cách đối phó với ám tiến của Hương Dược Xoa thì Chung Linh
đón lấy hộp rồi bảo lão:
– Đưa đây!
T Không Huyền hỏi:
– Đưa cái gì?
Chung Linh nói:
– Đoàn công tử đã đi tìm thuốc về cho ngươi vậy thuốc giải độc đoạn trường
tán của ngươi để cứu Đoàn công tử đâu? Đưa đây!
Tư Không Huyền nghĩ kế nói tiếng lóng đọc cho thủ hạ lấy thuốc:
“Mãn giang hồng: không công, Giang thành tử ngoạ mục, Niệm nô kiều:
khuyết sửu, Phát tinh tinh: trạo để”. Lão gọi luôn mộc lúc bảy tám vị.
Đoàn Dự cùng Chung Linh không hiểu, nghe tựa như lão niệm chú. Nhất là
Chung Linh chẳng biết tý gì, còn Đoàn Dự sau nghĩ ra được mấy tiếng theo
cách tản tự. Chàng biết đại khái là Tư Không Huyền, để khỏi lộ bí mật đã
gọi vị thuốc bằng những tên khác đi. Còn như không công là chữ công bỏ
nét sổ ở giữa thành chữ nhị tức là hai phân. Ngoạ mục: chữ mục để nằm
ngang thành chữ Tứ – bốn phân. Khuyết sửu: chữ sửu khuyết góc là chữ
Ngũ – năm phân. Trạo để: đáy chữ trạo, tức là chữ thất – bảy phân. Vậy
những chữ này chỉ về phân lạng. Đoạn thấy hai tên thủ hạ mở rơng ra lấy
thuốc, có thứ là cao, có vị tán nhỏ nh bột. Một tên khác đem những vị đó
trộn lẫn với nhau rồi lấy giấy dầu gói lại hẳn hoi.
Tư Không Huyền sai đưa cho Chung Linh. Chung Linh cầm lấy thuốc nói:
– Nếu thuốc này không hiệu nghiệm, ta sẽ giết hết đảng Thần Nông, không
để sót một mống.
Tư Không Huyền cười lạt nói:
– Thuốc này mới có thể giữ cho đoạn trường tán chậm phát ra trong một thời
gian bảy ngày nữa. Sau bảy ngày mà lão phu chưa chết, cô trở lại đây lấy
thứ thuốc chữa khỏi hẳn.
Chung Linh cả giận quay lại bảo Đoàn Dự:
– Lão này vẫn giữ thói thâm độc, chị phóng tên giết quách đi!
Tư Không Huyền nói:
– Thứ thuốc giải đoạn trường tán khắp trên thế gian này chỉ có mình lão phu
chế được mà thôi. Lão phu chết thì Đoàn công tử cũng không sống nổi.
Đoàn Dự nghe nói trong dạ bồn chồn, nghĩ thầm: “thứ thuốc mình đưa cho
lão chỉ là cá, cơm trộn với đất, chứ có phải thuốc men gì đâu mà chữa được
nọc con Kim linh? Lão chỉ còn hai ngày nữa là hết đời, bây giờ biết làm thế
nào?
Chung Linh nhìn Đoàn Dự như để dò hỏi chàng tính sao, vì nàng cũng chưa
có chủ ý gì. Nhưng rồi trong lúc cấp bách, nàng nghĩ nảy ra được một kế
liền bước đến nắm lấy tay Tư Không Huyền bảo:
– Tư không bang chúa! Bây giờ ngươi phải đi với ta đến xem Đoàn công tử
ra sao?
Tư Không Huyền bực mình hỏi:
– Tiểu cô nơng! cô làm gì mà lôi kéo thế này?
Chung Linh đáp:
– Giờ chắc Đoàn công tử đang ở nhà ta. Ta đưa ngươi về xem cho chàng.
Đồng thời nọc con kim linh có xảy ra chứng gì đã có gia phụ chữa cho
ngươi.
Đoàn Dự thấy kế đó rất diệu, lạnh lùng nói:
– Vậy thì đi thôi! Không có ta giết chết ngay bây giờ.
Tư Không Huyền nghĩ bụng: “nếu mình không nghe lời con quái này, chọc
giận y, y cho mình một mũi tên độc là uổng mạng. mà bỏ thuộc hạ nằm
ngổn ngang ở lại để đi theo y thì ra mình là một vị bang chúa mà để chúng
uy hiếp, mất cả thể diện, sau này còn chi là oai danh với bọn thuộc hạ?
Lão còn đang trù trừ thì Chung Linh vận nội công bóp mạnh tay lão và giục:
– Tư không bang chúa, ngươi uống thuốc đi! Còn thì chia cho bọn thủ hạ lẹ
lên rồi mà lên đường.
T Không Huyền lòng chưa nhất quyết, lấy thuốc nếm thử một chút, mười
phần chỉ ăn độ ba phần, còn đưa tất cho bọn thuộc hạ.
Chung Linh cũng không nói gì nữa, cứ lôi tuột đi. Tư Không Huyền tuy
đang bị trọng thơng, giả tỷ lão muốn giật tay ra cũng chẳng khó gì nhưng
một là lão sợ Hương Dược Xoa, hai là sợ thuốc giải độc vô hiệu, ở lại tất
chết chi bằng theo chúng đi, may còn có cơ sống được, bèn nói:
– Chính ta cũng cần đến ra mắt lệnh tôn để bàn mấy việc quan hệ.
Lão nói vậy là để rửa mặt cùng bọn thuộc hạ, rồi cất bước ra đi. Những tay
giỏi trong đảng Thần Nông không bị chết thì bị rắn cắn hết cả, ngoài ra
chẳng còn ai dám ho he gì nữa.
Chung Linh kéo lão đến bên Đoàn Dự , đưa tay trái ra năm lấy cánh tay
chàng lôi đi. Tư Không Huyền bị Chung Linh áp bức phải đi theo. Đi được
vài bước, sau lưng còn vẳng nghe tiếng thủ hạ thì tháo bàn tán, lão lấy làm
hổ thẹn, cúi đầu xuống, lẽo đẽo theo Chung Linh. Chung Linh cứ lẳng lặng
mà đi, không nói năng gì cả nhưng trong lòng nàng nghĩ lung lắm: nếu ta
làm tiết lộ bí mật của Đoàn huynh, Tư Không Huyền biết ra trở mặt thì làm
sao mà địch lại lão? Vừa rồi sở dĩ bao nhiêu tay giỏi trong đảng Thần Nông,
chẳng qua là nhờ tuyệt kỹ của Mộc tỷ nương ẩn nấp đâu đây ám trợ làm nên
vụ này. Nghĩ vậy nàng nói lớn, cố ý để cho Tư Không Huyền nghe tiếng:
– Mộc tỷ nương! tiểu muội nhờ tỷ nương đến cứu cho thoát nạn hiểm nghèo,
tiểu muội xin đa tạ!
Đoàn Dự sánh vai đi cùng nàng, chợt nghe nàng cất cao giọng nói lớn thì
giật nẩy mình lên, nhưng rồi chàng định thần hiểu ngay, cũng dở trò một
cốt, một đồng nói lại:
– Đã là chỗ người nhà sao em còn khách khí như vậy?
Chung Linh cười thầm lẩm bẩm: anh cũng khéo giả vờ đấy! Rồi nàng bóp
mạnh tay chàng. Đoàn Dự nhăn mặt khẽ la: “úi chao!”.
Chung Linh cười hích hích nói nhỏ:
– Anh thật là một ông tướng già gan!
Đoạn nàng cầm cả gói thuốc Tư Không Huyền trao cho vừa rồi lẫn cái hộp
dúi vào tay chàng.
Đoàn Dự thấy nàng đã biết rõ tẩy mình nói khẽ:
– Đa tạ cô nương!
Bỗng nghe góc tây bắc có tiếng hú nho nhỏ, tiếp theo ở góc đông nam ra
hiệu đáp lại bằng bốn tiếng vỗ tay. Rồi Đoàn Dự thấy có bóng người chạy
tới trước mặt, còn cách ba người chừng bảy tám trượng thì đứng dừng lại
quát:
– Hương Dược Xoa! Mi còn trốn đi đâu được nữa chăng?
Nghe giọng nói Đoàn Dự biết đích là Tam Chởng Tuyệt Mệnh Tần
Nguyên Tôn. Sau lưng cũng nổi lên tiếng cười khanh khách, Đoàn Dự quay
đầu nhìn lại, dưới ánh trăng lờ mờ, chàng nhận ra là một mụ già, tay trái
cầm cây đao dài, tay phải cầm cây cương chuỳ nhấp nhánh. Chàng lẩm
bẩm: “Nguy to rồi! Nguy to rồi!. Không có Mộc cô nương đến cứu cho mau
lẹ thì hỏng bét”.
Trong cơn nguy cấp, Đoàn Dự ngẫm nghĩ nên mặc nguyên bộ áo giả mạo,
hay nên cởi ra cho họ thấy rõ mình không phải là Mộc Uyển Thanh. Còn
đang do dự thì hai bên cũng có người chạy lại: bên trái là một vị sư già mặc
áo vàng, tay cầm ngang một cây phương tiện sản, còn người bên phải thì
không rõ mặt, dường như gã này còn trẻ tuổi, lưng dắt cây trường kiếm,
chuôi có chùm dây thao, tung bay trước gió.
Chỉ trong giây lát Đoàn Dự bị bao vây bốn mặt. Trong bốn người này thì ba
người là: Tần Nguyên Tôn, mụ già vào lão tăng chàng mới gặp họ đến bao
vây Mộc Uyển Thanh bây giờ đuổi đến đây, chỉ còn gã trai tráng kia tuy
chàng chưa gặp, nhưng chắc cũng là đồng bọn.
Chung Linh cất tiếng hỏi:
– Phải chăng các ngươi muốn kiếm Mộc tỷ nương?
Lão tăng đáp:
– Quả thế! Chúng ta chỉ kiếm một mình Mộc Uyển Thanh mà thôi. Cô
nương và vị tiền bối kia là ai? Xin tránh ra!
Chung Linh chưa kịp trả lời thì Tư Không Huyền đã hỏi:
– Đại sư có phải là Tuệ Thuyền ở chùa Thiếu Lâm không? Vị này là Nộ
Giang Vương Tần lão gia, vị này là Thân Từ nương, tại hạ là Thần Nông
bang Tư Không Huyền. Còn một vị đây tôi chưa được biết, xin thứ lỗi cho
hỏi tôn tánh đại danh.
Gã trai tráng tiến lên hai bước, tới chỗ ánh trăng chiếu xuống đáp:
– Tại hạ họ Sử…
T Không Huyền không đợi gã nói nốt tên, cướp lời:
– A thế ra hảo hán là Hắc Bạch kiếm Sử đại hiệp! Nay mới được gặp hân
hạnh chừng nào.
Sử An khoanh tay đáp lễ nói:
– Tôi được nghe đại danh Tư Không bang chúa đảng Thần Nông đã lâu.
Hôm nay mới được bái kiến, thật là đại hạnh.
Đoàn Dự thấy Sử An trạc ba mươi tuổi, người không cao lớn lắm, nhưng có
dáng dấp một vị anh hùng, cặp lông mày xếch lên, đôi mắt thanh tú, chàng
biết ngay là người chính khí, so với bọn cường đồ Tần Nguyên Tôn, Thân
Từ nương thật khác xa nhau, tự nhiên lòng chàng có ý muốn thân cận ngay.
Tư Không Huyền biết rất nhiều các nhân vật trong các phái võ nhưng vì lão
ở Vân Nam đã lâu, nên những tay cự phách ở Trung Nguyên đến chín phần
mời lão từng nghe danh mà chưa biết mặt. Trong bốn người này lão chỉ
biết có Tần Nguyên Tôn, còn ba người nữa thì lão trông binh khí sử dụng
hoặc nhìn tướng mạo cùng trạc tuổi mà đoán cũng không sai. Riêng về Tần
Nguyên Tôn thì lão biết có môn chưởng lực cực kỳ hùng hậu vào lão đã
từng gặp mặt thì không kể. Tuệ Thuyền đại sư, một trong tám vị hộ pháp ở
chùa Thiếu Lâm và đứng vào hàng bậc nhất trong các đệ tử nhà Phật có tài
sử cây Phương tiện sản. Thân Từ nương sử dụng luôn hai thứ đao và chuỳ
lập nên một thế đánh riêng biệt, chuyên thủ thắng bằng lối hung hiểm, thâm
độc. Sau cùng là gã Hắc Bạch kiếm Sử An, gần đây oai danh lừng lẫy ở
miệt Giang Nam, có tiếng là con người nghĩa hiệp, tuy lão chưa biết cách
căn đề võ công chàng ra sao nhưng chắc cũng vào bậc thượng thừa. Tuyệt
diệu ở chỗ cả bốn người này tìm Hương dược xoa để trả thù, lão cũng được
dịp mượn tay họ rửa hận cho mình và trừ cho các phái võ một tay ghê gớm.
Tư Không Huyền suy tính xong, giả vờ giơ tay lên đáp lễ, cất tiếng hỏi:
– Bốn vị giá lâm núi Vô Lượng về việc gì?
Không chờ bọn này trả lời, lão thừa cơ gạt mạnh Chung Linh cùng Đoàn Dự
xiêu đi mấy bước, rồi né mình tránh qua bên phải. Nào ngờ vết thương con
kim linh cắn rất trầm trọng, lão lại liên tiếp dùng sức mạnh, chân bước
không vững nên lảo đảo suýt ngã.

Hết Chương 7

Hết Hồi 7

======================================================================

Chương 8

Nát thân báo chúa

    Ban đầu bọn Tuệ Thuyền cho là Tư Không Huyền về phe với Mộc Uyển
Thanh, lại biết rõ võ công lão tuy không vào bậc tuyệt đỉnh, nhưng đảng
Thần Nông cũng là loại sừng sỏ ở Vân Nam, đã người nhiều thế mạnh, còn
giỏi nghề chế thuốc độc, phun khói độc thì trừ được lão không phải là
chuyện dễ. Đến lúc Tư Không Huyền vừa nhảy một cái đã loạng choạng cả
người, họ mới biết lão bị thương nặng.
Tư Không Huyền xoay mình tựa vào Tuệ Thuyền, cất giọng buồn thảm nói:
– Hương dược xoa là một đứa rất hiểm ác, vừa sát hại hơn hai mươi người
trong tệ bang. Tại hạ cùng thị đã kết mối thù không đội trời chung.
Tuệ Thuyền bảo Chung Linh:
– Tiểu cô nơng tránh ra một bên!
Chung Linh đáp:
– Bọn ngươi không địch lại Mộc tỷ nương ta đâu, nên sớm về đi là hơn!
Tư Không Huyền nói nhỏ xúi vào:
– Đứa nhỏ này là con gái lão “Kiến nhân tựu sát” Chung Vạn Cừu đấy. Cha
nó hãy còn sống, phải bắt nó mới được.
Tư Không Huyền nói vậy là lão có lòng vị kỷ, muốn cho Tuệ Thuyền bắt
Chung Linh để buộc Chung Vạn Cừu chữa cho lão khỏi vết thương rắn cắn.
Tuệ Thuyền thấy nói “Kiến nhân tựu sát Chung Vạn Cừu chưa chết cũng
giật mình băn khoăn: thằng cha quái ác này ghê gớm lắm, khó lòng mà hạ
nổi y. Y mà còn thì từ nay phái Thiếu Lâm không thể ăn ngon ngủ yên
được. Mình chẳng nên gây thêm một mối thâm cừu nữa.
Đột nhiên lão giơ phương tiện sản nhằm đầu Chung Linh phóng ra, Chung
Linh né tránh, hông ngờ cây phương tiện sản theo đà lật ngược trở lại để
móc vào cổ nàng. Thế đánh này gọi là “Tự vãng thực phản”, một thế rất lợi
hại trong 36 thế “Phục ma kiếm pháp”. Những thế này toàn nguy hiểm ở
chỗ bất ngờ mà chuyển nhanh như gió. Dù cho bên địch có biết mà tránh
cũng không kịp. Chung Linh cả sợ kêu lên một tiếng thì sống lưng cây
phương tiện sản đã tới sát cổ rồi. Bất thình lình một tia bạch quang loé ra,
rồi nghe đánh keng một tiếng. Thì ra mũi ám tiến nhằm bắn vào sau lưng
Tuệ Thuyền đã bị Sử An đưa kiếm ra gạt, ám tiến chạm vào kiếm, rơi xuống
đất.
Thoắt một cái Tuệ Thuyền đã xoay được cây sản móc Chung Linh kéo về
gần bên mình, tay trái lão đưa ra nắm lấy cổ tay nàng, miệng nói:
– Đa tạ Sử đại hiệp đã cứu ta!
Tuệ Thuyền định thần rồi mà mồ hôi còn toát ra nh tắm vì hoảng sợ: giả tỷ
mình không được Sử An lẹ mắt, lanh tay gạt rơi ám tiến thì bây giờ mình đã
hết đời rồi.
Sử An ngoảnh mặt về phía mũi tên phóng tới quát:
– Mộc cô nương! Ra đây!
Bọn Tần Nguyên Tôn xấu hổ vô cùng, lẩm bẩm: té ra tên áo đen kia không
phải là Hương dược xoa. Tâm linh gã họ Sử thần tốc hơn mình nhiều. Lão
cũng nhìn về phía mũi tên bắn tới mà chỉ thấy bầu trời tối đen, tuyệt không
bóng người.
Bỗng mé tả có tiếng “cạch”, một hòn đá ở đât rớt xuống lăn long lóc. Mọi
người ngoái đầu lại nhìn thì “vút” một cái, tiếp theo có tiếng “keng” vọng
lên. Sử An lại giơ kiếm lên gạt được mũi tên ngắn phóng tới sau đầu Thân
Từ nương. Nguyên người nấp trong bóng tối bắn Tuệ Thuyền rồi chuyển
sang mé bên phải ném đá để đánh lạc hướng cho mọi người chú ý vào đó,
rồi hạ độc thủ toan hại Thân Từ nương.
Thân Từ nương vừa sợ vừa tức, múa tít thanh đao dài, ánh đao lấp loáng
trông như một làn tuyết phủ quanh người. Mụ hùng hổ xông vào đám cỏ
rậm ở bên phải để xục tìm. Cỏ đứt bay lên tứ tung mà chẳng thấy ai ẩn
trong đó.
Sử An bỗng hú lên một tiếng, đoạn nhẩy tót lên một cành cây lớn ở tây
nam, rồi nghe rít lên những tiếng gươm đao loảng choảng vang dội. Thanh
trường kiếm của Sử An quần nhau với gươm đao bên địch đã được bốn
đường. Tuệ Thuyền đang chú ý nhìn, thì một bóng đen nhảy chồm xuống
đầu Tuệ Thuyền. Tuệ Thuyền tuy tuổi già nhưng ứng biến cực kỳ mau lẹ,
tay phải lão tung ra một cái, cây phương tiện sản đã nhằm bóng đen phóng
tới. Bóng đen đạp chân trái vào cây sản của lão để mượn đà, mũi kiếm
nhằm Thân Từ nương phóng tới. Thân Từ nương hoa đao lên ráng sức ngăn
lại, đánh choang một tiếng, lưỡi đao bị kiếm bên địch hớt đứt mất đầu. Lỡi
kiếm sáng loáng tiện đà phóng thẳng xuống. Thân Từ nương đang bị nguy
cấp, Tần Nguyên Tôn không kịp đến cứu, dùng điện lực ở bàn tay đánh
mạnh về phía sau bóng đen. Bóng đen đã biết chưởng lực Tần Nguyên Tôn
rất lợi hại, không dám chống đỡ, thanh kiếm đang chém thẳng xuống phải
trở chiều đa ngang chí lên vai Thân Tử nương để lấy đà rồi bóng đen nhẹ
nhàng lướt qua tránh khỏi. Giả tỷ bóng đen không bị chưởng lực của Tần
Nguyên Tôn phóng tới, thanh trường kiếm không phải trở chiều, cứ một
mạch bổ thẳng xuống thì mụ Thân Từ đã bị chém làm đôi.
Nhờ chuyển thế bất ngờ, mau lẹ dị thường, Thân Từ nương thoát hiểm. Hai
lần chết hụt nhưng bản tính hung hăng vô cùng, mụ chẳng chùn nhụt chút
nào, hùng hổ xông vào đánh bóng đen.
“Chát chát chát” ba tiếng, kế tiếp là một tiếng cười ‘hích hích”, bóng đen đã
đâm trúng vai mụ Thân Từ. Ngay lúc ấy Tần Nguyên Tôn cùng Tuệ Thuyền
chia hai bên tả hữu áp lại. Bấy giờ Đoàn Dự mới nhìn rõ con người mặc
toàn đồ đen, nhanh nhẹn uyển chuyển chính là Hương Dược Xoa múa kiếm
loang loáng. Bị ba người vây đánh mà nàng lượn qua, lượn lại thoăn thoắt,
tựa như con cá đang bơi lội vùng vẫy.
Sử An ở trên cây nhẹ nhàng nhẩy xuống, rồi tra gươm vào vỏ, đứng xa xa
nhìn cuộc tranh đấu như kẻ bàng quan.
Đoàn Dự chạy lại gần gã gạ chuyện:
– Sử đại ca! Sao đại ca không khuyên họ đừng đánh nhau nữa?
Thực là một câu hỏi ngoài sức tưởng tượng của Sử An. Sử An quay lại nhìn
chàng hỏi:
– Quý huynh là ai?
Đoàn Dự đáp:
– Tại hạ là Đoàn Dự! Thưa đại ca! Tại hạ thực không biết giữa Mộc cô
nơng cùng mấy vị kia có điều chi hiềm khích. Chẳng qua thấy họ động
một tý là chém giết nhau, như thế đâu phải là hành động của người quân tử?
Bất luận bên nào nhầm lỗi, tôi ưtởng thiếu gì cách giàn xếp ổn thoả?
Sử An suy nghĩ thấy lời gã nói kể ra cũng có lý. Nhưng trong đám giang hồ
thì sự thù ghét, chém giết nhau như cơm bữa, chỉ trông vào sở trường võ
nghệ để tranh đua hơn thua, chứ nếu cứ lấy lời lẽ để phân giải phải trái thì
còn luyện võ làm quái gì? Gã Đoàn Dự này là ai? Sao ta chưa nghe thấy tên
tuổi y bao giờ?
Sử An toan hỏi rõ, chợt thấy Chung Linh đứng đường xa vừa vẫy tay vừa
gọi:
– Đoàn huynh lại đây mau!
Đoàn Dự vội chạy lại hỏi:
– Chi đó?
Chung Linh nói:
– Chúng ta chạy đi thôi!
Đoàn Dự nói:
– Mộc cô nương đang bị bao vây, mình bỏ đi sao đành?
Chung Linh nói:
– Mộc tỷ nương bản lãnh không vừa, chị ấy thiếu gì cách thoát thân?
Đoàn Dự lắc đầu nói:
– Không được! Mộc cô nương đến đây để cứu mình, lòng nào nỡ bỏ nàng lại
để thoát thân?
Chung Linh giậm chân nói:
– Đồ gàn ơi! Anh ở lại đây chỉ tổ vướng chân chị ấy chứ được ích gì?
Giữa lúc ấy bọn Tần Nguyên Tôn, Tuệ Thuyền và Thân Từ nương đang
cùng Mộc Uyển Thanh tranh đấu kịch liệt. Tần Nguyên Tôn dùng chưởng
lực phát ra những luồng gió như bão táp, Tuệ Thuyền múa tít cây phương
tiện sạn vù vù, thanh thế cực kỳ dữ dội. Thế mà Mộc Uyển Thanh vừa đánh
vừa nghe được cả bốn mặt, tám phương. Từ câu chuyện Đoàn Dự nói với Sử
An, rồi những câu đối đáp giữa Đoàn Dự cùng Chung Linh, không câu nào
lọt ra ngoài tai nàng cả.
Nàng lại nghe Đoàn Dự tiếp:
– Chung cô nương! cô chạy trước đi, còn ta đây nếu phụ ơn Mộc cô nương
sao phải đạo làm người? Khi nàng không chống nổi ta sẽ đứng ngoài
khuyên giải họ biết đâu chẳng vãn hồi được cục diện?
Chung Linh tức mình nói:
– Thôi anh im mồm đi! Anh chỉ giữ sao cho khỏi uổng mạng mình là tốt,
đừng hòng can thiệp vào chuyện gì hết.
Đoàn Dự nói:
– Giả tỷ mà không được Mộc cô nương cứu thoát thì mạng này cũng chết toi
rồi. Đoàn mỗ này mà không còn có chút lòng nghĩa khí thì ngay gia phụ
cùng bá phụ cũng chẳng dung tha, chứ đừng nói ai nữa.
Chung Linh nói:
– Anh đồ gàn ơi! Tôi không lôi tuột anh đi không xong.
Nói rồi nắm lấy tay chàng kéo đi. Đoàn Dự la lên:
– Ta không đi! Ta không đi!
Nhưng sức Chung Linh mạnh quá, Đoàn Dự cự không nổi, bị nàng lôi đi
xềnh xệch. Sử An đứng bên rất lấy làm kỳ: gã này rõ ràng chẳng biết tý võ
công nào mà sao lại có lòng trọng nghĩa đến thế? Mình vẫn nghe nói Hương
Dược Xoa lòng dạ thâm độc, hành động bất lương, tuyệt không ai dám thân
cận với ả, mà sao anh chàng họ Đoàn này gan liều đến thế? Không biết gã
nói nghĩa lý gì cho ả nghe?
Bỗng nghe tiếng Mộc Uyển Thanh lanh lảnh:
– Chung Linh em chạy trước đi! Không được lôi kéo gã như thế!
Chung Linh càng sợ hết hồn, lôi Đoàn Dự chạy lẹ hơn, thì vút một tiếng,
búi tóc Chung Linh rung lên, một mũi tên ngắn đã cắm vào đó.
Mộc Uyển Thanh quát:
– Ngươi không buông gã ra thì ta bắn vào mắt bây giờ.
Chung Linh vốn biết Mộc Uyển Thanh nói sao làm vậy, không hăm doạ
chơi bao giờ nên tuy bình nhật được cùng nàng thân cận mà nay nghe nàng
bảo bắn lòi con ngươi là nàng sẽ bắn thật. Chung Linh đành buông Đoàn Dự
ra.
Mộc Uyển Thanh lại quát giục:
– Em chạy về với ba má em ngay đi! Mau lên! Mau lên!
Chung Linh không dám cãi lời, quay lại bảo Đoàn Dự:
– Đoàn huynh! Xin anh đừng có liều lĩnh, phải giữ mình làm trọng.
Nói rồi lấy tay bưng mặt chạy đi, thoắt cái đã biến vào bóng tối.
Tư Không Huyền gọi giật lại:
– Chung cô nương! Đừng chạy nữa. Còn môn thuốc giải của lệnh tôn đó cô
tính sao?
Chung Linh chẳng thèm ngoảnh lại mà cũng chẳng trả lời, cứ cắm đầu chạy
thẳng. Tư Không Huyền lật đật chạy theo, mới được vài bước cặp giò bải
hoải lão té nhào xuống đất.
Sử An đứng ngoài theo dõi cuộc đấu, ngấm ngầm so sánh. Gã lẩm bẩm một
mình: kể về lanh lẹ thì cô này hơn ta nhiều, còn về kiếm pháp thì chưa chắc
đã bằng ta. Gã giữ t cách tự trọng, không muốn vào phe với bọn Tần
Nguyên Tôn xúm vào uy hiếp một cô gái. Chừng nào ba người thất bại rõ
ràng gã mới ra tay. Gã nhìn một lát nữa, Mộc Uyển Thanh đổi thế đánh,
múa kiếm dường như lá rụng hoa bay. Từng dây ánh kiếm xẹt ra tựa như
sao đổi ngôi, bay lững lờ như tơ bay trước gió, phương hướng thay đổi, biến
ảo khôn lường.
Sử An giật mình bất giác reo lên:
– Kiếm pháp hay tuyệt.
Tiếng reo chưa dứt, Tuệ Thuyền bỗng kêu to một tiếng. Cạnh sườn lão bị
trúng một nhát kiếm. Tiếp theo ba tiếng “vù vù vù”, Mộc Uyển Thanh
phóng luôn mấy nhát kiếm nữa. Tần Nguyên Tôn hoảng hồn phải nhảy ra
ngoài để tránh. Nàng quay mũi kiếm lại đánh một mình Thân Từ nương.
Mụ bị ánh kiếm của nàng bao vây bốn mặt. Trông chừng Thân Từ nương
mất mạng đến nơi, Sử An không thể chần chừ được nữa, vung thanh trường
kiếm như cây cầu trắng trên không, xông vào giữa làn ánh kiếm của Mộc
Uyển Thanh. Hai thanh kiếm chạm nhau bật lên những tiếng the thé ghê
người. Tuy Sử An đến cứu kịp Thân Từ nương, nhưng mụ cũng đã bị đâm
trúng ba nhát. Vậy mà mụ hăng máu, không biết mình bị thương, cứ chồm
lên như con cọp điên cuồng xông vào đánh Mộc Uyển Thanh.
Thanh trường kiếm của Mộc Uyển Thanh chọi với kiếm của Sử An mới
được bốn đường, nàng đã biết mình gặp phải một tay đối thủ ghê gớm.
Kiếm pháp gã này không kém gì mình. Từ lúc gã mới lao vào vòng chiến
nàng đã phải hết sức chú ý không dám sơ hở chút nào. Chẳng ngờ Thân Từ
nương cố đánh thục mạng, cứ lăn xả vào sát Mộc Uyển Thanh. Tay phải mụ
cầm cây cương chuỳ đâm vào đùi nàng. Nàng liền co chân đá mụ một cái
lộn đi mấy vòng. Nhưng Sử An thừa cơ lúc nàng đang phân tâm này, phóng
kiếm đâm vào mi mắt. Chỉ trong nháy mắt và khe chừng sợi tóc, nàng thu
kiếm về vừa kịp đánh choang một tiếng. Nàng liệu chừng nếu bên địch còn
dùng những đòn hiểm độc liên tiếp ba bốn miếng nữa mà mình đang ở vào
địa thế bất lợi thì việc đón đỡ cực kỳ khó khăn, bèn đổi lối đánh, vung thanh
kiếm đâm thẳng vào ngực Sử An. Thế này gọi là “Lỡng bại câu thương”,
bắt buộc bên địch phải tự cứu mình trước. Quả nhiên Sử An xiêu mình đi
mới tránh khỏi, rồi vội vàng cầm ngang thanh kiếm để giữ mình. Mộc Uyển
Thanh thấy gã không dám tấn công nữa, cầm ngang thanh kiếm quay về thế
thủ thì thở phào nhẹ nhõm. Đã hơi yên dạ nàng toan lại đổi thế kiếm thì bất
ngờ nghe đánh “sột” một tiếng, vai bên phải đau nhói. Thì ra mụ Thân Từ,
nhân lúc nàng mải đối phó với những đòn ác liệt của Sử An để sơ hở phía
sau, đâm được mũi cơng chuỳ vào đó. Cáu tiết Mộc Uyển Thanh nhanh
như cắt, xoay bàn tay lại đánh một phát cực mạnh khiến cho mặt mụ nát
nhừ, máu chảy đầm đìa, chết ngay tức khắc.
Tần Nguyên Tôn, Tuệ Thuyền thấy vậy lại nhẩy vào vòng chiến, thế là ba
người đánh một.
Đoàn Dự trông thấy quát lên:
– Các ngươi ba mặt nam nhi đại hán, xúm vào ăn hiếp một cô gái, sao không
biết thẹn.
Sử An đang muốn dừng tay, nghe tiếng Đoàn Dự quát, nói lớn:
– Mộc cô nương! Bỏ kiếm chịu hàng đi thôi!
Vừa nói vừa nhảy một cái ra xa đến hơn một trượng. Mộc Uyển Thanh cứ
để mũi dùi nguyên trên vai, nhịn đau đâm luôn Tần Nguyên Tôn hai nhát
rồi đâm Tuệ Thuyền một nhát. Ba nhát kiếm này lanh lẹ vô cùng. Má bên
phải Tần Nguyên Tôn bị cứa một vệt rớm máu, cổ Tuệ Thuyền cũng bị
kiếm sớt qua. Tuy hai người mới bị thương nhẹ, nhưng trúng vào những
chỗ nguy hiểm, chỉ trệch đi một chút là uổng mạng nên đều cả kinh thất
sắc, vội nhảy ra xa đưa tay lên sờ vết thương.
Mộc Uyển Thanh lẩm bẩm: hoài của, thế mà chưa trừ xong hai lão. Nàng
hít một hơi rồi huýt sáo nghe lanh lảnh. Con Hắc Mai Côi ở phía sau núi
chạy về. Mộc Uyển Thanh nhảy tót lên lưng ngựa. Ngựa vừa chạy đến bên
Đoàn Dự, nàng cắp ngay chàng lên yên, hai người cỡi chung một ngựa rồi
nhắm thẳng phía tây gia roi.
Đi được chừng mười trợng, trong rừng cây bỗng nổi lên những tiếng reo
hò, đến vài chục tên nhảy xổ ra cản đường. Một lão khôi ngô trong bọn quát
to lên rằng:
– Xú dược xoa! Bọn ta chờ mi ở đây đã lâu rồi.
Lão đưa tay ra nắm lấy dây cương. Mộc Uyển Thanh vừa giơ tay lên, ba
mũi tên phóng ra “vút vút vút”. Ba gã trong bọn trúng tên ngã nhào. Lão già
sợ quá run lên. Mộc Uyển Thanh giật dây cương một cái, con Hắc Mai Côi
bất thần nhảy vọt lên, qua đầu bọn chúng mà chạy. Con tuấn mã này chạy
nhanh như gió cuốn, chúng không tài gì đuổi kịp. Trong bọn cản đường này
thiếu gì tay cự phách, nhưng vẫn sợ ám tiến của Mộc Uyển Thanh ghê gớm
vô cùng, chân tuy chạy đuổi theo mà tay lúc nào cũng múa tít gơm đao để
che thân.
Ngựa đã chạy một quãng khá xa, Đoàn Dự còn nghe rõ chúng thi nhau la
hét ở phía sau. Nào là:
– Con tiện tỳ kia! Chúng vị anh hùng tại Phục Ngu quyết không chịu buông
tha mi đâu!
– Dù mi có chạy lên trời, chúng ta cũng quyết bắt cho bằng được để lột da,
róc thịt mi ra.
– Anh em phải đuổi bắt lấy nó, đem băm vằm, mổ xẻ để báo thù cho Tao
đại ca.
Tiếng la hét mỗi lúc một xa nhưng những câu oán giận căm hờn dường như
vẫn còn văng vẳng bên tai Đoàn Dự. Mấy bữa nay chàng vào sinh ra tử, trải
qua bao phen gian nguy khủng khiếp mà vẫn không sờn lòng. Song những
tiếng nghiến răng ken két, những lời nguyền rủa căm giận phen này sâu cay
hơn cả, chàng không khỏi lo sợ băn khoăn.
Mộc Uyển Thanh cứ để con Hắc Mai Côi muốn chạy đường nào thì chạy.
Nó chạy thế nào lại lên một chỗ đỉnh núi, phía trước mặt có vực sâu, nàng
đành bắt ngựa phải quay lại để tìm lối ra. Đường lối trên núi Vô Lượng này
khuất khúc, quanh đi lộn lại, đột nhiên phía trước có tiếng gọi nhau ơi ới:
– Ngựa đã chạy quanh về, con tiện nhân đây rồi.
Mộc Uyển Thanh đã bị trọng thương, không còn sức đánh nhau đành bắt
ngựa tạt sang mé hữu. Trong lúc hoang mang, không tìm ra đường, cho
ngựa chạy bừa. May con Hắc Mai Côi là một giống thần câu, giữa khu núi
đá lởm chởm nó vẫn chạy như bay. Chạy được một lúc nữa con Hắc Mai
Côi đột nhiên khuỵu xuống vì chân phải nó va mạnh vào một tảng đá, rồi
không chạy nhanh được nữa, chân bước loạng choạng. Đoàn Dự bồn chồn
trong dạ nói:
– Mộc cô nương! Cô cho tôi xuống đi! Mình cô dễ thoát thân hơn. Bọn
chúng không thù oán gì với tôi, dù chúng có bắt được cũng không can chi.
Mộc Uyển Thanh hứ một tiếng rồi đáp:
– Ngươi còn biết gì mà nói? Nếu ngươi bị sa vào tay bọn Phục Ngu mà còn
mong toàn vẹn được ?
Đoàn Dự nói:
– Nếu chung hung ác mà có thù với chúng lại càng cần xa chạy cao bay.
Mộc Uyển Thanh đang bị đau, Đoàn Dự lại còn lải nhải luôn miệng, nàng
bực mình nói:
– Ngươi câm mồm ngay đi! Ta cấm không cho ngươi được nói nữa.
Đoàn Dự cười nói:
– Bữa trước tôi không muốn nói, cô cứ bắt tôi đáp lời. Bây giờ tôi nói với cô,
cô lại bắt tôi câm miệng. Cái cô này sao lại khe khắt thế?
Mộc Uyển Thanh cực kỳ khó chịu vì chỗ vết thương nổi cơn đau dữ, không
thể nhịn được, nàng tức quá nghiến răng kèn kẹt, thò tay ra bóp mạnh vai
Đoàn Dự. Đầu xương kêu “sào sạo”, chàng đau tái người, sợ nàng bóp thêm
chút nữa thì đến gãy xương, đành chịu năn nỉ:
– Thôi thôi! Tôi không dám nói nữa.
Con Hắc Mai Côi chợt ra tới đường lớn trên núi. Đường này phẳng phiu,
ngựa lại chạy nhanh được. Lúc đó trời đã tang tảng sáng. Ra đường lớn mới
chạy được chừng hơn dặm, Đoàn Dự nhận biết vội kêu lên:
– Thôi chết rồi! Đây là đường vào cung Kiếm Hồ của phái Vô Lượng. Cô có
thù oán gì với phái này không?
Chàng thấy Mộc Uyển Thanh kết oán khắp nơi nên hỏi vậy. Chàng đoán
rằng nếu nàng chưa có thù oán gì với phái Vô Lượng thì chắc cũng tử tế gì.
Mộc Uyển Thanh lại hừ một tiếng rồi đáp:
– Ta chưa có thù oán gì với phái này. Bây giờ cũng còn kịp mà. Vào đó giết
chết mấy đứa thì thành thù hận ngay chứ có khó gì?
Đang nói chuyện, xa trông thấy nhà cửa trong Cung Kiếm Hồ, kiến trúc rất
là hùng vĩ hiện ra trước mặt.
Mấy bữa nay phái Vô Lượng vẫn gia công phòng thủ đảng Thần Nông lén
đánh, đến nay vẫn cha thấy động tĩnh gì. Những tay nổi tiếng trong các
phái võ đến làm trọng tài cho cuộc tỷ thí nội bộ như bọn Mã Ngũ Đức,
không muốn bị lôi cuốn vào cuộc rắc rối này, đều cáo từ đâu về đấy cả. Chỉ
có thầy trò phe Tây phái Vô Lượng, mặc dầu hiềm khích sâu cay với phe
Đông nhưng vốn có quan hệ đồng môn phái nên không thể mắt thấy phe
này gặp hiểm hoạ mà giũ áo bỏ về được.
Cung Kiếm Hồ được bố trí nghiêm mật: mặt trước, mặt sau đều có môn đồ
hai phe Đông và Tây luân phiên canh gác để đề phòng đảng Thần Nông đến
đánh úp. Cổng ngoài, bốn tên đệ tử vừa nam vừa nữ chống kiếm đứng canh.
Chúng thức suốt đêm, mệt quá uể oải, đang ngủ gà ngủ vịt, chợt nghe tiếng
vó ngựa dồn dập, lập tức tỉnh táo ngay, giơ kiếm ra ngăn chặn. Đứng đầu
toán này là Đờng Nhân Hùng lên tiếng quát hỏi:
– Ai đó? Là bạn hay là thù? Thông tên họ cho mau!
Mộc Uyển Thanh thấy cách bố trí nhu tuồng trận mạc thì ghét cay, ghét
đắng, đã toan nổi hung theo bản tính của nàng, sấn lại đá cho một cái rồi sẽ
nói chuyện sau, song nàng bị thương nặng, thậm chí không dám nhổ mũi
cương chuỳ trên vai, sợ mất máu nhiều không cầm cự được. Nàng lại biết rõ
Tả Tử Mục, chưởng giáo phái Vô Lượng, kiếm pháp lợi hại vô cùng, đáng
liệt vào hàng anh chị trong các phái võ ở Vân Nam nên nàng đành dừng
ngựa lại nói:
– Ta đang bị người đuổi đánh, cần phải vào cung Kiếm Hồ ẩn lánh. Các
ngươi mở đường cho ta đi!
Đường Nhân Hùng cả giận nói:
– Mi bị người đuổi đánh, có muốn xin vào trốn tránh thì phải từ tốn khẩn
cầu. Sao dám ăn nói vô lễ như vậy?
Rồi gã cầm ngang lưỡi kiếm lên, giọng lịch sự hỏi tiếp:
– Tôn giá là ai? Người có quen biết thân tình gì với tệ phái?
Ngay lúc ấy, xa xa đã nghe tiếng từ ngoài đầu đường vọng vào. Đúng là bọn
Tần Nguyên Tôn, Sử An, Tuệ Thuyền cùng bọn trại Phục Ngu đuổi tới
nơi.
Mộc Uyển Thanh giật dây cương, quát lên một tiếng lanh lảnh. Con Hắc
Mai Côi bỗng nhảy vọt lên cao, qua đầu Đường Nhân Hùng tiến vào cửa
cung. Con thần câu này tuy đã bị thương chân trước mà nghe tiếng chủ quát
vẫn còn anh dũng tuyệt luân.
Bọn Đường Nhân Hùng cả kinh, vừa hô hoán rầm lên vừa chạy đuổi theo.
Mộc Uyển Thanh ngồi trên lưng ngựa, đâm ngang, chém dọc chạy vào cửa
lớn, qua các viện nhỏ, thẳng vào đại sảnh rồi tiến vào hậu đường.
Mọi người trong cung Kiếm Hồ nhốn nháo cả lên. Bảy tám tên đệ tử xông
ra ngăn cản, chẳng bị con Hắc Mai Côi đá ngã thì bị cây trường kiếm của
Mộc Uyển Thanh đâm trúng.
Tả Tử Mục mấy hôm nay áo không cởi đai, lúc này vừa mới tỉnh ngủ, chân
không xỏ giầy, nghe phía ngoài có tiếng dứt lác om sòm liền rút kiếm chạy
ra. Đột nhiên lão thấy một con ngựa đen xồng xộc chạy vào, lão vẫn yên trí
chỉ có đảng Thần Nông đánh úp, ngờ đâu giờ lại có người ngựa xông vào
đến hậu đường. Lão giơ tay ra toan nắm lấy cương ngựa toan dắt đi bỗng
thấy luồng gió vừa lướt qua mặt, một thanh kiếm đã phóng đến trước mặt.
Tả Tử Mục chưa từng thấy thế kiếm mau như vậy bao giờ. Rút kinh nghiệm
lâu năm trong các cuộc chiến đấu ác liệt, lão vội vàng dùng thế “Phượng
điểm đầu”, để kiếm bên địch lướt qua rồi vung thanh trường kiếm hất ngược
lên. Hai thanh kiếm chạm nhau đánh choang một tiếng. Tả Tử Mục quả
đoán không sai: kiếm pháp bên địch loang loáng theo thế liên hoàn, tránh
đòn trớc cha xong, đòn sau đã tới. Lão lăn sát đất một vòng rồi lia lỡi
kiếm ra gạt. Đột nhiên chân trái lão thấy tê buốt thì ra bị chân sau con Hắc
Mai Côi dẫm lên, lão phải vận nội công luồn duới bụng ngựa trườn ra ngoài.
Trong lúc hoang mang lão nhìn lên thấy mặt Đoàn Dự, giật mình hỏi:
– Té ra ngươi đấy ?
Rồi nhìn luôn đến người mặc toàn đồ đen, lão nh sực nhớ ra bất giác rùng
mình, buột mồm kêu lên:
– Ngươi là Hương… Hương dược…
Con Hắc Mai Côi đã băng băng chạy ra ngoài vườn hoa phía sau. Tả Tử
Mục toan sử đòn tuyệt kỹ gọi là “Thoát thủ Trịnh kiếm” phóng kiếm rời
khỏi tay có thể xuyên qua hông ngựa. Nhưng lão thấy hình bóng Mộc Uyển
Thanh thì lại nơm nớp hoảng sợ, tuy tay lăm lăm cầm chuôi kiếm mà vẫn
ngần ngừ không dám, thì Mộc Uyển Thanh đã phóng ngựa nhảy qua hàng
rào. Tám gã đồ đệ canh giữ vườn sau, Cam Nhân Hào cũng ở toán này, bất
thình lình thấy con ngựa đen từ nhà ngoài chạy tới, còn đang nghi hoặc Mộc
Uyển Thanh đã giục ngựa chạy tót đến cổng vườn, nàng giơ kiếm chặt đứt
khoá cổng.
Cam Nhân Hào la lên:
– Ô hay! Ngả sau núi này là nơi cấm địa của phái ta, không ai được thiện
tiện tới đó cả.
Nhưng con Hắc Mai Côi cõng trên lưng hai người đã nhảy ra rồi. Tả Tử
Mục tuy rất sợ Mộc Uyển Thanh, nhưng nàng không những đã làm náo loạn
cung Kiếm Hồ, lại còn xông xáo vào nơi cấm địa, lẽ nào làm ngơ được?
Lão vội truyền lệnh yêu cầu phe Tây ở lại giữ cung Kiếm Hồ để đề phòng
đảng Thần Nông đến đánh, còn tự mình đốc suất mấy chục đồ đệ ra sau núi
đuổi theo.
Đoàn Dự nhận ra con Hắc Mai Côi đi đúng con đường mình đã chạy hôm
trớc, vội bảo Mộc Uyển Thanh:
– Mộc cô nương! Phía trước có khe núi rất sâu, cản trở không thể qua được.
Ta phải đi vòng quanh lối khác!
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Sao ngươi lại biết?
Đoàn Dự đáp:
– Đường này tôi đi qua rồi.
Mộc Uyển Thanh không thể không tin được, nàng dừng ngựa lại, ngần ngừ
một lát rồi cho ngựa chạy rẽ sang con đường nhỏ mé tả. Chẳng ngờ đường
này lại đưa tới một dãy dài những đỉnh núi, mỗi lúc một lên cao, càng lên
càng gập ghềnh. Khi lên đến đỉnh núi, Mộc Uyển Thanh quay đầu nhìn lại
thấy ba toán người từ ba phía đang trèo núi đuổi tới: toán mé tả toàn cầm
trờng kiếm, chính là thầy trò Tả Tử Mục ở phái Vô Lợng; mặt sau là một
lũ rất đông, mặt đen như lọ chảo, đó là những tay anh hùng trại “Phục
Ngu”; mé hữu chỉ có ba người là Sử An, Tần Nguyên Tôn và Tuệ Thuyền.
Sử An chạy nhanh như bay, nhảy tót từ mỏm đá này qua mỏm đá khác. Về
môm khinh công gã đã đến chỗ tuyệt luân.Mộc Uyển Thanh thấy vậy không
khỏi lo thầm, vội vàng thúc ngựa nhắm phía trước mà chạy.
Chạy chưa được vài chục trợng, đột nhiên khe núi hiện ra, rộng tới mấy
trượng, mà sâu thăm thẳm, nhìn không thấy đáy. Con Hắc Mai Côi hý lên
một tiếng hãi hùng, đang lúc chạy vội nó bỗng đứng sững rồi lùi lại mấy
bước.
Mộc Uyển Thanh thấy phía trước không còn đường chạy mà ba mặt lại có
quân đuổi theo, trong lúc mười phần nguy ngập nàng lanh trí hỏi Đoàn Dự:
– Ta phải phóng ngựa nhảy qua khe này! Ngươi có dám mạo hiểm theo ta
không hay muốn ở lại đây?
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Lưng ngựa bớt đi một người con Hắc Mai Côi hẳn
nhẩy được dễ hơn”. Rồi chàng đáp:
– Cô nương hãy qua trước rồi ném dây kéo tôi sang sau.
Mộc Uyển Thanh quay đầu nhìn lại thấy Sử An đuổi gần đến nơi, chỉ còn
cách vài chục trượng, bèn bảo chàng:
– Như thế không kịp mất.
Rồi nàng lùi ngựa lại vài bước, ôn tồn bảo:
– Nào Hắc Mai Côi mi ráng nhảy qua khe nghe!
Đoạn vỗ nhẹ vào bụng ngựa hai cái. Con Hắc Mai Côi tung bốn vó chạy ra
bờ khe ráng hết sức nhảy mạnh qua. Đoàn Dự tưởng mình bay bổng trên
không, trái tim trong ngực như muốn nhảy ra ngoài. Con Hắc Mai Côi nghe
lệnh chủ nhân thôi thúc, đem toàn lực nhảy vọt một cái, chân trước vừa tới,
gắng gượng bám được vào bờ bên kia. Nhưng khe núi rộng quá, đêm hôm
trước đã phải chạy suốt đêm, da dĩ chân lại bị thương, vó sau không tài nào
mà nhoai lên được, mình cứ tụt dần xuống.
Mộc Uyển Thanh là người cơ biến mau lẹ, cắp ngay Đoàn Dự nhảy ra khỏi
lưng ngựa, thân Đoàn Dự chạm mặt đất trước, Mộc Uyển Thanh loạng
choạng té theo. Đoàn Dự sợ nàng bị thơng, giơ hai tay ra đón, ôm choàng
ngay lấy.
Con Hắc Mai Côi hý lên những tiếng cực kỳ thê thảm, nó rớt xuống vực sâu
muôn trượng, còn sống làm sao được nữa.
Mộc Uyển Thanh vô cùng xúc động, hất tay Đoàn Dự chạy ra bờ khe, chỉ
thấy sương phủ đầy vực, mà chẳng thấy bóng con Hắc Mai Côi đâu nữa.
Nàng thở dài sườn sượt quay vào.
Sử An đuổi tới bờ khe vừa kịp nhìn thấy màn ảnh khủng khiếp. Dù gã là kẻ
gan dạ phi thường cũng không khỏi lắc đầu lè lưỡi.
Mộc Uyển Thanh thấy truy binh không tài nào sang qua khe được cũng đã
bớt lo, nhưng bỗng thấy đầu óc choáng váng, trời đất nh quay cuồng đảo
lộn, chân tay rã rời, mặt mũi tối tăm, ngã quay xuống đất.
Đoàn Dự cả kinh sợ nàng lăn xuống vực thẳm vội nắm giữ lại, thấy nàng
mắt nhắm cày cạy, thì ra nàng đã ngất đi.
Chàng còn đang hoang mang chưa biết tính sao, chợt nghe bờ khe bên kia
có tiếng hô lớn:
– Bắn! Bắn! Giết chết cả hai đứa đi!
Đoàn Dự ngoảnh đầu nhìn qua bờ đối diện thấy bảy tám người đang sắp
bắn. Chàng còn cách nào để chống đỡ nữa? đành cúi xuống ôm lấy Mộc
Uyển Thanh, may nàng nặng không đầy trăm cân, bồng ngang trên tay và
còn đi được. Đột nhiên đánh vù một tiếng, mũi tên bay sát bên tai chàng.
Chàng ỳ ạch đi được mấy bước, cúi thấp người xuống ẵm xốc Mộc Uyển
Thanh lên để chạy thì lại một mũi tên bay vèo trên đầu. Chàng thấy mé bên
trái có tảng đá lớn, liền cố chạy tới đó, nấp vào phía sau. Giây lát bên tai
vèo vèo không ngớt, bao nhiêu ám khí đập vào tảng đá rồi bắn tung ra.
Đoàn Dự sợ quá không dám nhúch nhích. Bỗng nhiên đánh bịch một tiếng,
hòn đá lớn hơn nắm tay liệng tới bay qua tảng đá lớn, rớt xuống bên mình
chàng. Người ném tất phải có sức mạnh ghê gớm, vì hòn đá lớn thế mà
liệng xa tới mấy chục trợng, chỉ có rằng xa quá nên khó bề trúng đích.
Đoàn Dự nghĩ thầm chỗ này cha chắc đã yên thân, liền nhặt bảy tám cành
lá khô buộc vào sau lưng, bồng Mộc Uyển Thanh lên nín hơi chạy một
mạch hơn mười trượng. Liệu chừng các thứ ám khí, đoản tiến không thể
phóng tới được nữa chàng đứng lại nghỉ, thở một lúc, tìm chỗ đất có cỏ êm
đặt Mộc Uyển Thanh xuống, rồi chàng nấp vào sau những mô đá lớn nhìn
lại. Bờ khe bên kia, bao nhiêu người đang múa tay hoa chân, chỉ trỏ bàn tán
ầm ỹ. Thuận chiều gió Đoàn Dự nghe rõ toàn là những tiếng chửi rủa quát
tháo. Chàng liệu chừng chúng cha có cách nào sang ngay được, nhưng lại
nghĩ thầm: “nếu chúng đi đường vòng tìm được đến đây thì hai mạng này
không khỏi mắc tay độc ác”. Đoàn Dự lại ba chân bốn cẳng chạy lên đỉnh
núi cao trông sang ngả khác, bất giác chàng sợ hãi bủn rủn chân tay, cơ hồ
không đứng vững vì nhìn từ đỉnh núi xuống dưới thấp mấy trăm trượng,
nớc chảy cuồn cuộn: một con sông lớn nước xanh chảy qua. Chàng nhận ra
chính là sông Lan Thương, sóng đã to nớc lại chảy xiết. Về ngả này tuyệt
không có cách nào trèo lên núi đợc, chỉ còn lo bên địch vào ngả khe núi,
chúng xuống đáy vực rồi vừa bấu víu vừa trèo lên mới được. Mình không có
võ nghệ thì còn cách nào chống đỡ nữa? Nghĩ tới đây chàng bất giác thở dài
tự nhủ: chi bằng tạm thoát nguy nan được lúc nào hãy biết lúc ấy. Còn việc
về sau tới đâu hay đó. Đoàn Dự trở lại chỗ Mộc Uyển Thanh nằm, thấy
nàng vẫn còn mê man chưa tỉnh. Chàng đang nghĩ cách cứu cấp, chợt thấy
bên vai trái nàng có cắm một mũi cương chuỳ, máu tươi ra đẫm một bên áo.
Chàng giật mình kinh hãi, thì ra trước lúc mải chạy tháo thân chàng cha
biết là nàng bị thơng.
Việc đầu tiên bây giờ là phải xem nàng còn sống hay đã chết rồi. Chàng
lóng ngóng mở hé tấm khăn che mặt, khẽ đặt tay vào lỗ mũi nàng để thử
xem. Thấy nàng còn thoi thóp thở đã hơi mừng lòng, chàng nghĩ đến việc
rút mũi cơng chuỳ ra và cầm máu cho khỏi chảy. Mũi cơng chuỳ cắm vào
thịt rất sâu, chàng lo vết thơng này ảnh hởng đến tim, phổi và nhổ ra có
thể nguy đến tính mạng nàng ngay tức khắc. Nhng rút cục không còn cách
nào khác nữa, chàng âm thầm khấn rằng:
– Mộc cô nương hỡi! Mộc cô nương hỡi! Tôi nhất tâm cứu tính mạng nàng
đây, bất hạnh mà nàng phải thác oan thì đó chỉ là một điều không thể tránh
đợc.
Nếu cứ để thế này thì dĩ nhiên là nàng không sống được. Khấn xong chàng
nắm chặt lấy chuôi mũi cương chuỳ, toan dùng hết sức mạnh nhổ ra. Nhưng
chàng sợ quá, toàn thân run bắn lên, hai hàm răng chạm vào nhau kêu lập
cập. Giữa lúc ấy vẳng nghe ngoài ven núi thấy tiếng bên địch quát tháo.
Không thể chần chừ được nữa, chàng nghiến chặt răng lại rồi nhổ lên một
cái thật mạnh, mũi cương chuỳ theo tay ra liền. Chàng không biết né tránh,
máu tươi phun đầy vào đầu, vào mặt đỏ lòm.
Mộc Uyển Thanh đau quá kêu lên một tiếng rồi ngất lịm. Đoàn Dự cố bóp
chặt chỗ vết thương cho máu khỏi trào ra nhưng máu cứ tuôn ra như suối,
không tài nào vít được. Chàng không biết làm thế nào, quay ra rứt nắm cỏ
xanh trên mặt đất nhai nát ra rồi đắp lên vết thương. Nhưng vừa đặt vào thì
máu lại ứa ra, trôi đi. Chàng nghĩ thầm: hàng ngày nàng chơi với gươm đao
không chừng có mang theo thuốc dấu bên mình để phòng thân cũng nên.
Nghĩ vậy chàng liền thò tay vào trong bọc nàng để kiếm. Đột nhiên tay
chạm vào một vật giá lạnh, nhũn nhùn, chàng giật mình rụt tay lại, bỗng
thấy ánh vàng nhấp nhoáng, một con rắn nhỏ nhoai ra, đúng là con Kim
linh. Chàng la lên:
– Kim linh! Kim linh! Chớ cắn ta!
Quả nhiên con kim linh không cắn. Thực ra thì không phải nó hiểu lời
chàng nói mà tại trong mình chàng có giắt cái hộp bằng ngọc của Chung
Linh, trong đựng chất kỵ cả kim linh lẫn thanh linh. Ngay các loài rắn độc
khác ngửi thấy cũng phải hàng phục.
Tuy con kim linh không cắn, Đoàn Dự vẫn nơm nớp, lần này chàng lại thò
tay vào bọc nhưng tránh chỗ nó ra. Trong bọc nàng có gì chàng móc ra hết:
nào là lược đồi mồi, nào gương đồng nhỏ, nào khăn gói phấn hồng, ngoài ra
còn ba cái hộp.
Đoàn Dự thấy toàn là những vật dụng của con nhà khuê các thì ngẩn người
ra và từ đó chàng mới quan niệm nàng là một vị tiểu th đài các. Chàng rất
ân hận là mình đã dám thò tay vào sờ lần cả túi áo lẫn bọc giắt trong người
nàng. Những thứ khăn, hộp, gương, lợc này đi với cái hình thù quái gở giết
ngời không gớm tay kia chẳng phù hợp với nhau chút nào. Đoàn Dự mở
hộp thứ nhất ra thì một mùi hương ngào ngạt đưa lên mũi, hộp này đứng sáp
bôi đầu, hộp thứ hai phấn trắng không có hương vị gì cả, hộp thứ ba phấn
vàng có mùi hăng hăng ngửi đến là buồn nôn. Chàng tự hỏi: có phải phấn
vàng này là thuốc dấu chăng hay lại là thuốc độc giết người? Dùng lộn thì
hỏng bét.
Chàng liền thử lấy tay beo mạnh Mộc Uyển Thanh một cái để xem may ra
nàng có tỉnh lại được chăng mà hỏi cho biết. Quả nhiên nàng từ từ mở mắt
ra, chàng mừng quá hỏi ngay:
– Mộc cô nương! Hộp nào đựng thuốc dấu?
Mộc Uyển Thanh đáp bằng một giọng yếu ớt:
– Hộp đỏ…
Nàng chỉ nói được hai tiếng rồi mắt lại nhắm nghiền. Đoàn Dự hỏi thêm
nhưng không thấy nàng trả lời. Chàng rất lấy làm kỳ lẩm bẩm một mình: ủa
này lạ! hộp đỏ đựng sáp rõ ràng, sao lại trị được vết thương? Nhưng thôi!
nàng đã bảo vậy thì mình cũng làm thử xem chứ biết sao bây giờ?
Chàng móc ra ít sáp rồi nhẹ nhàng luồn ngón tay qua chỗ áo rách bôi vào
vết thương. Thuốc vừa bôi, Mộc Uyển Thanh đang lúc mê man nhnưg biết
đau ngay, người nàng co rúm lại.
Đoàn Dự ôn tồn an ủi:
– Cô nương đừng sợ, đừng sợ! Cầm máu khỏi chảy ra rồi sẽ tỉnh.
Lạ quá! Thuốc tiên hay sao mà công hiệu chóng thế? Rịt trong chớp mắt,
máu chảy rơm rớm một lát rồi ngừng hẳn, sau chỉ còn rỉ ra chút nước
vàng. Đoàn Dự nghĩ thầm: thuốc dầu gì mà chế trông như sáp bôi đầu? Tâm
cơ cô này khiếp thật khiến người ta không biết đâu mà lường.
Đoàn Dự chật vật mất nửa ngày trời, bấy giờ mới hơi yên dạ. Bên kia khe
núi cũng không còn nghe tiếng quát tháo nữa. Chàng lại nghĩ thầm: hay là
bọn này xuống đáy vực rồi trèo lên. Nghĩ vậy chàng liền ra chỗ ven núi bờ
vực thẳm để nhìn xem, trong lòng hoang mang lo lắng. Quả nhiên đúng,
chàng thấy đến hơn mời người đang vừa vịn vừa tụt dần xuống. Vực tuy
sâu nhưng xuống mãi cũng phải đến cùng. Tính từ lúc tụt xuống đáy vực
cho đến lúc bấu víu trèo lên đến bờ bên này nhiều lắm là mất hai hay ba
giờ. Chàng lẩm bẩm: chúng mà tới đây thì Mộc cô nương chỉ còn cách bó
tay chịu chết. Bây giờ biết làm thế nào?
Đoàn Dự tuy không hiểu mảy may võ nghệ nhưng lúc lâm vào tuyệt địa
cũng nảy ra ý nghĩ tranh đấu để tự vệ. Chàng nhìn bốn mặt xem địa thế rồi
ẵm Mộc Uyển Thanh đặt vào chỗ khuất, sau một tảng đá lớn để tránh gió
rừng. An trí nàng đâu đó rồi, chàng khom lưng khuân đá ra bờ vực. Cũng
may chỗ này có nhiều khối đá nho nhỏ, ngổn ngang, chẳng mấy chốc mà
chàng nhặt đợc đến năm sáu trăm cục. Xếp đá ra bờ vực xong, chàng trở
lại ngồi bên Mộc Uyển Thanh, nhắm mắt lại an dưỡng tinh thần.
Suốt đêm rồi chàng vất vả mệt nhọc, giờ vừa nhắm mắt đã buồn ngủ liền.
Nhưng chàng biết rằng chẳng còn mấy chốc nữa quân thù sẽ tới nên không
dám ngủ. Thỉnh thoảng lại ngửi thấy mùi hương ngào ngạt không phải lan
mà cũng không phải xạ từ trong mình Mộc Uyển Thanh xông ra. Chàng lẩm
bẩm: ngoại hiệu Mộc cô nương là Hương dược xoa thì chữ “dược xoa” hung
dữ như ác quỷ, còn chữ “hương” tức là nàng có mùi thơm dị thường. Cả ba
chữ này đi liền nhau thật là đầu ngô mình sở nhng xét cho cùng tất nó phải
biểu lộ cả con ngời nàng.
Vừa nãy Đoàn Dự có mở hé tấm khăn bịt mặt, để tay lên mũi nàng xem hơi
thở thế nào nhnưg tâm trí chàng chú trọng vào cuộc sinh tử của nàng nên
chỉ chú ý đến hơi thở mà thôi. Bây giờ vô cớ đâu dám mở khăn ra để xem
cho rõ mặt. Chàng chỉ nhớ mang máng rằng da nàng trắng mịn, nhưng chưa
rõ tớng mạo có hung dữ khủng khiếp hay không.
Lúc đó Mộc Uyển Thanh cũng hãy còn mê man bất tỉnh, giả sử Đoàn Dự có
mở hẳn tấm khăn bịt mặt mà coi mà ngắm, nàng cũng không thể biết được.
Nhưng chàng do dự hoài: nửa muốn xem, nửa lại rụt rè không dám. Hai
luồng tư tởng thi nhau quay lộn trong óc. Một là chàng nghĩ thầm: ta đã
theo nàng tới đây cùng nhau sống chết, giờ sắp mất mạng đến nơi cũng
chưa rõ mặt nàng thì cái chết này cũng uổng lắm ru? Còn ý nghĩ thứ hai nữa
là: tướng mạo nàng quả xấu xa, hung dữ như quỷ sứ thì sao? Điểm này chắc
không sai rồi, hãy nói dung nhan nàng vào bậc bình thường thì nàng cũng
bất tất phải bịt kín để người đời khỏi nhìn thấy. Hơn nữa phân tách ba chữ
ngoại hiệu “Hương dược xoa” thì chữ “hương” đúng rồi, không có lý nào hai
chữ “dược xoa” lại sai được. Cứ xem những hành động rất hung ác của nàng
cũng đủ biết bốn chữ “thanh tú mỹ lệ” không thể có ở trong con người nàng
được. Ta chẳng cần xem nữa là xong.
Phần thì thân thể mỏi mệt quá, phần thì mấy ý nghĩ về Mộc Uyển Thanh
xâm chiếm tinh thần, chàng không chống lại được với cơn buồn ngủ, bất
giác thả tâm hồn lạc vào cõi mộng chập chờn.
Chàng không hiểu đã ngủ đi bao lâu, bỗng giật mình tỉnh dậy. Chàng dụi
mắt, sấp ngửa chạy ra bờ vực thì thấy năm sáu gã đại hán đều mặc đồ đen
đang bấu víu trèo lên bờ khe bên này nhưng sườn núi còn cao mà dựng
đứng, trèo lên cực kỳ khó nhọc.
Đoàn Dự lẩm bẩm: quân này đáo để thật. Chàng lấy một cục đá ném xuống
và la lên:
– Đừng trèo lên nữa! Nếu không nghe lời ta không nể đâu!

Hết Chương 8

Hết Hồi 8

====================================================

Chương 9  Hồi 9

Chút lòng ân ái ai ai cũng lòng

    Đoàn Dự ngồi trên cao ném đá xuống dễ như chơi. Bọn đại hán ở dưới đáy
vực đang trèo lên, còn cách đến vài chục trượng, dù muốn phóng ám khí lên
cũng không tới được nên vừa nghe tiếng chàng la chúng đều dừng lại.
Nhưng chúng chỉ lưỡng lự một lát rồi vừa né tránh vừa tiếp tục bấu víu trèo
lên. Đoàn Dự xô liền năm sáu hòn đá một lúc xuống rồi nghe hai tiếng la
thất thanh rất bi thảm vang lên:
– ối chao! Chết tôi rồi!
Hai gã đã bị đá rớt trúng người, té xuống vực thẳm, nát ra như cám.
Đoàn Dự từ thuở nhỏ thấm nhuần giáo lý nhà Phật nên không chịu học võ
nghệ. Đây là lần đầu tiên chàng đã giết người, lòng chàng se lại, mặt tái đi.
Mục đích chàng đẩy đá xuống chỉ là để hăm doạ cho bên địch hoảng sợ
không dám trèo lên nữa, dè đâu làm chết hai mạng người. Dù chàng đã biết
rõ rằng nếu mình không ngăn trở để bọn địch trèo lên thì mình cùng Mộc
Uyển Thanh sẽ bị chúng giết, vậy mà chàng vẫn hối hận vô cùng. Bọn đại
hán thấy thế nguy vội vàng quay đầu tụt xuống. Một tên luống cuống thế
nào sảy chân té lộn nhào cũng bị tan thây. Đoàn Dự thấy vậy càng thêm ngơ
ngẩn như ngời mất hồn. Hồi lâu chàng bần thần trở về chỗ Mộc Uyển
Thanh thấy nàng đã ngồi dậy, tựa mình vào tảng đá. Chàng vừa mừng vừa
sợ hỏi:
– Mộc cô nương… cô đã tỉnh rồi à?
Mộc Uyển Thanh không đáp, nhìn chàng trừng trừng. Hai luồng nhỡn
quang do hai lỗ thủng khăn bịt chiếu ra coi rõ vẻ nghiêm khắc.
Đoàn Dự ôn tồn tiếp:
– Cô hãy nghỉ một lúc nữa, tôi đi lấy nước về cô uống cho đỡ khát.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Có người trực trèo lên núi phải không?
Đoàn Dự nghe hỏi nước mắt trào ra, lấy vạt áo vừa lau vừa nghẹn ngào đáp:
– Tôi vừa lỡ tay giết hai người, lại… lại làm một gã sợ… sợ té chết là ba.
Mộc Uyển Thanh thấy chàng nước mắt nước mũi rất lấy làm kỳ hỏi tiếp:
– Thế thì sao?
Đoàn Dự nức nở đáp:
– Tôi trộm nghĩ đức Thượng Đế còn có đức hiếu sinh, đằng này vô cớ mà
tôi… tôi đã giết người. Tội… tội ác rất lớn.
Chàng dậm chân tiếp:
– Ba gã đó hoặc giả còn có cha mẹ vợ con, người nhà họ hay tin tất đau khổ
vô cùng. Đối với bọn họ tôi đã hối hận, đối với gia đình họ lại càng hối hận
hơn.
Mộc Uyển Thanh vỡ lẽ ra, cười lạt đáp:
– Ngươi có cha mẹ vợ con không?
Đoàn Dự đáp:
– Cha mẹ tôi hãy còn cả nhưng tôi chưa có vợ con.
Mắt nàng vụt ra một tia sáng kỳ lạ, nhưng tia sáng đó chỉ thoáng qua một
cái rồi trở lại thái độ nghiêm khắc, sắc nhọn như dao, lạnh lùng như băng
giá hỏi chàng:
– Bọn chúng lên đây liệu có giết ngươi và giết cả ta nữa chăng?
Đoàn Dự đáp:
– Chắc chắn là chúng giết hết.
Mộc Uyển Thanh nói:
– à thế ra ngươi định thà để người giết mình còn hơn mình đi giết người?
Đoàn Dự cúi đầm ngẫm nghĩ rồi đáp:
– Nếu chỉ có mình tôi, tôi quyết không giết họ. Nhưng tôi… tôi không thể để
chúng giết cô.
Mộc Uyển Thanh lớn tiếng hỏi:
– Thế là nghĩa làm sao?
Đoàn Dự đáp:
– Cô nương đã cứu tôi, dĩ nhiên tôi phải có bổn phận cứu cô.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Ta hỏi câu này, nếu ngươi nói sai một ly thì đoản tiến trong tay áo này sẽ
phóng ra bắn chết ngươi ngay tức khắc.
Nói tới đây nàng khẽ giơ tay phải lên thẳng về phía chàng.
Đoàn Dự hỏi:
– Thế ra cô nương giết bao nhiêu người toàn là phóng ám tiến trong tay áo
ra?
Mộc Uyển Thanh hỏi tiếp:
– Chàng ngốc kia! Ngươi có sợ ta không?
Đoàn Dự đáp:
– Cô nương có định giết tôi đâu mà tôi sợ?
Mộc Uyển Thanh nổi hung hỏi:
– Ngươi mà chọc giận ta thì đừng hòng ta tha. Ta hỏi ngươi: ngươi đã nhìn
thấy mặt ta cha?
Đoàn Dự lắc đầu đáp:
– Chưa
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Chưa thật chứ?
Nàng nói mỗi lúc một thấp giọng. Tấm khăn che trên mặt trông rõ đã ướt
một quầng tỏ ra nàng đang mệt mà dùng sức quá nhiều nên mồ hôi toát ra.
Tuy nhiên giọng nói vẫn đầy vẻ nghiêm khắc.
Đoàn Dự đáp:
– Tôi nói dối cô làm gì?
Mộc Uyển Thanh lại hỏi:
– Lúc ta mê man sao ngươi không mở khăn bịt ra coi mặt?
Đoàn Dự vẫn lắc đầu đáp:
– Tôi chỉ chăm chú trị vết thương ở trên vai cô nương mà thôi, chứ không
nghĩ tới điều đó.
Mộc Uyển Thanh như chợt nhớ ra điều gì, vừa tức vừa nổi nóng, thở hồng
hộc nói:
– Ngươi… ngươi đã nhìn thấy da thịt trên vai ta rồi chứ gì? Ngươi… ngươi đã
bôi thuốc vào vết thương?
Đoàn Dự cười đáp:
– Có có! Sáp bôi đầu của cô nương sao mà linh nghiệm thế? Tôi không bao
giờ tưởng đó lại là thuốc dấu trị vết thương.
Mộc Uyển Thanh bảo:
– Ngươi lại đây, nâng ta dậy một chút!
Đoàn Dự nói:
– Vâng! nhưng cô nơng chẳng nên nói nhiều, cần nghỉ thêm lúc nữa để rồi
còn kiếm kế thoát thân.
Nói xong chạy lại định nâng nàng dậy. Chẳng ngờ chàng chưa chìa tay ra
đỡ thì vụt một cái nàng đã tát bốp vào má chàng. Tuy nàng bị trọng thương
mà tát còn mạnh gớm. Đoàn Dự mắt hoa đầu váng, mình xiêu trở lại. Vừa
đau vừa giận chàng bưng mặt hỏi:
– Làm sao mà ngươi đánh ta?
Mộc Uyển Thanh cũng cả giận nói:
– Thằng giặc to gan này! Mi dám sờ vào vai ta, dám… dám ngó vào da thịt
ta?
Vì tức giận quá, nàng lại ngất đi, té lăn xuống đất. Đoàn Dự kinh hãi, quên
cả bị tát đau, lại nâng nàng dậy, thấy máu ở vết thương lại ứ ra. Miệng vết
thương vừa mới thu nhỏ lại chưa liền. Mộc Uyển Thanh tát Đoàn Dự dùng
sức quá mạnh nên lại xé ra. Đoàn Dự rùng mình lẩm bẩm: nàng hằn học ta
vì tội mở hé da thịt nàng ra nhưng nếu không cứu chữa cứ để ra hết máu thì
còn sống làm sao được? Đã đến thế này, âu là ta phải tòng quyền, hãy cứu
chữa nàng đã, rồi sau có bị vài cái tát nữa là cùng chứ gì?
Chàng bèn xé áo lau hết những vết máu xung quanh vết thỳơng. Tuy thấy da
nàng trong như ngọc, trắng như tuyết, chàng cũng không dám nhìn lâu, vội
vội vàng vàng lấy sáp bôi vào chỗ miệng vết thương.
Lần này chẳng mấy chốc Mộc Uyển Thanh đã hồi tỉnh, đôi mắt sáng như
điện quắc lên nhìn chàng, coi rất hung dữ. Đoàn Dự sợ nàng tát nữa toan bài
tháo lui. Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Ngươi… ngươi lại…
Nàng cảm thấy chỗ vết thương sau vai mát rượi biết là Đoàn Dự lại mới bôi
thuốc vào cho mình. Nàng hỏi chưa hết câu, Đoàn Dự đáp liền:
– Tôi… tôi không thể thấy cô nương sắp chết mà không cứu cho đành.
Mộc Uyển Thanh thở hổn hển nói không ra hơi vì nàng kiệt lực quá rồi.
Đoàn Dự bỗng nghe mé tả có tiếng chảy róc rách liền chạy ra xem thì thấy
có một khe nước trong suốt đáy. Chàng liền cúi xuống uống vài hơi rồi rửa
sạch hai tay chụm lại vốc nước lên chạy về chỗ Mộc Uyển Thanh nói:
– Cô nương há miệng ra mà uống!
Mộc Uyển Thanh còn ngần ngừ một chút, nhưng máu ra nhiều nàng khát
như cháy họng, thấy nước thèm quá, vén một góc khăn bịt mặt để hở miệng
ra.
Lúc đó vào khoảng giữa trưa, trên đỉnh núi ánh dương quang chiếu xuống
sáng tỏ, Đoàn Dự nhìn rõ cằm nàng thon thon, má hình trái da, da mặt
trắng mịn cũng như thịt sau lưng, miệng nhỏ như đoá hoa anh đào chúm
chím, đôi môi mỏng dính, hai hàm răng nhỏ mà đều đặn như ngọc. Tướng
mạo tuy sắc sảo mà đoan chính. Chàng bất giác rung động tâm thần mà
nghĩ thầm: nàng thực là một bậc tuyệt thế giai nhân.
Đoàn Dự ghé tay cho nước chảy vào miệng Mộc Uyển Thanh. Mấy giọt
nước vương ra còn đọng một bên má tựa như ngọc giát minh châu hay cánh
hoa còn đọng sương mai. Chàng bủn rủn cả người nhưng không dám nhìn
lâu, quay đi chỗ khác.
Mộc Uyển Thanh uống hết nước bảo chàng:
– Ta hãy còn khát, ngươi đi lấy nước nữa về đây!
Đoàn Dự đi vốc nước đến ba lần nàng uống mới đỡ khát. Đoạn chàng ra bờ
vực nhìn sang bên kia thì thấy chỉ còn bảy tám gã đại hán, tay cầm cung tên
đứng gác tại đó, mắt đăm đăm nhìn sang bên này. Chàng lại trông xuống
đáy vực, không thấy còn ai trèo lên nữa. Nhưng chàng biết bọn họ chưa chịu
thôi, hẳn còn đi tìm lối khác để đến vây đánh. Bỗng chàng sực nhớ đến
chuyện uống thuốc đoạn trường tán, sau bảy ngày đứt ruột ra mà chết. Tuy
lão Tư Không Huyền có cho thuốc uống giải độc nhưng lão lại bảo thuốc đó
trì hoãn thêm được vài ngày mà thôi. Huống chi trên đỉnh núi này chỉ có
nước uống, chứ không có gì ăn, vài hôm nữa dù đoạn trường tán không làm
cho đứt ruột thì cả mình cùng Mộc Uyển Thanh cũng phải chết đói. Nghĩ
vậy chàng chán ngán, lủi thủi ôm đầu chạy về bên Mộc Uyển Thanh nói:
– Trên núi này chẳng có trái cây chi hết để tôi lấy cô ăn cho đỡ đói.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Đã thế thì ngươi còn nói làm chi vô ích? Nhưng ta hỏi đây: tại sao ngươi
lại biết Chung tiểu thư? Tại sao ngươi dám càn rỡ mạo danh ta để toan cứu
nàng?
Đoàn Dự bẽn lẽn đáp:
– Sở dĩ tôi phải đội lốt cô nương chẳng qua là vì sự không thể dừng được.
Xin cô nương đừng nhắc đến điều đó nữa!
Mộc Uyển Thanh nói:
– Hừ ngươi đã bảo ta đừng nhắc đến thì ta càng cần phải nhắc đến.
Đoàn Dự đành đem hết chuyện từ lúc gặp Chung Linh ở cung Kiếm Hồ cho
đến lúc đội lốt Mộc Uyển Thanh đi cứu nhất nhất thuật lại.
Mộc Uyển Thanh cười lạt nói:
– Ngươi đã không biết võ nghệ, sao còn cứ đi dây đến bọn giang hồ để
mang luỵ vào thân?
Đoàn Dự đáp:
– Việc đã lỡ rồi, hối cũng vô ích. Tôi chỉ còn ân hận một điều là làm phiền
luỵ đến cô nương mà thôi.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Ngươi làm gì mà phiền luỵ đến ta? Bao nhiêu thù oán với họ đều tự ta gây
ra cả. Không có ngươi ở trên cõi đời này bọn chúng vẫn đến vây đánh ta
như thế. Có điều không dắt dúm ngươi thì ta khỏi bị vướng víu, cứ việc
giết… giết cho sướng tay rồi ra sao thì ra, còn hơn là ngồi chết đói trên đỉnh
núi này.
Nói đến bốn chữ “khỏi bị vướng víu”, nàng cảm thấy hơi ngượng, mặt nóng
bừng bừng. May mà nàng bịt khăn nên Đoàn Dự không nhìn thấy nét mặt
thay đổi. Còn giọng nói tuy có khác nhưng chàng không để ý, chỉ cho là vì
nàng mới bị thương mà tiếng nói có phần yếu ớt.
Đoàn Dự an ủi nàng:
– Cô nương hãy nghỉ thêm mấy ngày cho lành vết thương để lấy lại sức, còn
tranh đấu ra khỏi chốn này. Vị tất bọn chúng đã làm gì nổi cô?
Mộc Uyển Thanh cười lạt nói:
– Việc đời đâu phải dễ dàng như ngươi tưởng. Hãy nói mình “Hắc bạch
kiếm Sử An” cũng đã ngang sức ta rồi, huống chi nay ta lại bị thương?
Chưa dứt lời, bất thình lình từ đâu nổi lên một tiếng hú ghê rợn vang động
khắp núi rừng. Mộc Uyển Thanh vừa nghe thấy, toàn thân run lên bần bật.
Nàng cất tiếng bằng một giọng hãi hùng:
– Lão… lão đến rồi.
Bất giác nàng đưa tay ra nắm chặt lấy tay Đoàn Dự. Tiếng hú vẫn réo lên
không ngớt, các hang núi cũng có tiếng dội vọng lại. Đoàn Dự nghe tiếng
hú thê thảm, mỗi lúc một rú lên nhức óc, tưởng chừng như lũ quỷ sứ đua
nhau kêu gào đòi mạng lúc canh khuya. Chỉ khác ở chỗ giờ đang lúc thanh
thiên bạch nhật nên bớt được đôi phần rùng rợn. Chàng tưởng chừng trời đất
tối sầm lại và cảm thấy tay Mộc Uyển Thanh mãi không hết run. Chắc trong
lòng nàng đang phải trải qua một cơn bão tố hãi hùng. Từ hồi nào chàng
biết nàng đến giờ, từng phen bị cường đồ bao vây, nàng vẫn bình tĩnh như
thường, coi lũ cừu địch như chỗ không người. Cái con người trước nay trơ
như đá, vững như đồng ai sợ nàng thì sợ, chứ cái tên Hương Dược Xoa Mộc
Uyển Thanh quyết chẳng sợ ai. Thế mà lúc này nàng lại bàng hoàng hơn ai
hết. Vậy cái người sắp xuất hiện, ta thử tưởng tượng xem, phải là hàng ghê
gớm khủng khiếp đến mức nào?
Hồi lâu tiếng hú nhỏ dần đi rồi tắt hẳn. Đoàn Dự khẽ hỏi nàng:
– Ai sắp tới thế cô nương?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Lão ấy xuất hiện thì ta không… không sống được nữa rồi. Ngươi… ngươi
liệu mà trốn đi, đừng nghĩ gì tới việc của ta nữa!
Đoàn Dự mỉm cười nói:
– Mộc cô nương! Sao cô coi thường tôi thế? Cô cho Đoàn mỗ vào hạng
người nào?
Mộc Uyển Thanh giương cặp mắt sáng như điện nhìn chàng một lúc, cái
nhìn tuy nghiêm khắc mà không giấu được nỗi lòng tê tái đau thương. Nàng
rủ rỉ bảo chàng:
– Sao ngươi lại cứ năn nỉ đòi chết theo ta? Mà chết như thế phỏng được ích
gì? Ngươi chưa biết lão này độc ác, khủng khiếp vô cùng.
Đoàn Dự chưa bao giờ được nghe nàng nói một câu nào êm dịu đậm đà như
lần này. Từ lúc tiếng hú nổi lên, Hương Dược Xoa Mộc Uyển Thanh đã
hoàn toàn thành con người khác. Thế thì tiếng hú đó không những chàng
chẳng sợ chi mà còn hoan hỉ nữa là khác.
Chàng vui vẻ mỉm cười nói:
– Mộc cô nương! Tôi sung sướng được nghe cô nói như lần này. Có thế mới
phù hợp với dung nhan mỹ lệ của cô.
Mộc Uyển Thanh lại gầm lên hỏi:
– Sao ngươi biết ta dung nhan mỹ lệ? à ra ngươi trông thấy mặt ta rồi?
Tay nàng bóp mạnh tay Đoàn Dự khác nào cái vòng sắt rút chặt vào. Chàng
nhịn đau thở dài nói:
– Lúc cô uống nước, mở hé tấm khăn bịt để lộ nửa bộ mặt khuynh quốc ra
ngoài. Mới có nửa mặt mà đã hoa nhường nguyệt thẹn thì tài mạo cô nương
dĩ nhiên phải đẹp nhất trần ai rồi còn gì?
Mộc Uyển Thanh tuy bản tính hung hãn, dù sao nàng vẫn chưa thoát khỏi
thói ” nhi nữ tình trường”. Khi nghe người ca tụng mình, lòng nàng cũng
thấy vui vui, huống chi trước nay mới được nghe toàn những lời tán dương
võ nghệ, chưa được ai ca ngợi dung nhan.Nàng bất giác cao hứng buông tay
chàng ra nói:
– Ngươi đi tìm vào hang núi hay bất cứ chỗ khuất nẻo nào mà lánh đi, thấy
ai đến cũng mặc kệ, chớ có bò ra. Chỉ lát nữa là lão đến.
Đoàn Dự cả kinh nói:
– Thế thì tôi phải đi cản trở, không cho lão lên.
Đoạn vùng chạy ra bờ vực, chàng hoa mắt lên khi trông thấy một bóng
ngời mặc áo vàng đang từ dưới đáy vực trèo lên rất nhanh. Sườn núi cao
chót vót lại dựng đứng là thế mà hắn vẫn trèo thoăn thoắt, như đi trên đất
bằng, so với loài vượn hắn còn mau lẹ hơn.
Đoàn Dự sợ quá, quát to:
– Này này ta bảo, ngươi còn trèo lên nữa, ta quẳng đá xuống đầu bây giờ.
Người đó cười ha hả, chẳng những không nghe lời tụt xuống mà còn trèo
nhanh hơn trước. Hắn vừa cười xong đã trèo lên được mấy trượng nữa.
Chàng nghĩ thầm: Mộc Uyển Thanh đã sợ con người ghê gớm này thì thế
nào ta cũng ngăn trở không cho hắn trèo lên. Tuy nghĩ vậy nhưng chàng vẫn
không muốn giết người, bèn lượm một hòn đá, gieo trệch sang bên để hăm
doạ mà thôi. Hòn đá tuy không to mấy nhưng liệng xuống đánh ầm một
tiếng nghe cũng ghê người.
Đoàn Dự hỏi:
– Này! Ngươi trông rõ đấy chứ? Nếu ta gieo trúng đầu thì ngươi tan xác ra
rồi. Xuống mau đi!
Người đó cời lạt nói:
– Thằng nhãi kia! Mi muốn sống hay là muốn chết mà dám hỗn láo với lão
gia như vậy?
Lão nói không to mấy nhưng với một giọng đàng hoàng và dằn từng tiếng.
Đoàn Dự nghe rất rõ. Chàng lại thấy lão trèo thêm mấy trượng, mỗi lúc một
nguy cấp hơn, không dám chần chừ nữa. Lần này chàng cầm mấy hòn ném
thẳng xuống đầu. Ném xong chàng yên chí lão phải tan thây, nên nhắm mắt
lại để khỏi trông thấy cảnh tượng bi thảm rùng rợn.
Bỗng nghe hai tiếng cười rộ, chàng rất lấy làm kỳ, mở mắt ra xem thì lạ
chưa. Mấy viên đá rớt xuống đáy vực mà lão không hề gì cả. Chàng lại càng
bồn chồn ném luôn hai ba lần nữa. Lão chờ cho đá rớt đến đỉnh đầu, khẽ
giơ tay áo phất một cái quạt bay đi. Có khi lão lẹ làng nhẩy vèo qua như
không. Đoàn Dự tức mình xô một cái cả ba bốn chục hòn xuống, đã không
hề làm được cho lão bị xây sát mà cũng không làm cho lão phải chậm lại
chút nào. Đoàn Dự thấy ném đá không ăn thua gì hớt hải chạy về báo Mộc
Uyển Thanh:
– Mộc… Mộc cô nương, lão… lão này ghê gớm quá! Chúng ta mau trốn đi
thôi!
Mộc Uyển Thanh lạnh lùng đáp:
– Không kịp rồi!
Đoàn Dự toan nói nữa thì sau lưng dường như có người đẩy một cái, làm
cho chàng bật lên trên không bay đi, rồi rớt đánh “uỳnh” một cái vào trong
bụi cây rậm rạp. Chàng hoa mắt tưởng chừng như trời tối sầm lại, may dưới
đất có nhiều cây thấp đỡ lấy, nên chỉ bị xây sát xoàng ở mặt, không đến nỗi
bị thương nặng. Chàng lóp ngóp bò dậy thì thấy lão áo vàng đã đứng sững
trước mặt Mộc Uyển Thanh. Chàng sợ lão giết nàng, vội chạy lại đứng giữa
hai người hỏi:
– Tôn giá là ai? Vì lẽ gì tôn giá định giết người?
Mộc Uyển Thanh cả kinh nói:
– Ngươi… ngươi đi đi! Đừng đứng đây nữa!
Đoàn Dự cũng trống ngực đánh hơn trống làng, phải gượng gạo trấn tĩnh để
nhìn thẳng vào con người quái gở. Thoạt trông thấy đầu lão khác hẳn người
thường. Đôi mắt tròn mà nhỏ như hạt da. Mắt tuy nhỏ nhưng chiếu ra
những tia sáng ghê rợn, nhìn chằm chặp vằo Đoàn Dự, khiến chàng sợ run.
Chàng nhìn kỹ lại thì vóc người lão vào hạng trung bình, dưới cằm râu tua
tủa, cứng như những sợi thép. Khó mà ước lượng được lão bao nhiêu tuổi.
Lão mặc áo hoàng bào chùng xuống đến đầu gối. Ngón tay dài mà nhọn
như móng chân gà. Lúc mới thoạt trông, Đoàn Dự thấy tướng mạo lão cực
kỳ xấu xa. Nhưng nhìn kỹ thì từ ngũ quan, tầm vóc người cho đến cách ăn
mặc, chỗ nào cũng cân đối, vừa vặn.
Mộc Uyển Thanh gọi chàng:
– Ngươi lại đây đứng bên ta!
Đoàn Dự lại gần nàng hỏi:
– Liệu lão có hại cô nương không?
Mộc Uyển Thanh cười lạt đáp:
– Cái mạng kiến ruồi của ngươi liệu có chống được một cái tát của Nam Hải
Ngạc Thần không mà hỏi?
Mộc Uyển Thanh nói vậy thì nói nhưng thấy chàng quyết tâm hy sinh,
ngang nhiên toan lại che đỡ cho mình nàng không khỏi cảm động.
Đoàn Dự thấy lão già quái gở quả nhiên chỉ muốn đuổi mình ra chỗ khác,
chàng biết lão chỉ giơ tay một cái là thanh toán xong đời mình nên không
dám chọc giận lão, đứng yên bên mình Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôn giá ngoại hiệu là Nam Hải Ngạc Thần đây a? Võ công lão gia quả
ghê gớm thật! Tôi quẳng đến mấy chục tảng đá xuống một lúc mà không
trúng được lão gia cái nào.
ở đời dễ mấy người không a phỉnh? Bổn tính Nam Hải Ngạc Thần hung
tợn là thế mà nghe Đoàn Dự xưng tụng võ công mình ghê gớm cũng thích
chí. Lão cười hềnh hệch bảo:
– Thằng nhỏ này bản lãnh tầm thường mà nhận xét khá đấy! Thôi mi tránh
đi! Lão gia tha mạng cho mi đó!
Đoàn Dự cả mừng tiếp:
– Nhưng lão gia tha luôn cả Mộc cô nương nữa cơ!
Nam Hải Ngạc Thần đôi mắt tròn xoe nhỏ xíu thoáng lộ vẻ trầm ngâm rồi
lão tiến lên một bước, luồng gió dữ dội từ tay áo lão vung ra, quét Đoàn Dự
bổng lên và đẩy lui đi mấy bước.
Với một giọng trầm ngâm lão bảo chàng:
– Nếu mi còn lại đây nữa lão gia sẽ không tha đâu!
Đoàn Dự nghĩ thầm: kể trong đám giang hồ thì lão này là một nhân vật nói
sao làm được như vậy. Ta cứ đứng yên đây là hơn.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi Mộc Uyển Thanh:
– Phải chăng mi là Hương Dược Xoa Mộc Uyển Thanh?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Chính phải! Tiểu nữ từng nghe oai danh Nam Hải Ngạc Thần lão gia từ
lâu, thực là danh bất hư truyền. Tiểu nữ đang bị trọng thương không thể
đứng dậy làm lễ được, xin lão gia miễn trách!
Đoàn Dự lẩm bẩm: cô này chỉ quen già nắn, rắn buông, đối với mình tác
oai, tác quái là thế mà nay thấy lão già ghê gớm này lại nịnh bợ một điều
lão gia, hai điều lão gia, thì ra cũng một tuồng sợ mạnh, hiếp yếu cả!
Nam Hải Ngạc Thần lại hỏi Mộc Uyển Thanh:
– Ta nghe nói tài nghệ mi cũng khá, làm sao lại bị trọng thương?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Tiểu nữ bị bọn Tần Nguyên Tôn, Sử An, Tuệ Thuyền, Thân Từ nương,
bốn người vây đánh. Song quyền khôn địch tám tay rồi bị Thân Từ nương
đâm một cương chuỳ vào vai.
Nam Hải Ngạc Thần nói:
– Sao bọn chúng nó hèn thế? Bấy nhiêu đứa xúm lại uy hiếp một đứa con
gái?
Đoàn Dự cũng nói xen vào:
– Lão gia dạy quả là chính đáng. Đừng nói cậy nhiều đánh ít, chỉ một người
đàn ông cũng không nên hiếp đáp một cô gái. Người ta thường nói rằng:
làm trai đáng mặt không thèm tranh đấu với đàn bà. Ai lại đường đường
nam tử trượng phu mà ra tay áp bức phụ nữ? đâu phải là hành động của
những bậc anh hùng hảo hán? Tiếng tăm đồn đại vào giang hồ thì còn đâu
là thể diện?
Nam Hải Ngạc Thần giương cặp mắt nhỏ xíu, tròn xoe gật đầu khen phải.
Đoàn Dự mừng thầm: mình hãy cho lão này xơi nước đường rồi lại cho lão
đi tàu bay để tạm tránh tai hoạ trước mắt, rồi sau sẽ liệu.
Nam Hải Ngạc Thần lại hỏi:
– Có phải mi giết Tôn Hà Khách không?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Đúng!
Nam Hải Ngạc Thần hỏi:
– Gã là đệ tử rất thân ái của ta mi có biết không?
Đoàn Dự đứng ngoài lo sợ lẩm bẩm: thôi hỏng to rồi, Mộc cô nương giết đồ
đệ thân yêu của lão, việc này không xong rồi. Bỗng thấy Mộc Uyển Thanh
đáp:
– Lúc giết y tiểu nữ chưa hay, mãi sau mới biết.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi:
– Mi có sợ ta không?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Không sợ!
Nam Hải Ngạc Thần cả giận, gầm lên một tiếng vang khắp cả hang núi:
– Mi không sợ ta thế thì mi… mi to gan thật, mi… mi cậy thế ai mà dám hỗn
láo với ta?
Mộc Uyển Thanh thủng thẳng đáp:
– Tiểu nữ cậy thế lão gia nên không sợ ai hết.
Nam Hải Ngạc Thần không hiểu, miệng há hốc ra rồi rít lên:
– Mi đứng nói hàm hồ. Mi cậy thế… ta?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Trong các phái võ lâm, lão gia đã liệt vào hạng thất tôn khét tiếng trần
gian có lý đâu lại giết một đứa con gái đã bị trọng thương?
Mấy câu này gãi đúng chỗ ngứa, lão khoái chí cười khà khà nói:
– ừ mi nói cũng có lý.
Đột nhiên lão sa sầm mặt xuống bảo:
– Hôm nay ta không giết mi nhưng ta hỏi mi câu này: ta thấy họ đồn rằng
mi lớn rồi mới lấy khăn bịt kín mặt để người đời khỏi ngó thấy. Ai lột được
khăn bịt mà mi không giết chết mới chịu lấy làm chồng, có phải đúng thế
không?
Đoàn Dự đã giật mình, lại thấy Mộc Uyển Thanh gật đầu chàng càng kinh
hãi ngẩn ngơ.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi:
– Vì sao mi lại lập ra lệ ấy?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Đó là nghiêm lệnh của sư phụ tiểu nữ bắt phải như vậy. Nếu không nghe,
người không chịu truyền dạy võ nghệ.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi:
– Sư phụ mi là ai? Thằng cha nào mà quái ác lạ đời thế nhỉ?
Mộc Uyển Thanh phản đối:
– Tiểu nữ kính trọng tiền bối, tôn xưng một điều lão gia, hai điều lão gia mà
tiền bối lại khinh mạn sư phụ tiểu nữ nói thuần những lời khiếm nhã, như
thế không được!
Nam Hải Ngạc Thần lấy cườm tay bổ xuống tảng đá lớn bên cạnh, tức thì
tảng đá vỡ tan ra, bay tung lên. Mấy hạt nhỏ xíu đập vào mặt Đoàn Dự mà
cũng làm cho chàng đau nhói. Chàng nghĩ thầm: sao lại có người võ công
ghê gớm đến mực này? Cườm tay đập vào đá còn nát ra như cám nếu đánh
vào da thịt người thì còn đến thế nào? Chàng nhìn khoé mắt sâu thẳm của
Mộc Uyển Thanh, thấy nàng vẫn thản nhiên chẳng mảy may xúc động trước
thần lực của Nam Hải Ngạc Thần.
Nam Hải Ngạc Thần nhìn nàng trừng trừng hỏi:
– Mi nói có lý lắm, vậy lão phu xin thỉnh giáo danh hiệu lệnh tôn sư là gì ạ?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Sư phụ tiểu nữ là “Vô danh khách”.
Nam Hải Ngạc Thần trầm ngâm một lúc rồi hỏi:
– Vô danh khách là ai? Sao ta chưa nghe thấy ai nói tới cả?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tiểu nữ cũng liệu biết lão gia cha được nghe đến danh hiệu sư phụ tiểu
nữ bao giờ.
Nam Hải Ngạc Thần đột nhiên giật giọng hỏi:
– Có phải đồ đệ ta là Tôn Hà Khách vì đòi xem mặt mi mà phải tán mạng
không?
Mộc Uyển Thanh thong thả đáp:
– Biết trò không ai bằng thầy. Lão gia đã hiểu thấu tâm khảm y.
Nam Hải Ngạc Thần vốn biết gã đệ tử quý báu là phường háo sắc nên nỗi
bỏ mạng, lão chẳng lạ gì. Song phái Nam Hải có lệ chỉ được truyền võ nghệ
cho một đệ tử mà thôi. Tôn Hà Khách chết, thế là mười năm tâm huyết đã
trôi theo dòng nước. Lão càng nghĩ càng căm, rít lên một tiếng hãi hùng.
Mộc Uyển Thanh cùng Đoàn Dự thấy mặt lão đột nhiên sa sầm, trông mà
phát khiếp, không ngờ lại có người trở mặt nhanh đến thế nên đều sợ hết
hồn, bỗng nghe lão gầm lên:
– Ta phải báo thù cho đồ đệ ta.
Đoàn Dự tiến lên một bước, sực nhớ lão cấm không cho mình đến gần, liền
lùi trở lại nói:
– Ngạc lão tiền bối! Vừa rồi tiền bối đã hứa không giết Mộc cô nương.
Nam Hải Ngạc Thần không thèm trả lời chàng, lão hỏi Mộc Uyển Thanh:
– Đồ đệ ta đã nhìn rõ mặt ngươi cha?
Mộc Uyển Thanh nghiến răng đáp:
– Chưa!
Nam Hải Ngạc Thần nói:
– Tôn Hà Khách chết cũng không nhắm mắt, vậy ta phải báo thù cho gã. Coi
mặt ngươi xấu nh quỷ dữ hay đẹp như thiên tiên?
Mộc Uyển Thanh sợ hãi rụng rời, nghĩ mình đã phát lời thề độc. Giả tỷ lão
Nam Hải Ngạc Thần ức hiếp mình, chính lão thò tay ra lột khăn bịt, giết lão
thì không giết nổi, chẳng lẽ lại lấy lão làm chồng hay sao? Nàng liền đáp:
– Lão gia là bậc cao nhân trong các phái võ, có đâu lại làm việc đê hèn này?
Nam Hải Ngạc Thần cười lạt nói:
– Trong các bậc “Tam Thiện, Tứ ác” thì lão gia đây là một trong “Tứ ác”,
khắp thiên hạ đều biết tiếng ác của lão gia rồi. Lão gia còn sợ gì nữa? Bình
sinh lão gia chỉ tránh có một điều là tha kẻ không đủ sức chống lại mình,
còn ngoài ra bất luận điều gì, dù xấu xa đến đâu ta cũng dám làm. Vậy mi
tự mở mặt ra đi để lão gia khỏi phải động thủ!
Mộc Uyển Thanh run lập cập hỏi:
– Lão gia nhất định đòi xem mặt tiểu nữ ?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Nếu mi mà la lối om sòm thì không những lão gia chỉ bóc khăn bịt mặt ra
thôi mà còn lột hết quần áo để mi trần như nhộng nữa. Năm ngoái ở phủ
Khai Phong, trong một đêm lão gia đã gian dâm và sát hại chín vị tiểu thư
con quan, mi có nghe thấy vụ đó không?
Mộc Uyển Thanh biết chuyện này không thể nào thu xếp cho ổn được liền
đưa mắt ra hiệu cho Đoàn Dự trốn đi nhưng Đoàn Dự chỉ lắc đầu. Nàng
thấy hàm râu cứng như đanh của Nam Hải Ngạc Thần rung rung rồi lão hứ
lên một tiếng, giơ năm ngón tay móng nhọn hoắc ra, toan móc khăn bịt mặt
của nàng. Nàng vung tay áo một cái, “vút vút vút” ba mũi tên ngắn phóng ra
nhanh như chớp, đều trúng vào bụng Nam Hải Ngạc Thần. Nào ngờ tiếp
luôn ba tiếng “bộp bộp bộp”, rồi ba mũi tên đều rớt xuống đất. Mộc Uyển
Thanh rùng mình một cái lại phóng ra ba mũi tên độc: hai mũi bắn vào ngực
và một mũi bắn thẳng vào mặt lão. Hai mũi bắn vào ngực chẳng khác gì bắn
trúng thiết giáp, lại bật ra rơi xuống đất. Chỉ khác ở chỗ bắn vào thiết giáp
thì kêu keng keng, còn đây thì kêu bồm bộp. Đến mũi tên bắn vào mặt thì
Nam Hải Ngạc Thần giơ ngón tay giữa ra, búng vào chuôi một cái, mũi tên
bay bổng lên không rồi mất hút.
Nên nhớ rằng Mộc Uyển Thanh phóng ám tiến cực kỳ thần diệu. Nàng bắn
nhanh như chớp, khiến cho bao nhiêu cao thủ các phái võ chưa kịp trông
thấy mũi tên đã mất mạng rồi. Hoặc giả có người nhanh mắt, lẹ tay mà
tránh được, gạt được cũng đã là kỳ. Đằng này Nam Hải Ngạc Thần bị mũi
tên bắn trúng vào lại bật ra cũng chưa là kỳ. Kỳ nhất ở chỗ lão mau lẹ đến
mức giơ ngón tay ra búng cho tên bay đi mất. Mộc Uyển Thanh bôn tẩu
giang hồ trong bấy nhiêu lâu chưa từng gặp một nhân vật nào ghê gớm đến
thế. Nàng sợ mất mật nói:
– Lão gia hãy thong thả, đừng hành động dã man.
Nam Hải Ngạc Thần cười hềnh hệch nói:
– Ta chỉ giết kẻ nào không đủ sức chống lại. Đằng nay mi động thủ trước ta,
phóng ra sáu mũi ám tiến. Bây giờ ta xem mặt mi rồi sẽ giết. Mi chớ trách
ta quên lời hứa nghe.
Đoàn Dự kêu lên:
– Lão tiền bối nói sai rồi!
Nam Hải Ngạc Thần hỏi:
– Mi nói sao?
Đoàn Dự nói:
– Lão tiền bối đã có lời đoan ước “tha cho kẻ không đủ sức chống lại” có
phải đúng tám chữ như vậy không?
Nam Hải Ngạc Thần giương đôi mắt nhỏ xíu đáp:
– Phải rồi!
Đoàn Dự nói:
– Lão tiền bối có chịu giữ bất di bất dịch tám chữ đó không?
Nam Hải Ngạc Thần tức mình đáp:
– Một lời lão gia đã nói ra quyết là bất di bất dịch.
Đoàn Dự hỏi:
– Những kẻ đã có lời hứa mà còn thay đổi thì lão gia cho là hạng gì?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Kẻ đó là đồ hèn nhát đáng khinh.
Đoàn Dự nói:
– Nếu vậy hay! Hay! Lão gia chưa đánh Mộc cô nương, cô đã phóng ám tiến
trước rồi, đâu có phải chống lại? Giả tỷ để lão gia ra tay trước, nàng đang bị
trọng thương không đủ sức chống lại, nên nàng hạ thủ trước, thế là nàng
đánh lén chứ không chống lại. Nếu lão gia giết nàng tức là lão gia đã thay
đổi lời hứa. Lão gia thay đổi lời hứa tức là đồ hèn nhát đáng khinh.
Đoàn Dự nguyên đã đọc sách từ thuở nhỏ nên biện bác mau lẹ, mà lời lẽ lại
sắc bén. Gặp lúc nguy cấp chàng phải cãi lý với lão.
Nam Hải Ngạc Thần cả giận gầm lên một tiếng như sấm vang, xoay người
lại, tay trái nắm lấy hai tay chàng quát lên:
– A thằng nhãi này! Mi dám mắng ta là đồ hèn nhát đáng khinh?
Tay phải lão giơ lên toan bổ xuống đầu chàng. Đoàn Dự nói:
– Lão gia có thay đổi lời hứa mới là đồ hèn nhát đáng khinh. Bằng lão gia
giữ đúng lời hứa đâu có phải là đồ hèn nhát? Vậy nếu lão gia muốn khỏi
mang tiếng là đò hèn nhát thì giữ đúng lời hứa.
Mộc Uyển Thanh thấy chàng gan liều coi cái chết như không, gặp lúc lâm
vào trình trạng nguy hiểm này mà vẫn dám mắng Nam Hải Ngạc Thần thậm
tệ, nàng chắc thế nào lão cũng nổi hung đánh xuống một đòn kết quả tính
mạng chàng. Bất giác nàng động mối thương tâm, trào nước mắt, ngoảnh
mặt đi chỗ khác, không nỡ nhìn cảnh tượng đau lòng.
Ngờ đâu Nam Hải Ngạc Thần lại nghĩ rằng: nếu mình đánh chết thằng nhãi
này thì ra mình giết đến cả đứa không biết võ nghệ, quả là đồ hèn nhát thật.
Nghĩ vậy lão dừng tay lại, trợn đôi mắt nhỏ ti hí nhìn chằm chặp vào Đoàn
Dự. Tay trái lão bóp tay chàng mạnh hơn. Cơ hồ sắp gẫy xương, chàng đau
điếng người nhưng bản tính cực kỳ ương ngạnh, quật cường vẫn lớn tiếng
mắng nhiếc:
– Ta chả có chút võ nghệ nào để chống lại ngươi cả, ngươi giết quách ta đi!
Nam Hải Ngạc Thần điên cuồng:
– Mi bảo ta là đồ hèn nhát phải không? hãy coi đây!
Nói rồi lão xách Đoàn Dự bổng lên, quăng mạnh một cái, chàng tối tăm mặt
mũi, tưởng chừng như lục phủ ngũ tạng bị tan nát.
Nam Hải Ngạc Thần quẳng Đoàn Dự rồi miệng lắp bắp:
– Ta không phải là đồ hèn nhát đâu! Ta không thèm giết hai con quỷ con
này.
Đoạn quay lại giục Mộc Uyển Thanh:
– Mở khăn bịt mặt ra cho mau!
Mộc Uyển Thanh hai bên má còn đọng mấy hạt nước mắt, lẩm bẩm: ta đã
phát thệ là quyết không lấy ai, trừ phi chàng trai nào ngó thấy mặt ta mà ta
không giết. Vừa rồi ta đã vì Đoàn lang mà phải sa luỵ. Âu là…
Gặp lúc nguy cấp, nàng không thể chần chừ suy tính được nữa, quay ra với
Đoàn Dự gọi:
– Ngươi lại đây!
Đoàn Dự lóp ngóp đứng dậy, lảo đảo đến trước mặt nàng hỏi:
– Cô nương bảo gì?
Mộc Uyển Thanh nhìn chàng thấp giọng nói:
– Ngươi là chàng trai được ta cho nhìn mặt trước nhất ở thế gian này.
Nàng vừa nói vừa bỏ khăn bịt mặt ra. Đoàn Dự bủn rủn cả người nhìn vào
mặt nàng, không bút nào tả cho hết vẻ kiều diễm, chỉ có rằng bấy lâu chưa
thò ra ngoài ánh sáng mặt trời nên nước da trắng bạch không được hồng
hào. Đoàn Dự ngắm bộ mặt đẹp nhất trần đời với đôi môi mỏng dính kém
phần tươi thắm thì biết cuộc đời nàng đã trải bao nhiêu niềm cay đắng.
Lòng chàng se lại tự hỏi: tại sao mà con người mềm mại uyển chuyển đến
mực này lại giết người không gớm tay với ngoại hiệu là: Hương Dược Xoa
được?
Mộc Uyển Thanh bỏ khăn bịt mặt rồi quay ra nói với Nam Hải Ngạc Thần:
– Nếu lão gia muốn nhìn mặt tiểu nữ xin hỏi trước lang quân tiểu nữ đã!
Nam Hải Ngạc Thần chưng hửng nói:
– Ô hay! Mi có chồng rồi sao? Chồng mi là ai?
Mộc Uyển Thanh trỏ vào Đoàn Dự nói:
– Tiểu nữ đã có lời thề độc: chỉ có chàng trai nào được nhìn thấy mặt mà
tiểu nữ không ra tay hạ sát mới chịu lấy làm chồng. Đoàn lang đã nhìn mặt
tiểu nữ mà tiểu nữ không giết chàng, vậy tiểu nữ thuận cùng chàng gá nghĩa
trăm năm.
Nam Hải Ngạc Thần ngẩn người ra, quay lại nhìn Đoàn Dự. Đoàn Dự thấy
cặp mắt hạt đậu của lão nhìn mình từ trên đầu xuống gót chân rồi nhìn
ngược lại từ chân lên đến đầu. Chàng phát khiếp, mình sởn gai ốc, chỉ sợ
lão điên tiết lên cho một chưởng là hết đời. Bỗng thấy lão chắc lỡi hoài rồi
khen rằng:
– Tuyệt quá! Tuyệt quá! Mi lại gần đây!
Đoàn Dự không dám chống cự, riu ríu đến bên lão. Nam Hải Ngạc Thần lại
khen:
– Hay tuyệt! Hay tuyệt! Mi giống ta đây mà! Giống như hệt.
Đoàn Dự cùng Mộc Uyển Thanh thấy lão nói luôn miệng chỉ những “giống
ta, giống như hệt” rất lấy làm kỳ. Về võ công lão đã đến bậc tuyệt đỉnh, về
tướng mạo lão lại xấu xa đến cùng cực, không biết chàng giống lão ở chỗ
nào?
Nam Hải Ngạc Thần xích lại gần hơn, hết sờ sau gáy lại nắm cả chân tay
Đoàn Dự. Lúc sờ đến sau lưng lão bóp luôn mấy cái rồi cười ha hả:
– Mi quả giống ta, không khác tí nào.
Đoạn lão nắm tay Đoàn Dự bảo:
– Theo ta đi thôi!
Đoàn Dự chẳng hiểu ra sao, hỏi lại:
– Lão tiền bối bảo đi đâu bây giờ?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Về cung Ngạc Thần trên đảo Vạn Ngạc tại Nam Hải chứ đi đâu? Ta thu
mi làm đệ tử ta. Mi khấu đầu thi lễ nhận ta làm sư phụ đi mau!
Nghe lão nói, Đoàn Dự sửng sốt, miệng ấp úng:
– Việc này, việc này…
Nam Hải Ngạc Thần múa tay khoa chân tựa hồ bắt được vật báu nói:
– Chân tay dài rộng, xương hậu chẩm nhô ra, sống lưng mềm xèo là căn cốt
của người thông minh mẫn tiệp, ngươi đã tính tình cao ngạo lại còn ít tuổi,
rất có thể trở nên bậc kỳ tài trong phái võ. Ngơi trông đây này, xương hậu
chẩm mi có giống ta không?
Đoàn Dự nhìn lại, quả hậu chẩm lão cũng giống mình, thì ra lão nói mình
giống hệt lão là ở điểm này.
Nam Hải Ngạc Thần cười hềnh hệch nói:
– Lề luật của phái ta xa nay, mỗi đời chỉ được truyền cho một người. Đệ tử
cũ của ta là Tôn Hà Khách xương hậu chẩm có được như mi đâu? Gã mới
học được hai phần võ nghệ của ta mà thôi. Nay gã chết rồi thật là may cho
ta, ta khỏi phải ra tay giết y để thu mi làm đồ đệ.
Đoàn Dự không khỏi ghê sợ nghĩ thầm: lão này tính tình đơn bạc, không
nghĩ gì đến nghĩa thầy trò. Ai lại thấy kẻ khác đủ t cách hơn mà toan giết
trò cũ đi để thu trò mới? Đừng nói ta kiên quyết không chịu học võ, nếu ta
thành tâm muốn theo nghề này chăng nữa cũng không chịu thờ lão làm
thầy. Nhưng giờ nếu ta cự tuyệt tất mang đại hoạ. Chàng còn đang do dự
chưa biết tính cách nào để đối phó thì Nam Hải Ngạc Thần lại quát to:
– Chúng bay còn ngập ngừng chi nữa? Ta lôi tuột đi bây giờ.
Bất thình lình trong bụi rậm, một lũ mười người chạy ra. Đi đầu là Tả Tử
Mục, Song Thanh đạo cô ở núi Vô Lượng, theo sau có lũ Sử An, Tần
Nguyên Tôn. Sau rốt là bốn trại chủ trong trại Phục Ngu và cũng là những
tay anh chị trong phái Hắc đạo, chuyên đi cướp của phá nhà.
Nguyên sau khi Nam Hải Ngạc Thần lên rồi, Đoàn Dự không liệng đá
xuống vực nữa, bọn này mới trèo lên được, nấp vào trong bụi cây rậm. Tuy
họ im hơi lặng tiếng nhưng khi nào qua được tai mắt Nam Hải Ngạc Thần?
Vì vớ được Đoàn Dự lão Nam Hải Ngạc Thần coi như một báu vật, trong
lòng hí hửng vô cùng, quên cả nổi nóng với chúng. Vừa trông thấy Tả Tử
Mục đến, Nam Hải Ngạc Thần đã quát lớn:
– Bọn ngươi đến đây có chuyện chi? Phải chăng đến mừng ta vừa thu được
gã đồ đệ tuyệt hảo?
Đệ nhị chủ trại Phục Ngu là Sở Thiên Khoát đáp:
– Bọn ta đến đây bắt con tiện nhân là Hương Dược Xoa để báo thù cho
huynh trưởng ta.
Nam Hải Ngạc Thần nói:
– Không được! Không được! Hương Dược Xoa là vợ đồ đệ ta, các ngươi về
đi thôi!
Cả bọn đều sửng sốt, lơ láo nhìn nhau.
Đoàn Dự đánh bạo nói:
– Tôi không thờ lão làm thầy được vì tôi có sư phụ rồi.
Nam Hải Ngạc Thần cả giận nói:
– Sư phụ mi là ai? Bản lãnh của ông ấy còn hơn ta nữa sao?
Đoàn Dự nói:
– Tôi chắc lão gia không hiểu tí gì về sở học của sư phụ tôi. Tôi hãy hỏi lão
gia có hiểu gì về nghĩa lý Công dương học không? Lão gia có biết Chung
Đỉnh cùng Giáp Cốt văn là gì không nào?
Nam Hải Ngạc Thần ngơ ngác không hiểu Công Dương học cùng Chung
Đỉnh Giáp Cốt văn là cái quái gì mà cũng chưa từng nghe ái nói đến bao
giờ.

Hết Chương 9

Hết Hồi 9

===========================================================

Chương 10  Hồi 10

Chút lòng ân ái ai ai cũng lòng

    Đoàn Dự thấy Nam Hải Ngạc Thần vẻ mặt đăm đăm ra chiều suy nghĩ đã
tưởng lão võ nghệ tuy hơn đời nhưng đầu óc hẳn không minh mẫn liền nói
một cách úp mở để đánh lừa:
– Lão tiền bối đã có mỹ ý, tôi xin về mời gia sư một ngày kia đến cùng lão
gia so tài cao thấp. Nếu lão tiền bối thắng đợc gia sư, khi đó tôi sẽ tôn lão
gia làm thầy cũng chưa muộn.
Nam Hải Ngạc Thần cả giận hét lên:
– Sư phụ mi là ai? Ta đâu có sợ lão? Vậy đến bao giờ tỷ thí?
Đoàn Dự nói vậy tưởng để làm kế hoãn binh, không ngờ lão bắt ước hẹn
ngày đấu võ. Chàng còn đang ngần ngừ chưa biết trả lời thế nào, bỗng nghe
thấy một tiếng gầm từ đàng xa vượt qua mấy từng đỉnh non đa lại ầm ầm.
Tiếng gầm này cũng lan tràn khắp các khe núi chẳng kém gì tiếng hú của
Nam Hải Ngạc Thần lúc nãy, chỉ khác ở chỗ là tiếng hú cực kỳ thê thảm
còn tiếng gầm âm điệu lại hoà bình.
Nam Hải Ngạc Thần vừa nghe tiếng gầm giơ tay lên vỗ vào sau gáy mình
kêu lên:
– Chà chà! Lão ấy sắp đến nơi rồi, ta không rảnh mà tranh luận với mi, chỉ
hỏi mi bao giờ sư phụ mi sẽ đấu võ với ta và đấu ở đâu? Nói mau!
Đoàn Dự ấp úng:
– Việc này… tôi chưa gặp gia sư thì biết đâu mà hẹn với lão gia được? Bây
giờ lão gia bỏ đi, bọn kia sẽ giết hai chúng tôi rồi còn đâu… mà về trình lại
với gia sư được?
Chàng vừa nói vừa giơ tay trỏ vào bọn Tuệ Thuyền. Nam Hải Ngạc Thần
không thèm quay đầu lại, với tay trái về phía sau, nắm được Sở Thiên
Khoát, đệ nhị trại chủ trại Phục Ngu, tay phải lão quờ năm ngón nhọn hoắt
ra đánh ục một cái, thọc vào ngực Sở Thiên Khoát. Thiên Khoát vừa gào lên
một tiếng thê thảm, Nam Hải Ngạc Thần đã móc được trái tim đẫm máu lôi
ra.
Hai cái cử động cực kỳ mau lẹ nên Sở Thiên Khoát, một tay bản lãnh không
vừa chưa kịp thi thố gì được. Mọi người ngó thấy sợ hoảng hồn, miệng há
hốc ra. Nam Hải Ngạc Thần đưa trái tim lên miệng cắn, nhai tóp tép có vẻ
ngon lành. Ba gã trại chủ Phục Ngu kia vừa sợ vừa căm, gầm lên như điên
nhảy xổ vào. Nam Hải Ngạc Thần vẫn không chịu nhả miếng mồi ngon đã
đút vào miệng, chân phải đá luôn ba cái, tức thì ba cây thịt cao lớn bay
bổng lên không rồi rớt xuống vực đánh “uỳnh” một tiếng vang lên. Đoàn Dự
nghe đến lạnh gáy.
Bọn Tuệ Thuyền, Tả Tử Mục thấy Nam Hải Ngạc Thần hung ác lạ đời mà
thần lực ghê gớm đến mức ấy đều khiếp đảm lùi lại. Nam Hải Ngạc Thần
vừa nhai ngấu nghiến tim ngời vừa bật lên ồm ồm:
– Lão gia nhắm một trái cha đủ bữa, còn… còn muốn ăn trái nữa. Gã nào
không muốn trốn cho lẹ lão gia sẽ móc lấy trái tim gã ấy.
Bọn Tả Tử Mục, Song Thanh hồn vía lên mây, chạy mau ra bờ vực, tụt
xuống trốn. Chỉ có mình Hắc Bạch kiếm Sử An, mặt giận hầm hầm, mắt
trợn lên, chống kiếm nói:
– Trong thiên hạ sao lại có đứa hung tàn như mi? Thực không bằng giống
vật. Hắc bạch kiếm Sử An này mà sợ chết trốn chạy thì mặt mũi nào trở về
bôn tẩu giang hồ nữa?
Tay gã hất thanh kiếm lên bật ra tiếng kêu lanh lảnh, gã tiến gần lại hai
bớc rồi quát to:
– Coi kiếm của ta đây!
Gã nhằm ngực Nam Hải Ngạc Thần phóng tới. ánh mặt trời chiếu vào thanh
bạch kiếm loé ra những tia sáng loáng. Nam Hải Ngạc Thần vẫn nghiến
ngáu nhai trái tim, ung dung như chẳng thấy gì. Sử An đâm mạnh một nhát
trúng ngực, nghe đánh chát một tiếng, thanh bạch kiếm gãy mất một nửa thì
ra da thịt Nam Hải Ngạc Thần rắn hơn sắt đá, kiếm đâm không thủng. Tuy
thanh kiếm của Sử An không phải là bảo kiếm, nhưng đúc toàn bằng thép
tốt. Sử An thấy vậy cả kinh, vội rút thanh hắc kiếm ở sau lưng ra. Thanh
này toàn một mầu đen kịt, tuyệt không có một chút ánh sáng.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi:
– Mi là Hắc bạch kiếm Sử An phải không?
Sử An đáp bằng một giọng trầm trầm:
– Chính phải, Sử mỗ hôm nay có mất mạng dưới bàn tay hung ác của mi
nhưng rồi sẽ có người đến trả thù cho ta.
Lúc đó gã đã biết võ công mình còn kém Nam Hải Ngạc Thần xa lắm,
không thể nào địch lại được. Gã cầm ngang lỡi kiếm, lùi lại hai bước.
Trong bụng định sẵn chủ ý: nếu đánh ba đòn không lại sẽ nhẩy xuống vực
tự tử, để khỏi lão móc mất tim gan khiến cho phải chết một cách thảm hại.
Nam Hải Ngạc Thần bỏ miếng trái tim cuối cùng vào miệng rồi nói:
– Này Hắc Bạch kiếm Sử An! Lão gia cũng đã nghe tên tuổi mi. Nam Hải
Ngạc Thần này thích nhất là món trái tim của những bậc anh hùng hảo hán,
nó ngon và bổ hơn trái tim của những kẻ khiếp nhược vô dụng. Ha ha nay
được ăn trái tim của ngươi chắc là sướng miệng.
Lão nhảy vụt một cái tựa như mũi tên ở dây cung bắn ra. Sử An vung kiếm
đâm vào cổ lão. Nam Hải Ngạc Thần vừa nghiêng đầu đi để tránh vừa thò
tay ra nắm được vai gã. Sử An đau buốt nửa người, gã dùng hết sức bình
sinh đập chuôi kiếm vào đầu lão, vang lên một tiếng bộp khô khan. Hổ khẩu
tay gã bị toạc ra, thanh hắc kiếm rời khỏi tay. Nam Hải Ngạc Thần vẫn
không hề sây xát mảy may. Sử An cả kinh, vùng vẫy thật mạnh toan chạy ra
sườn núi nhảy xuống vực. Chẳng ngờ bị lão nắm chặt quá, không tài nào
quẫy ra được. Đang cơn nguy cấp, chợt nghe tiếng gầm từ đằng xa lại vang
lên trên không, tiếp theo là một giọng nói oang oang nhưng đậm đà:
– Gã hung thần ác sát Ngạc lão tam kia! Phải chăng ngươi sợ ta không dám
ra đây?
Người nói câu này tuy ở ngoài xa nhưng nghe rất rõ ràng, chẳng khác đứng
ngay bên cạnh. Nam Hải Ngạc Thần lớn tiếng đáp:
– Ngạc lão tam này còn biết sợ ai trên đời nữa? Ngươi hãy chờ đó, ta sắp ra
đây!
Lão nói rồi giơ năm ngón tay ra toan thọc vào ngực Sử An. Sử An rùng
mình nhắm mắt lại chờ chết.
Đoàn Dự vội la lên:
– Lão tiền bối! Trái tim này ngộ độc, không ăn được đâu!
Nam Hải Ngạc Thần ngơ ngác hỏi:
– Sao mi biết?
Đoàn Dự bịa chuyện hàm hồ đáp:
– Gã này hôm kia đắc tội với đảng Thần Nông. Tư Không bang chúa đã bắt
hắn uống hai thứ thuốc “đoạn trường tán” và “hử tâm đan”, hôm qua đây lại
bị Mộc cô nương đây bắn trúng tên độc, bây giờ chắc khí độc chạy vào đến
trái tim rồi, vừa sáng nay lại bị con rắn độc nhỏ sắc vàng cắn một miếng…
Nam Hải Ngạc Thần ngắt lời:
– Có phải con kim linh không?
Đoàn Dự đáp:
– Vâng! đúng con kim linh
Chàng lại lôi con thanh linh ở trong lưng quăng ra nói:
– Lão gia coi đây này! Con kim linh cũng cùng một loại với con thanh linh
này. Trái tim gã họ Sử kia hiện nhiễm đến năm bảy nọc độc, nội lực lão gia
tuy không sợ trúng độc nhưng là đối với trái tim còn tươi kia, đằng này tim
đã hư nát, chẳng còn ngon lành gì nữa. ăn vào chỉ tội hại bao tử.
Nam Hải Ngạc Thần cho là phải, tiện tay quăng Sử An sang một bên, nhìn
Đoàn Dự nói:
– Gã tiểu tử kia! Ta khen cho mi tuy chưa thờ ta làm thầy mà đã có lương
tâm đối với ta.
Bỗng trên không nổi lên nhiều thứ tiếng ồn ào: tiếng gầm trộn lẫn tiếng
gươm đao, thiết bản va chạm loảng choảng, tiếng thú rừng kêu rống lên
chèn tiếng chiêng tiếng cồng khua rộn. Cùng một lúc vang lên bốn thứ tiếng
khiến người nghe phải đinh tai nhức óc. Nam Hải Ngạc Thần vận khí thét
lên một tiếng rồi nhảy xuống vực. Đoàn Dự vừa mừng vừa sợ nghĩ bụng: lão
này nhảy xuống vực, chắc là tan thây rồi. Chàng chạy ra sườn núi nhìn theo
thì lạ cha? Lão nhảy như con ếch, mỗi bước nhảy xuống được mấy trượng,
tay lão chống vào sườn núi nhảy luôn bước khác. Cứ nhảy liên tiếp như thế
chỉ trong khoảnh khắc mà người lão đã xuống sâu lắm rồi chìm vào trong
làn mây phủ dưới đáy vực, không trông thấy đâu nữa. Đoàn Dự lắc đầu lè
lưỡi nghĩ thầm: võ công lão này thật ra ngoài sức tưởng tượng của con
người. Chàng quay về chỗ cũ thì Sử An đã lợm thanh hắc kiếm tra vào bao
rồi. Với nét mặt đầy vẻ bẽn lẽn gã vòng tay nói với Đoàn Dự:
– Hôm nay Sử mỗ nhờ Đoàn huynh cứu thoát, ơn ấy xin ghi lòng tạc dạ.
Đoàn Dự cũng khoanh tay đáp lễ nói:
– Tại hạ tự biết mình đã có nhiều câu hồ đồ xin Sử huynh miễn trách.
Sử An nói:
– Nam Hải Ngạc Thần là Nhạc Thương Long ở đảo Vạn Ngạc tại Nam Hải.
Phen này lão tới trung nguyên không phải chỉ đi một mình mà thôi tất còn
kéo cả lũ thuỷ quái làm binh tướng lên rất nhiều. Tôi từng nghe lão nói sao
làm vậy, nay lão đã chiếu cố tới Đoàn huynh, nhất định lão không chịu bỏ
qua chuyện này một cách dễ dàng đâu. Tôi trót nghe lời bạn đến gây sự với
tôn phu nhân, mong rằng Đoàn huynh bỏ qua chuyện này đi. Tôi xin hộ
tống hiền phu phụ xuống núi, đem sức mọn ra ngăn ngừa bọn lâu la của
Nam Hải Ngạc Thần. Tôi chắc chúng nó còn chờ dưới kia để làm khó dễ
cho hai vị chứ chẳng không.
Đoàn Dự nghe Sử An tâng bốc những là “tôn phu nhân” cùng “hiền phu
phụ” thì thẹn đỏ mặt lên, xua tay hoài, ấp úng nói:
– Tại hạ không… không dám…
Mộc Uyển Thanh lạnh lùng nói:
– Sử An kia! ốc chưa lo nổi mình ốc lại còn giở giọng hảo hán bênh vực kẻ
khác nữa ?
Sử An thẹn quá, nét mặt xám xịt, không nói gì nữa, trở gót đi liền. Đoàn Dự
vội gọi:
– Xin Sử huynh hãy thong thả!
Đời nào gã còn dừng lại? Thất thểu bước đi, chân nặng như đá đeo.
Đoàn Dự lại ra bờ vực nhìn sang bên kia, thấy một bóng vàng đang trèo lên
sườn núi thoăn thoắt. Chàng nhìn kỹ lại thì bóng đó chính là Nam Hải Ngạc
Thần. Thì ra chưa mấy chốc lão đã tụt xuống đáy vực và đã trèo lên sườn
núi bên kia rồi.
Chàng trở lại chỗ Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Vừa rồi Sử đại hiệp nói thế là có hảo tâm với mình, sao cô nương lại chọc
tức cho gã bỏ đi ngay?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Bây giờ chàng là chồng thiếp, chàng muốn đánh trống lảng chăng? Thiếp
giết chàng đi rồi tự vẫn chết theo phỏng có chi là khó?
Đoàn Dự ngẩn người ra hỏi:
– Tôi tưởng trong cơn nguy cấp, cô nương nói vậy để đánh lừa lão Nam Hải
Ngạc Thần mà thôi, đâu phải chuyện thật? Tôi làm chồng cô nương thế nào
được?
Mộc Uyển Thanh tức run lên bần bật, vịn vào phiến đá đứng dậy hỏi dồn:
– Sao chàng không thèm lấy ta ? Có thật chàng ruồng bỏ ta chăng?
Đoàn Dự thấy nàng căm giận đến cực điểm vội đấu dịu:
– Xin cô nương giữ mình làm trọng, mấy câu nói giỡn cô để tâm làm chi?
Mộc Uyển Thanh tiến lại tát Đoàn Dự một cái thật mạnh, nhưng chân nàng
nhủn ra, không đứng vững, té lăn ngay vào lòng chàng. Đoàn Dự giơ tay ra
đón lấy. Mộc Uyển Thanh được Đoàn Dự ôm lấy, có cảm giác ngồi gọn
trong lòng chàng, không khỏi thấy toàn thân rạo rực, cơn nóng giận đã
nguôi được ba phần nàng nói dỗi:
– Buông người ta ra!
Đoàn Dự đỡ cho nàng ngồi tựa vào tảng đá, tự nhủ: tính nàng đã ương
ngạnh, tai quái, nhất là lại đang lúc nàng bị trọng thơng, dám liều lĩnh
lắm. Âu là nàng bảo sao mình cũng phải chiều lòng cho qua lúc này…
Bỗng chàng giật mình bấm đốt ngón tay thì hôm nay đến kỳ đoạn trường
tán phát độc rồi đây, mình không còn hy vọng gì thoát chết tại nơi đỉnh non
hẻo lánh này. Chàng rủ rỉ bảo nàng:
– Mình ơi còn tức giận làm chi nữa? Chúng ta ở đây ăn gì mà sống?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Phải rồi! Chốn này núi trọc, còn có chi mà ăn? Thiếp nghỉ lúc nữa rồi lấy
sức cõng chàng xuống núi.
Đoàn Dự xua tay nói:
– Cái đó không được rồi mình ạ! Mình chạy lấy thân chưa nổi, nói gì đến
chuyện cõng tôi?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Dù chàng chẳng coi sống chết vào đâu nhưng nỡ nào phụ thiếp? Lang
quân chàng ơi! Mộc Uyển Thanh này tuy là gái giết người không ghê tay
nhưng nguyện hy sinh cho chồng.
Mấy lời kiên quyết lạ thường nhưng nàng không quen với giọng nói ỏn thót,
âm điệu cứng cỏi, không phù hợp với tính tình câu chuyện mặn nồng. Đoàn
Dự đỡ lời:
– Đa tạ lòng nàng. Nàng nên an dưỡng tinh thần rồi sau sẽ liệu.
Bất thình lình Đoàn Dự nổi lên cơn đau bụng kịch liệt. Không chịu nổi
chàng kêu lên một tiếng “úi chao!”. Ruột chàng đau tựa như có mũi dao lóc
vào cắt ra từng đoạn. Chàng hai tay ôm bụng nhăn nhó, mồ hôi nhỏ giọt
trên trán.
Mộc Uyển Thanh sợ hết hồn hỏi:
– Lang quân làm sao vậy?
Đoàn Dự rên rỉ trả lời nhát gừng:
– Đây là lão Tư Không… Tư Không Huyền bắt tôi uống đoạn… đoạn trường
tán.
Chàng sực nhớ ra Chung Linh bách bức lão phải cho thuốc giải độc và
chàng đã uống rồi. Lúc đưa thuốc, Tư Không Huyền đã bảo thuốc đó chỉ
tạm thời ngăn cho thuốc độc chậm phát một thời gian, ngờ đâu lão đã đánh
lừa. Chàng lấy cơm cá nghiền nát ra giả thuốc giải nọc rắn cho lão thì chính
mình cũng bị lão chơi khăm.
Mộc Uyển Thanh lo lắng vô cùng nghĩ thầm: ta thường nghe đảng Thần
Nông thạo nghề dùng thuốc. Đã chính tay bang chúa cho thuốc chàng uống
e rằng không còn cách nào cứu được. Nàng thấy chàng đau vật lên ném
xuống, chết đi sống lại, rất đỗi thương tâm, giữ cho chàng tựa vào người
mình và an ủi:
– Lang quân có thấy bớt chút nào không?
Đoàn Dự vẫn đau đến tối tăm mặt mũi rên rỉ:
– Chỉ thấy mỗi lúc một đau… một đau thêm… chẳng bớt chút nào cả.
Mộc Uyển Thanh lấy vạt áo lau mồ hôi cho chàng. Nàng thương chồng lòng
đau như cắt, hai hàng lệ nhỏ, nức nở nói:
– Lang quân ơi! Chàng không sống được sao?
Rồi đưa tay kéo tấm khăn bịt ra, áp mặt vào má chàng run run nói:
– Lang… lang quân đừng chết!
Từ thuở nhỏ, Đoàn Dự chưa thân cận một cô gái đương xuân bao giờ, nay
chàng được người quốc sắc thiên hương nâng nấc, lòng chàng rào rạt nói
sao cho xiết! Má chàng được bộ mặt mỹ miều thơm tho áp vào, bên tai nghe
giọng não nùng một điều lang quân, hai điều lang quân, trách nào tâm hồn
chàng chẳng như bay bổng lên không?
Lúc đó Đoàn Dự thấy trong bụng bớt đau, chàng giữ chặt lấy nàng và hỏi:
– Từ đây trở đi mình đừng lấy khăn che mặt đi nữa được không hả mình?
Mộc Uyển Thanh nhẹ nhàng đáp:
– Lang quân bảo em đừng bịt thì em bỏ khăn đi chứ sao? Bây giờ chàng đã
thấy dễ chịu chút nào cha?
Đoàn Dự lắp bắp:
– Có bớt một chút nhưng mà… nhưng mà…
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Nhưng mà làm sao hở lang quân?
Đoàn Dự đáp:
– Nhưng mà mình đừng rời tôi ra. Mình xa tôi, tôi sợ nó đau trở lại.
Mộc Uyển Thanh có vẻ thẹn thò, khẽ đẩy chàng ra làm mặt dỗi nói:
– Thế ra chàng đau giả vờ.
Đoàn Dự vốn là người quân tử chí thành, nghe nàng nói vậy bất giác mặt
thẹn đỏ bừng, không biết nói sao. Chàng có biết đâu rằng thuốc đoạn trường
tán phát ra lâu lâu lại nổi một cơn đau. Bắt đầu còn thưa thưa, sau mới đau
luôn. Đến lúc đau liên miên không dứt là chết. Một phần cũng bởi có Mộc
Uyển Thanh kề cận, thỏ thẻ bên tai những lời êm dịu, tâm hồn chàng được
phiêu diêu an ủi mà quên cả đau đớn. Mộc Uyển Thanh hiểu tính chất thuốc
độc rõ hơn chàng: ngộ độc mà đau liên miên không dứt thì còn có cơ cứu
sống chứ đau từng cơn một là bị thứ thuốc độc ghê gớm, sống không sống
được chết chẳng chết cho. Trường hợp này so với trường hợp ngộ độc chết
ngay còn khổ sở hơn nhiều. Nàng thấy Đoàn Dự có vẻ bẽn lẽn lại càng
thương cảm, nắm lấy tay chàng nói:
– Lang quân ơi! Nếu chàng chết thì thiếp cũng không sống được nữa. Đôi ta
cùng về âm phủ sống chung để khỏi phải xa nhau.
Đoàn Dự không muốn cho nàng tuẫn tiết liền nói:
– Không! Không được! Mình phải sống để trả thù cho tôi và hàng năm quét
tước, thắp hương trên mộ tôi một lần. Tôi mong mình viếng thăm phần mộ
tôi ba chục năm, bốn chục năm tôi chết mới nhắm mắt được.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Sao chàng lại kỳ cục vậy? Người đã chết rồi còn biết gì nữa? Thiếp có
quét tước, cúng tế phần mộ hay không phỏng có ích gì cho chàng?
Đoàn Dự nói:
– Vậy mình chết theo tôi phỏng được ích gì? Tôi nói để mình nghe: mỗi
năm mình tảo một tôi một lần, nếu ở dưới suối vàng tôi còn hay biết, thỉnh
thoảng được nhìn bộ mặt sắc nước hương trời cũng mát ruột lắm chứ sao!
Bằng mình chết theo tôi thì cả đôi biến thành nắm xương tàn còn đáng gì
mà mong thấy mặt?
Mộc Uyển Thanh nghe chàng tán dương sắc đẹp mình cũng thấy thỏa dạ.
Song nghĩ lại mình chọn mãi đến nay mới được một vị “như ý lang quân”
mà trong khoảnh khắc chàng phải lìa trần, bất giác châu lệ đầm đìa.
Đoàn Dự thò tay ra ôm ghì lấy chiếc lưng thon, cảm thấy lưng nàng mềm
mại ẻo lả, tựa khối thịt không xương, lòng chàng bất giác lại một phen rung
động. Chàng cúi đầu đặt đôi môi lên má nàng, một mùi thơm ngấy ngất
xông vào mũi chàng. Tuy nhiên chàng không dám hôn lâu, quay đầu về
phía sau lẩm bẩm: người ta gọi nàng là Hương dược xoa thật là kỳ cục. Giả
tỷ dưới âm cung cũng có những nữ quỷ xinh đẹp, thơm tho như nàng thì e
rằng trong thiên hạ sẽ có bao nhiêu chàng trai trẻ đến phải tự tử để mong
biến thành quỷ cả mất.
Từ lúc Mộc Uyển Thanh để cho chàng hôn một cái, trái tim nàng như nhảy
lên trong lồng ngực, má nàng nóng rực đỏ nhừ, khiến nét mặt trắng bệch vì
thiếu ánh sáng bấy nay càng tăng thêm vẻ kiều diễm, nàng nói:
– Phu lang là người đầu tiên được nhìn rõ mặt thiếp. Sau khi chàng chết rồi,
thiếp sẽ rạch mặt cho xấu xa, quyết không để cho gã trai khác nào được
nhìn thấy cái mặt nguyên vẹn này.
Đoàn Dự toan kiếm lời ngăn cản thì cơn ghen đâu bỗng nổi lên, quả chàng
không muốn cho gã trai khác được nhìn bộ mặt hoa nhường, nguyệt thẹn
này. Câu nói chàng đã sắp đặt cả rồi mà không sao thốt ra được. Chàng
xoay sang chuyện khác nói:
– Tại sao nàng có lời thề độc như vậy?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Bây giờ thiếp cùng chàng nên đạo vợ chồng, thiếp xin thuật lại chàng
nghe, tưởng cũng không ngại gì. Thiếp là người không cha không mẹ, khi
vừa lọt lòng đã bị đem bỏ ở góc rừng. May nhờ đợc sư phụ cứu sống, đem
về nuôi nấng, công trình cực nhọc xiết bao? Lớn lên người lại truyền dạy võ
nghệ. Sư phụ thiếp thường nói rằng: lòng dạ đàn ông ở thế gian này toàn là
phường khinh bạc. Nếu để họ nhìn thấy mặt tất họ sẽ tìm trăm phương ngàn
kế dụ dỗ cho mắc vào tròng. Sau khi mình thất thân rồi, họ sẽ giở thói phũ
phàng. Nên sư phụ bảo thiếp lấy khăn bịt mặt đi. Đến năm thiếp 16 tuổi,
ngoài sư phụ thiếp ra không một ai được nhìn thấy mặt. Trước đây hai năm,
sư phụ sai thiếp xuống núi có việc…
Đoàn Dự hỏi xen vào:
– Năm nay mình 18 tuổi phải không? Thế là mình kém tôi hai tuổi.
Mộc Uyển Thanh gật đầu kể tiếp:
– Lúc thiếp hạ sơn, sư phụ truyền cho phải lập lời thề độc: ai được nhìn mặt
thiếp mà thiếp không giết mới được lấy làm chồng. Nếu gã không chịu lấy
mình làm vợ, hay lấy xong ít lâu rồi lại ruồng bỏ thì chính thiếp phải ra tay
hạ sát con người bạc hạnh ấy. Bằng không theo đúng mệnh lệnh của sư phụ,
một khi người biết ra sẽ tự vẫn mà chết trước mặt thiếp.
Đoàn Dự nghe nàng thuật chuyện mà rùng mình, nghĩ thầm: đại khái các
cuộc thề độc ở thế gian chỉ là về sau ở chẳng như lời thì đích thân người
phát thệ phải chịu quả báo thế mà thôi. Cuộc phát thệ này kể cũng lạ đời,
nàng tráo trở lời thề thì sư phụ nàng sẽ tự vẫn. Vậy quyết không thể nào
nàng dám phản bội.
Mộc Uyển Thanh lại tiếp:
– Sư phụ coi thiếp như con đẻ, ơn nặng tầy non. Người đã bảo điều gì thiếp
đâu dám chẳng tuân theo? Huống chi những lời người căn dặn đều bổ ích
cho mình nên thiếp không cần đắn đo nữa, quỳ ngay xuống tuyên thệ. Ròng
rã hai năm trời, sư phụ sai đi làm mấy việc đến nay vẫn chưa xong lại gây ra
mối thâm thù. Sự thực thì những người chết dưới lưỡi kiếm của thiếp đều là
lỗi tự họ cả, hầu hết do họ bắt thiếp phải bỏ khăn bịt mặt mà ra.
Đoàn Dự thở dài, bây giờ chàng mới hiểu tại sao mà một cô gái đang độ
còn thơ đã kết bao nhiêu mối thù hận trong đám giang hồ.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Sao chàng lại thở dài?
Đoàn Dự đáp:
– Bọn họ thấy nàng thân gái dặm trường, hình dung yểu điệu ai mà chẳng
muốn coi xem mặt đẹp hay xấu? Chưa chắc họ toàn là những người có lòng
đen tối đâu, mà chỉ vì có tính tò mò hoặc có quan niệm sai lầm nên nỗi mất
mạng.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Thiếp không giết họ không xong, chẳng lẽ gặp phải kẻ tồi bại cũng lấy
làm chồng hay sao? Những kẻ bị thiếp giết chết chẳng có cha mẹ hay sư
phụ thì tất có anh em thân thích, rồi một kẻ bị giết, mấy người tìm đến báo
thù. Về sau thậm chí đến sư tăng, đạo sĩ cũng đều là thù nghịch với thiếp.
Thiếp đã nấn ná ở hang Vạn Kiếp mấy tháng, được vợ chồng Chung gia
kính nể, không ngờ Chung phu nhân ngang nhiên mạo nhận tên thiếp, chàng
bảo có tức không?
Nàng nói một lúc mỏi mệt, nhắm mắt dưỡng thần rồi tiếp:
– Ban đầu thiếp cũng ngờ lang quân là một gã họ Sở như các chàng trai
khác, đến lúc chàng mượn con Hắc Mai Côi thấy có kẻ muốn ám hại thiếp
mà trở lại báo tin đã là điều hiếm có. Nhân khi Nam Hải Ngạc Thần cố tình
áp bức mở khăn mặt, thiếp đành chịu nhường phần coi mặt đầu tiên cho
chàng.
Nói đến đây Mộc Uyển Thanh quay đầu nhìn chằm chặp vào mặt Đoàn Dự.
Đôi mắt nàng sáng như sao, lộ đầy vẻ luyến ái. Đoàn Dự tự hỏi: hay là nàng
nổi sóng tình rồi chăng? Liền vặn hỏi:
– Thế là vì nàng lâm vào tình trạng nguy bách, bất đắc dĩ phải cho tôi coi
mặt, cần gì phải giữ lời thề?
Mộc Uyển Thanh cả giận lớn tiếng nói:
– Tôi đã phát thệ lẽ nào còn thay đổi? Nếu chàng không chịu lấy tôi thì nói
mau đi! Tôi quyết bắn chết chàng cho vẹn lời thề.
Đoàn Dự toan nói nữa bỗng lại nổi cơn đau kịch liệt, chàng hai tay ôm bụng
rên la rầm trời. Mộc Uyển Thanh giục:
– Chàng có bằng lòng lấy tôi không? Nói mau!
Đoàn Dự vẫn la:
– Trời ơi! Tôi đau… quá, đau bụng quá!
Mộc Uyển Thanh lại giục:
– Chàng phải trả lời dứt khoát: có hay không?
Đoàn Dự nghĩ mình đau đớn thế này, chết đến nơi rồi, còn để khổ tâm cho
nàng làm gì nữa. Ta mà không thuận tất nàng di hận suốt đời, bèn gật đầu
đáp:
– Tôi… tôi nguyện cùng nàng kết nghĩa phu thê.
Mộc Uyển Thanh đang lăm lăm tay cầm mũi tên độc, nghe chàng nói vậy,
lòng mừng hớn hở, nở một nụ cời tơi như hoa xuân, giữ chặt lấy chàng
thủ thỉ:
– Lang quân! Để thiếp xoa bụng cho nhé!
Đoàn Dự vừa rên vừa đáp:
– Không! Không… được! Chúng ta cha làm lễ thành hôn! Nam nữ thọ thọ
bất thân… mà!
Mộc Uyển Thanh như sực nhớ ra nói:
– Phải rồi chàng bị đói lâu quá nên càng đau dữ đây mà! Để thiếp cắt thịt gã
kia chàng ăn.
Nói xong nàng vịn vào tảng đá đứng lên, toan cắt thịt Sở Thiên Khoát. Đoàn
Dự kinh hãi vô cùng quên cả đau đớn, gọi to lên bảo nàng:
– Thịt người không ăn được đâu mình ơi. Tôi thà chết thì thôi, nhất định
không ăn thịt người.
Mộc Uyển Thanh lấy làm kỳ hỏi:
– Lào sao không ăn được? Nam Hải Ngạc Thần vừa móc trái tim gã ăn đấy
thôi.
Đoàn Dự nói:
– Nam Hải Ngạc Thần là người hung ác, dữ tợn, không bằng loài cầm thú,
chúng ta… sao lại đi bắt trước lão?
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Lúc thiếp còn ở với sư phụ, thấy người ăn cả thịt hùm, thịt beo. Cứ như lời
chàng nói thì ra cũng không ăn được sao?
Đoàn Dự đáp:
– Thịt hùm, thịt beo hay bất cứ thịt gì mà chẳng ăn được, duy thịt người là
không ăn được mà thôi.
Mộc Uyển Thanh ngớ ngẩn hỏi lại:
– Bởi thịt người có nọc độc phải không lang quân? Thiếp nào có biết?
Đoàn Dự đáp:
– Không phải tại thịt người có nọc độc đâu. Nhưng tôi là người, mình là
người, Sở Thiên Khoát cũng là người, người lại ăn thịt người bao giờ?
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Sao thế chàng? Thiếp thấy giống lang sói lúc đói nó ăn thịt cả đồng loại
nó mà!
Đoàn Dự thở dài nói:
– Đúng đó! Sở dĩ người không ăn thịt người là vì loài người chỉ khác loài
lang sói ở chỗ đó.
Từ nhỏ Mộc Uyển Thanh chỉ theo liền bên sư phụ nàng như hình với bóng,
chưa từng giao thiệp với người thứ hai nào, mà sư phụ nàng có tính quái gở,
không nói chuyện đời cho nàng nghe bao giờ. Vì thế mà nàng chẳng biết tý
gì về khuôn mẫu đạo đức cũng như lễ nghĩa luật pháp ở đời. Bây giờ nàng
thấy Đoàn Dự bảo người không đợc ăn thịt người thì nàng bán tín bán nghi
và cho là một sự lạ lùng.
Đoàn Dự tiếp:
– Nàng giết người bừa bãi như vậy cũng không được đâu nhé. Khi thấy ai bị
hoạn nạn khổ sở, mình ra tay cứu giúp mới phải đạo.
Mộc Uyển Thanh ngây ngô hỏi:
– Thế sao thiếp gặp hoạn nạn khổ sở, có thấy họ cứu giúp thiếp đâu? Trừ sư
phụ ra, chỉ toàn gặp những người muốn giết hại hay áp bức thiếp mà thôi.
Thiếp chẳng thấy ai có lòng tốt với thiếp hết thảy. Hổ báo hễ thấy thiếp là
nó muốn cắn chết để ăn thịt, nên thiếp phải giết nó. Loài người cũng thế
thôi chứ khác gì?
Nghe nàng lý luận như vậy, Đoàn Dự cứng họng không biết giải thích thế
nào cho nàng hiểu, liền nói:
– Mình tuyệt không hiểu tý gì về việc đời cả. Thế mà sao sư phụ lại yên tâm
cho mình hạ sơn được?
Mộc Uyển Thanh vẫn hồn nhiên đáp:
– Có chứ! sư phụ bảo thiếp hai vụ phải làm ngay không thể trì hoãn được
nữa mà.
Đoàn Dự hỏi:
– Hai vụ gì? Mình có thể cho tôi nghe được không?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Chàng đã là chồng thiếp, dĩ nhiên có nói với chàng cũng không sao.
Nhưng không thể nói với ngời ngoài đợc. Sư phụ sai thiếp đi giết hai
người…
Nàng cha dứt lời, Đoàn Dự đã bưng tai lại không muốn nghe, chàng ngắt
lời:
– Thôi mình đừng nói nữa! Mình chỉ toàn nói về vụ giết người, ăn thịt
người! Trời ơi là trời! ối… ối chao ôi! đau… quá!
Chàng đau quá không nói được nữa. Mộc Uyển Thanh thò tay vào bụng
chàng thoa bóp ở ngoài áo một hồi. Bỗng tay nàng chạm vào một vật tròn
tròn, nong nóng, trong hộp dường như có con gì cọ quậy, tự hỏi: cái gì thế
này? Rồi móc ra xem, thì là một cái hộp bằng ngọc. Nàng giơ hộp ngọc lên
tai nghe, thấy trong có tiếng kêu lích chích, toan cạy nắp ra xem. Đoàn Dự
vội ngăn lại nói:
– Chung cô nương dặn chớ có mở hộp ra. Con thanh linh sở dĩ sợ cái hộp
này là vì trong đựng một vật kỵ rắn, mở ra nó sẽ chạy mất.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Nếu Chung Linh dặn đừng mở thì thiếp càng cần phải mở xem trong có
gì?
Nàng theo kẽ nứt, nạy nắp hộp mở ra. Trong hộp chỉ có đôi ễnh ương nhỏ
xíu, sắc đỏ như máu.
Đôi ễnh ương này thấy ánh mặt trời đột nhiên kêu oang oang rất to như
tiếng trâu mộng rống lên điếc tai. Nghe tiếng kêu Đoàn Dự cùng Mộc Uyển
Thanh giật mình đánh thót một cái. Mộc Uyển Thanh sợ quá run lên, đánh
rơi nắp hộp xuống đất. Nàng không bao giờ có thể ngờ rằng đôi ễnh ương
nhỏ xíu, dài không đầy hai tấc, mà tiếng to đến thế. Nàng vội lượm hộp lên
đậy nắp lại, ễnh ương lại nằm im không kêu nữa.
Mộc Uyển Thanh như sực nhớ ra reo lên:
– Phải rồi! Phải rồi! Thiếp có nghe sư phụ nói đến con này. Tên là con…
Nàng ngoảnh đầu ngẫm nghĩ rồi tiếp:
– Tên nó là con ấy gì… ngu cáp. à phải “mãng cổ chu cáp”, một con vật trị
được hết cả các giống rắn trên thế gian. Đúng rồi! đúng là con sư phụ thiếp
nói đó! Không biết tại sao đôi này lại vào tay Chung Linh?
Đoàn Dự xen vào:
– Kìa mình ngó coi!
Con thanh linh rớt xuống đất, nằm im không nhúc nhích, con kim linh lúc
trước chui vào đống cỏ rậm giờ cũng bò ra nằm nép bên chân Mộc Uyển
Thanh. Ba con rắn nhỏ khác ở trong hốc đá bò đến cũng nằm phục xuống,
tựa như triều bái cái hộp ngọc.
Mộc Uyển Thanh cả mừng nói:
– à ra đôi ễnh ương nhỏ này gọi được rắn đến. Thế cũng hay ta thử làm chơi
xem.
Đoàn Dự khoát tay nói:
– Đừng đừng! Thử mà làm chi? Gọi rắn độc đến làm gì cho lắm, coi gớm
khiếp.
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Mình đã có chu cáp trong tay rồi, sợ gì rắn độc?
Nói rồi cứ mở hộp ra, lập tức đôi “mãng cổ chu cáp” lại kêu oang oang rầm
lên.
Đoàn Dự cười nói:
– Cái tên cũng hay đấy. Tiếng nó kêu giống tiếng trâu mộng rống đáo để.
Tuy chàng ngồi cạnh Mộc Uyển Thanh nhưng lời chàng nói bị tiếng con
“chu cáp” kêu lấp đi nên nàng không nghe rõ hỏi lại:
– Chàng bảo sao?
Đoàn Dự lắc đầu.
Đôi chu cáp kêu mỗi lúc một vang lên, nghe kỹ thì bên cạnh tiêng oang
oang còn thứ tiếng âm y nho nhỏ.
Mộc Uyển Thanh vuốt tà áo đứng dậy trỏ về mé tả: dưới ánh dương quang
rực rỡ có đến mời mấy con rắn vằn ngũ sắc bò đến rất nhanh, có vẻ mải
miết lắm. Quả chúng nghe tiếng con chu cáp phải lật đật chạy về ứng hậu.
Tuy Đoàn Dự hiểu như vậy nhưng trông thấy nhiều rắn độc, chàng không
khỏi hoảng vía. Chàng vội cầm sẵn hai hòn đá để tự vệ.
Lát sau mé hữu cũng có vô số rắn kéo đến: con xanh, con vàng, con trắng,
con đen, con sặc sỡ. Hạng lớn dài đến hơn một trượng, hạng nhỏ chỉ độ vài
tấc.
Khí hậu tỉnh Vân Nam nóng và ẩm thấp, cây cối um lùm rất nhiều rắn rết.
Đoàn Dự thường thấy rắn luôn nhưng mọi khi thấy ít thôi. Lần này hàng
trăm, hàng ngàn con bò đến trước mặt hai người, hết thảy đều cúi rạp đầu
xuống, không dám nhúc nhích. Con nào cũng ra vẻ hiền từ, ngoan ngoan,
không hề ngẩng đầu lên như lăm le trực đớp người.
Mộc Uyển Thanh cũng hơi gờm gờm. Rắn kéo đến mỗi lúc một nhiều,
không biết cơ man nào mà kể, đầy cả một góc núi. Mũi nàng ngửi thấy toàn
một mùi tanh tưởi ghê người. Nàng nghĩ thầm: con chu cáp cứ kêu hoài,
không biết còn bao nhiêu rắn độc kéo đến nữa, chỉ sợ gọi về thì dễ mà tống
đi thì khó. Nàng bèn đậy hộp lại. Tuy chu cáp không kêu nữa nhưng rắn vẫn
nằm ỳ ra đó. Kỳ hơn nữa là rắn nhiều thế mà không con nào sát đến bên hai
người, bốn mặt chúng đều nằm cách xa đến năm sáu thước.
Mộc Uyển Thanh vừa đỡ Đoàn Dự đứng dậy vừa nói:
– Ta thử đi xem nào.
Hai người cất bước đi ra, những rắn ở phía trước vội vàng rẽ ra hai bên để
nhường lối. Con lớn cũng lắc lư cái đầu trông mà phát khiếp, nhưng nó vẫn
tỏ ra kính cẩn sợ hãi. Hai người đi thêm mấy bước nữa, đi đến đâu rắn lại
rạt ra đến đấy.
Mộc Uyển Thanh thích quá nói:
– Sư phụ thiếp bảo: “mãng cổ chu cáp” là báu vật trên thế gian. Thiếp chỉ
nghe nói vậy thôi chứ chưa từng trông thấy bao giờ.
Đột nhiên nàng nhớ ra điều gì liền hỏi Đoàn Dự:
– Tái sao báu vạt vô giá này Chung Linh lại đưa tặng cho chàng?
Đoàn Dự thấy mắt nàng nảy ra tia sáng có vẻ khác thường cũng hơi chột dạ,
vội đáp:
– Cái này cô… cô ấy cho tôi mượn đấy chứ! cô… cô ấy bảo phải mang theo
cái hộp đó thì mới điều động được con thanh linh.
Vừa dứt lời cơn đau lại nổi lên. Tay chàng đang cầm hòn đá phải vứt đi,
người chàng run bần bật, đứng không vững. Mộc Uyển Thanh đỡ chàng
quay về chỗ cũ ngồi. Đoàn Dự đau quá, nghiến răng đứt cả môi, miệng chảy
máu ra, tay phải chàng nắm chặt lấy cổ tay Mộc Uyển Thanh. Mộc Uyển
Thanh rất đỗi xót xa, bỗng nàng nhớ ra điều gì bảo chàng:
– Lang quân ơi! Thiếp xem cơn đau mỗi lúc một dầy, tình thế này dữ nhiều
lành ít mất rồi chàng ạ.
Đoàn Dự rên rỉ nói:
– Tôi đau… quá, không… không thể chịu được nữa rồi. Mình… mình ơi, lấy
gươm chém phứt tôi đi cho rồi.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Thiếp nhớ lại có lần sư phụ đã bảo: có thứ thuốc độc ghê gớm lắm, không
còn tài gì chữa được, phải dùng đến cách dĩ độc công độc thế mà công hiệu.
Chàng có dám nuốt vài cái đầu rắn độc không?
Lúc này Đoàn Dự chỉ mong cho chóng chết liền đáp:
– Bất luận thứ gì tôi cũng ăn, cũng… uống. Mình lấy cho tôi mau!
Mộc Uyển Thanh lấy thanh đao nhỏ chặt đầu ba con rắn độc ở gần ngay
phía trước mặt. Mấy con rắn này thấy Mộc Uyển Thanh giơ đao lên vẫn
nằm im tuyệt không động đậy, để mặc cho nàng chém. Nàng chặt đầu ba
con, cầm lại để kề miệng Đoàn Dự, bảo chàng nuốt đi. Đoàn Dự nhắm mắt,
nuốt luôn một lúc ba cái đầu rắn mà toàn là rắn sặc sỡ, nọc độc vô cùng.
Chỉ trong khoảnh khắc chàng đau kịch liệt hơn trước, lăn lộn dưới đất rồi
thở dốc lên từng cơn, nằm không nhúc nhích được nữa.
Mộc Uyển Thanh thất kinh sờ mạch chàng, thấy mạch chạy mỗi lúc một
yếu đi, nàng rất ân hận tưởng chữa cho chồng mà ra giết chồng cho chết
mau hơn, bất giác hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Nàng ôm lấy
cổ chàng nói:
– Lang quân ơi! Thiếp nhất định theo chàng đây!
Đoàn Dự chỉ lắc đầu không nói được nữa. Mộc Uyển Thanh cầm đao chém
“phập phập phập” ba nhát, ba cái đầu rắn độc lìa cổ, nàng đưa lên miệng
nuốt. Nhưng miệng nàng nhỏ mà đầu rắn to, nuốt không lọt. Nàng nghĩ
thầm: rắn chỉ độc ở nọc rãi trong miệng nó. Đoạn nàng bóp mạnh cho nọc
độc chảy vào miệng. Vừa mới nuốt xong nọc một con thì đầu nhức mắt hoa,
nàng đã nằm ra ngất xỉu, không biết gì nữa.
Đoàn Dự thấy Mộc Uyển Thanh tuẫn tiết theo mình. Trong lúc hấp hối
chàng tập trung bao nhiêu cảm giác cũng không thể tưởng tượng được đến
chỗ con người đa sát như nàng lại đối với mình có mối thâm tình cao đẹp
như vậy. Chàng thu hết tàn lực để ôm chặt nàng vào lòng, rồi cơn đau kịch
liệt xâm chiếm cả tâm hồn, chàng cũng ngất đi không biết gì nữa.
Lúc chàng bất tri nhân sự không biết bao lâu, sau hồi tỉnh, chàng mở mắt,
ánh dương quang rọi vào, chàng quáng loá, lại nhắm nghiền mắt lại, bụng
vẫn tỉnh. Thấy mình đang ôm ấp một tấm thân mềm mại, chàng định thần
nhìn Mộc Uyển Thanh. Sắc mặt nàng nhợt nhạt, nàng nằm gọn trong lòng
mình, chàng lẩm bẩm: đôi ta cùng về âm phủ rồi đây. Cái thuyến dương
minh đôi ngả quả là có thật.
Bỗng chàng nghe xa xa có tiếng nói vọng vào:
– Bây giờ bị rắn độc cản đường không vào được, thì ta phóng ám khí giết
quách chúng đi.
Lại đến tiếng người khác đáp:
– Không được! Thần quân đã hạ lệnh phải bắt sống, nếu mình giết chúng đi
thần quân trách phạt thì làm thế nào?
Đoàn Dự nghển cổ trông về phía có tiếng người thì thấy bốn năm gã áo
vàng đứng ngoài ven núi, đang chỉ trỏ vào đám rắn độc ra chiều khiếp sợ,
không dám đến gần. Chàng lại đảo mắt nhìn ra bốn phía: chỗ nào cũng thấy
rắn đang ngọ nguậy, bắt đầu cử động. ánh dương quang chiếu xuống đúng
như quang cảnh lúc mình chết đi. Chàng tự hỏi: hay là ta hãy còn sống?
Nhìn lại Mộc Uyển Thanh vẫn nằm gọn trong lòng mình nàng nóng hổi và
mềm mại. Một mùi hương như hoa lan thoang thoảng đưa lên mũi. Trước
quang cảnh rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao này chàng mừng quýnh bất
giác reo lên:
– A ha! Ta chưa chết! Ta chưa chết!
Bốn gã đại hán đứng bên ngoài đã lâu vì sợ đàn rắn, không dám tiến vào,
chợt nghe tiếng reo đều giật nẩy mình.
Mộc Uyển Thanh cũng chợt tỉnh, ú ớ rồi mở bừng mắt ra, khẽ hỏi:
– Lang quân ơi! Phải chăng đôi ta cùng xuống cõi âm rồi đây?
Đoàn Dự đáp:
– Không không! Mình không chết mà tôi cũng không chết! Thế mới là tuyệt
diệu.
Đứng ngoài xa một gã đại hán áo vàng quát lên:
– Bây giờ bọn mi chưa chết, lúc nữa sẽ về âm phủ cũng chưa muộn mà.
Nhạc thần cho bọn ta đến đây điệu bọn mi đi! Mau mau ra đây!
Đoàn Dự vừa thoát chết, trong lòng sung sướng vô hạn, hơi đâu mà dây vào
chuyện người ngoài. Chàng nhìn Mộc Uyển Thanh nói:
– Đôi ta quả là chưa chết! Thế mới kỳ chứ. Bây giờ bụng tôi không còn đau
đớn gì nữa. Cái phép dĩ độc công độc của mình thật là thần diệu. Mình có bị
thương tổn gì không?
Mộc Uyển Thanh trở mình thấy chỗ bị thương trên vai vẫn còn đau. Nàng
cũng mừng như người phát điên lên cười nói:
– Thiếp không trúng độc. Nọc rắn không chữa được vết thương ngoài da.
Đến độc là nọc rắn mà không làm cho đôi ta chết được, thì ra vợ chồng
mình so với nọc rắn còn ghê gớm hơn nhiều.
Thực ra thì nọc rắn tuy độc, song có theo vết thương nhập vào mạch máu thì
mới làm cho người ta phải chết. Đằng này nọc rắn nuốt vào đi qua miệng
lưỡi vào bao tử rồi xuống ruột, toàn những chỗ không có vết thương nên
không việc gì. Bởi thế những người bị rắn cắn thường ghé miệng hút nọc rắn
ra mà không việc gì. Mộc Uyển Thanh chưa từng trải việc đời nên không
hiểu rõ. Còn Đoàn Dự uống thuốc đoạn trường tán là thứ thuốc độc ghê
gớm, nọc rắn quả đã trị nổi đoạn trường tán thì đúng là dĩ độc công độc.
Hai người mê man suốt một đêm trường, lúc này hồi tỉnh thì đã sang buổi
sáng sớm hôm sau rồi.
Gã đại hán cao lớn nhất trong bốn tên đứng ngoài quát:
– Hai đứa nhãi con kia! mau mau ra đây!
Mộc Uyển Thanh ở trong lòng Đoàn Dự bước ra đứng dậy, trên môi vẫn nở
nụ cười, đột nhiên nàng quờ tay xuống đất, nắm lấy một con rắn độc dài
chừng bẩy tấc, ném thẳng vào gã đại hán. Gã cả kinh vội né tránh, không
ngờ Mộc Uyển Thanh ném liên tiếp hết con này đến con khác ra như thể
phóng liên châu tiến.
Bốn gã cả giận nhưng lại sợ rắn, quát mắng rầm lên. Chúng vừa né tránh
vừa cầm những cành cây dài đập xuống.

Hết Chương 10

Hết Hồi 10

=============================================================================

Chương 11

Tam thiện, Tứ ác

    Đàn rắn từ lúc không bị đôi “Mãng cổ chu cáp” chế phục nữa, vùng vẫy
gớm ghê, có hai con cong đuôi lên, quấn lấy cành cây nằm trong tay bọn
đại hán, lăn xả vào đớp chúng. Một gã áo vàng bị rắn cắn vào mặt và bám
chặt như sên, không tài nào gỡ ra được.
Mộc Uyển Thanh tuy bị thương, cánh tay không còn sức mạnh mà vẫn bốc
rắn quăng ra liên tiếp, phát nào cũng trúng. Bỗng nghe gã cao nghệu rú lên
một tiếng, vì sợ rắn cắn, gã giật lùi thế nào một chân bước hẫng, lăn tòm
xuống nghe núi. Lại một gã nữa thấy vậy đang kinh hồn hoảng vía thì bị rắn
cắn vào cổ. Giống rắn này nọc độc dị thường, nó vừa cắn vào mạch máu, gã
chết ngay tức khắc. Còn một gã nữa thân hình loắt choắt, thấp lủn thủn
nhưng nhảy tránh mau lẹ vô cùng. Mộc Uyển Thanh ném ra mười mấy con
mà gã tránh được hết. Những con này tuy cắn sểnh, rớt xuống đất nhưng
vẫn lăm le chực quấy lấy chân gã. Vậy mà gã nhảy nhót rất tài tình, chúng
không làm gì được. Song rắn tiến đến mỗi lúc một nhiều, tình thế mỗi lúc
một nguy cấp hơn.
Đoàn Dự bảo gã:
– Thôi mi tụt xuống khe núi đi, ta tha mạng cho!
Mộc Uyển Thanh quát:
– Đã dung tha thì không hạ thủ, mà đã hạ thủ quyết chẳng dung tha.
Nàng ném luôn một phát ra bốn con liền. Gã đang vội nhảy nhót, né tránh
những con ở dưới đất chồm lên, hai chân không ngớt đưa lên hạ xuống. Giả
tỷ bốn con nữa quăng tới thì gã không tài nào tránh nổi. Đột nhiên một
luồng gió cực mạnh thổi vào, thì ra sức mạnh ở điện lực một bàn tay đánh
tới, đẩy anh chàng lùn bổng lên trên không, đồng thời hất tung cả mấy chục
con rắn đi ra xa, để hở ra một khoảng đất trống, rồi một bóng vàng từ dưới
khe núi nhảy vọt lên, đứng sững cười ha hả: “Nam Hải Ngạc Thần”.
Anh chàng lùn từ trên không lảo đảo rồi từ từ hạ xuống, chân vừa chấm đất,
gã trông thấy Nam Hải Ngạc Thần, hòn vía lên mây, kêu lên một tiếng:
– Thần quân.
Rồi toan quỳ xuống để xin tha mạng, nhưng vì sợ quá, hai gối bủn rủn, quỳ
không vững, cả con người mềm nhũn, nằm xụp xuống như một đống thịt lù
lù. Đoàn Dự cùng Mộc Uyển Thanh thấy Nam Hải Ngạc Thần trở lại cũng
sợ tái mặt.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi gã lùn:
– Ta bảo mi đến bắt tiểu tử Đoàn Dự sao mãi không về? Mi phản ta rồi.
Gã lùn sợ run, hai hàm răng đập vào nhau lập cập nói:
– Tiểu nhân… tiểu nhân không… không…
Gã định nói tiểu nhân không dám, nhưng vì quá sợ không sao thốt ra được.
Nam Hải Ngạc Thần khẽ nhún mình một cái, không động đến chân mà lão
đã lướt tới trước mặt gã lùn và tay trái nắm lấy ngực gã xách lên, rồi tay
phải nắm lấy đầu gã vặn mạnh một cái. Nghe đánh cắc một tiếng thế là đầu
gã một nơi, mình gã một nẻo, máu trong cổ gã vọt tung lên. Nam Hải Ngạc
Thần không tránh cứ để cho máu phun vào đầy quần áo. Lão ra chiều đắc ý
lắm, vừa nhìn chiếc đầu lâu vừa mắng:
– Mi thật là quân chó má!
Rồi hai tay quẳng lộn về phía sau, tung đầu và mình gã lùn rơi tòm xuống
vực. Thanh toán xong thủ hạ, Nam Hải Ngạc Thần lại dùng chưởng lực
phóng ra luồng gió dữ để đuổi đàn rắn ở dưới đất đi, rảo bước lại chỗ Đoàn
Dự và Mộc Uyển Thanh. Mộc Uyển Thanh nắm lấy tay Đoàn Dự, toan dắt
chàng trốn chạy, nhưng trốn đâu cho thoát?
Nam Hải Ngạc Thần đưa tay trái về phía trước, dường như tay lão dài ra.
Lão túm lấy cổ áo phía sau gáy Mộc Uyển Thanh giơ lên trên không. Đoàn
Dự ngỡ rằng lão sẽ cầm đầu nàng quật xuống vội kêu lên:
– Đừng đừng! Tiền bối giết tiểu tử đi còn hơn.
Nam Hải Ngạc Thần dường như vẫn e dè đàn rắn độc còn đang bò lan mặt
đất, lão vung tay đánh lên không một chưởng, đất cát tung bay đập xuống
chết bảy tám con. Đoạn xách Mộc Uyển Thanh nhảy một cái ra tới bờ vực.
Chân trái vẫn còn chưa chấm đất, đứng một chân phải theo thế “Kim kê độc
lập”, lão lảo đảo mấy vòng trên bờ vực thẳm, mà sườn núi lại dựng đứng,
tựa hồ như cả lão cùng Mộc Uyển Thanh sắp rớt cả xuống vực.
Đoàn Dự thấy vậy biết đâu rằng lão phô những món tuyệt kỹ võ nghệ, chỉ
sợ cho tính mạng Mộc Uyển Thanh vội la lên:
– Tiền bối phải cẩn thận, té xuống thì chết cả.
Mộc Uyển Thanh bị lão túm lấy hết bề cựa quậy, nàng trông thấy Đoàn Dự
đứng giữa bầy rắn đang ngo ngoe chực chồm lên vội cầm cái hộp ngọc
quăng lại cho chàng và bảo:
– Lang quân cầm lấy!
Đoàn Dự đa hai tay ra đón lấy hộp, cầm chắc trong tay. Bên mình có
“Mãng Cổ chu cáp” đàn rắn lập tức nép xuống, không dám cử động nữa.
Chàng nói với Nam Hải Ngạc Thần:
– Xin lão gia đặt nàng xuống!
Nam Hải Ngạc Thần nhe răng cười đáp:
– Này tiểu tử! Sao mi giống ta quá? Thế nào ta cũng phải thu mi về làm đồ
đệ. Nhưng phái Nam Hải ta có lệ đồ đệ phải đến năn nỉ, van xin sư phụ thu
nạp, chưa từng có lệ sư phụ lại đi cầu đồ đệ bao giờ. Vậy ta qua đỉnh núi
kia chờ mi nhé!
Lão vừa nói vừa chỉ ngọn núi cao ngất đầy tuyết phủ và tiếp:
– Mi mau đến đó cầu khẩn ta thu làm đồ đệ, ta sẽ tha cho vợ mi. Nếu không
nghe lời ta thì đừng trách đấy.
Vừa nói hai tay lão vừa làm hiệu sẽ vặn cổ Mộc Uyển Thanh. Đột nhiên lão
chuyển mình, quay mặt về phía vực thẳm, tay phải chống vào sườn núi, tay
trái túm lấy Mộc Uyển Thanh tụt xuống.
Nam Hải Ngạc Thần một tay túm sau lưng áo Mộc Uyển Thanh, một tay tỳ
vào sườn núi, tụt xuống rất nhanh. Có chỗ sườn núi trơn nhẵn, trợt nhanh
quá thì nàng lại cảm thấy như cả hai người cùng dừng lại một giây ở không
gian. Có lẽ lão vận khinh công để khỏi rơi tòm xuống đáy vực.
Đừng nói Mộc Uyển Thanh hết sức lực phản kháng, giả tỷ nàng còn sung
sức chăng nữa thì những lúc này cũng không dám nhúc nhích. Nàng sợ quá
phải nhắm mắt lại. Lúc sau Mộc Uyển Thanh chợt thấy nảy người lên một
cái, thì ra chân Nam Hải Ngạc Thần đã chạm đáy vực. Chân vừa chấm đất,
lão không chần chừ dừng lại đây lát nào, lại liền cất bước. Thân hình lão
cũng vào bậc trung bình trong phái nam, không cao không thấp. Mộc Uyển
Thanh thì vào hạng cao trong phái nữ, nếu hai người đi ngang hàng thì cũng
gần bằng nhau. Thế mà lão xách nàng lên nhẹ nhàng tựa như xách con gà,
chả khó nhọc gì cả. Nam Hải Ngạc Thần đi trong lòng vực thẳm, chỗ có đá
mấp mô, chỗ lại nước ngập sâu mà vẫn dễ dàng nhanh nhẹn như đi trên
bằng, chỉ một loáng đã sang tới bờ đối diện. Sườn núi bên này khá xoải nên
khi trèo lên dễ hơn bên kia nhiều.
Khi Nam Hải Ngạc Thần đi qua khe suối, nước chảy ầm ầm, bắn tung toé
lên, Mộc Uyển Thanh nghĩ thầm: trong tay áo ta hãy còn năm mũi tên độc,
hay là ta nhân lúc này mà ám toán lão đi? Mình có chết tất lão cũng không
toàn. Nhưng nàng nhớ lại hôm qua đã phóng mấy phát, rõ ràng trúng bụng
lão mà mũi nào cũng bị bật ngược trở lại. Không biết có phải toàn thân lão
gươm đao chém không vào hay lão ngấm ngầm mặc áo giáp bên trong?
Nghĩ vậy nàng thò tay sờ nhè nhẹ sau lưng lão, thì trong lần áo vải không
thấy có thiết giáp chi hết. Da thịt lão còn mềm nhũn hơn cả da thịt người
thường. Nàng tự nhủ: trời phú cho lão có dị tướng mà võ công lão càng kỳ
dị hơn. Cũng may mà mình chưa hạ thủ, nếu vong động lão điên tiết lên,
chắc là phải chết.
Bỗng thấy Nam Hải Ngạc Thần cười sằng sặc hỏi:
– Phải chăng mi toan đâm ta một đao hoặc bắn ta một phát? Ta đây vào
hạng trời đánh không chết, chém không vào. Mi là vợ đồ đệ ta, ta mới để
cho mi được thong dong. Nếu rồi đây y không đến cầu ta làm sư phụ, thì sẽ
ra sao mi có biết không? Trước nay Nam Hải Ngạc Thần này cứ thấy gái
đẹp là cưỡng gian trước, hạ sát sau, không nể nang ai hết.
Mộc Uyển Thanh nghe mà rùng mình nàng nói:
– Lang quân tiểu nữ chẳng biết tý võ nghệ nào cả. Chàng còn ở mãi đỉnh núi
bên kia, làm sao mà xuống được? Chàng nhớ thương tiểu nữ, thế nào cũng
liều mình tìm đến lão gia xin làm đồ đệ, nhưng chỉ trượt chân một cái, rớt
xuống vực thẳm là nát ra như cám. Thế là lão gia mất đồ đệ, liệu lão gia còn
tìm đâu được người đủ tư cách như chàng để truyền võ nghệ cho tôn phái
nữa chăng?
Nam Hải Ngạc Thần lập tức dừng bước đáp:
– ừ mi nói cũng có lý. Ta quên mất là gã không thể xuống vực thẳm được.
Lão hú lên một tiếng dài, mé núi bên đông có tiếng đáp lại. Nam Hải Ngạc
Thần truyền lệnh:
– Mi sang đỉnh núi cao kia cõng một tên đồ đệ về ra mắt ta, cấm không
được giết y nghe!
Mé bên đông dãy núi lại có tiếng đáp lại. Mộc Uyển Thanh kinh hãi nghĩ
thầm: lão này ghê thật, tiếng lão vọng qua được mấy dãy núi. Về điểm này
thì đến cả sư phụ ta cũng chưa bằng lão. Nếu lão không có thanh âm rất lớn
để gọi sang lũ côn quăng ở bên kia dãy núi thì còn cách nào mà thông tin
tới nơi được?
Nam Hải Ngạc Thần dặn xong lại xách Mộc Uyển Thanh lên đi. Mộc Uyển
Thanh đã hơi vững dạ, biết chắc rằng lão cha hành hung mình cho tới khi
Đoàn lang đến. Nhưng chàng là người cố chấp lại ương ngạnh, thực khó mà
bức bách chàng phải thờ một kẻ hung tàn, dâm ác như Nam Hải Ngạc Thần
làm sư phụ. Chỉ e chàng thà liều chết chứ không chịu khuất phục. Đoạn
nàng lại nghĩ: hình như Đoàn lang đối với ta chỉ có tấc lòng nghĩa hiệp, chứ
không có tình đằm thắm vợ chồng, lẽ nào chàng lại vì ta mà cam tâm làm
đồ đệ con quỷ khát máu này? Ôi thôi việc lành dữ tới đây hay đó, ta chỉ
mong còn được thấy mặt chàng. Cầu trời cho chàng đặng bình yên, khỏi ngã
xuống vực sâu là được rồi. Nghĩ tới đây bất giác nàng giật mình tự hỏi: Ô
hay! Sao ta lại quan tâm đến chàng tới mức độ thổn thức gan vàng? Mộc
Uyển Thanh ơi! Đời ngươi có bao giờ mềm yếu như vậy đâu?
Mộc Uyển Thanh đang bị bao làn sóng tư tưởng tràn ngập tâm hồn, nàng
càng cố dẹp xuống bao nhiêu thì nó càng nổi lên bấy nhiêu. Nam Hải Ngạc
Thần đã lên đến đỉnh núi lúc nào nàng cũng không hay. Khí lực lão dai
dẳng vô cùng, trèo lên đỉnh núi cao như thế mà lão không nghỉ chân tí nào.
Lão cất bước luôn, xuống dốc rồi lại lên đèo, vượt qua bốn trái núi nữa, đến
một ngọn cao nhất ở giữa, bốn bề trùng điệp núi non bao bọc.
Vừa đến nơi, lão để Mộc Uyển Thanh xuống, kéo quần đi tiểu luôn ra đấy.
Mộc Uyển Thanh rất lấy làm khó chịu, lẩm bẩm: sao lại có con người thô
bỉ, vô lễ đến thế được? Thật chẳng khác gì giống súc sinh! Nàng vội tránh
đi chỗ khác, lấy khăn bịt mặt đi vì nàng nghĩ thầm: nếu mình cứ để trần bộ
mặt xinh đẹp cho lão nhìn mãi, biết đâu lão lại không nổi thú tính mà quên
cả nghĩa thầy trò?
Nam Hải Ngạc Thần vừa thắt quần lại vừa nói:
– Mi bịt kín mặt đi là phải lắm! Vì lát nữa còn có mấy gã hung ác dã man
khiếp lắm, để lộ bộ mặt kiều diễm ra cho họ ngó thấy thì không yên được
đâu.
Mộc Uyển Thanh lạnh lùng hỏi:
– Tiểu nữ là vợ cao đồ của lão gia, còn kẻ nào dám vô lễ?
Nam Hải Ngạc Thần lắc đầu, nhăn mặt nói:
– Mi không biết, mấy tên chó má đó cực kỳ độc ác dữ tợn.
Mộc Uyển Thanh cười hỏi:
– Thiên hạ lại còn có kẻ độc ác, dữ tợn hơn lão gia nữa kia ?
Nam Hải Ngạc Thần hậm hực, vỗ đùi đáp:
– Trên đời có tứ ác, lão gia đây còn đứng ở hàng thứ ba mới tức chứ! Rồi lão
gia phải tranh lên hàng đầu mới được.
Mộc Uyển Thanh nhớ lại, sư phụ nàng đã từng nói đến cái tên “Tam thiện
tứ ác”. Trước khi nàng giết Tôn Hà Khách nàng có hỏi về tướng mạo, hành
vi của hạng này thì sư phụ nàng cho biết rằng: hễ nghe tiếng hú vang dội cả
một vùng tức là Nam Hải Ngạc Thần sắp tới nhưng nàng chưa biết lão đứng
vào hàng thứ mấy trong tứ ác. Nay nàng đã mắt thấy hành động vô cùng độc
ác của Nam Hải Ngạc Thần mà trên đời lại còn có người hung ác hơn lão
thì thật là một điều nàng không bao giờ nghĩ tới. Nàng liền hỏi:
– Vậy thì những ai đứng vào hàng thứ nhất, thứ nhì trong tứ ác?
Nam Hải Ngạc Thần trợn tròn đôi mắt ti hí lên đáp:
– Mi hỏi làm chi? Mi muốn sỉ nhục lão gia đó chăng? Mi còn chê lão gia là
chưa đủ hung ác phải không? Bây giờ lão gia hãy làm thịt mi trước rồi sẽ
tranh đấu để lên hạng nhì.
Dứt lời Nam Hải Ngạc Thần giơ bàn tay phạt ngang vào thân cây thông
đánh “rắc” một tiếng, tức thì cây đứt ra làm ba đoạn. Đoạn trên đủ cả cành
lá loà xoà đổ xuống rào rào. Cây này tuy không to lắm nhưng cũng bằng
miệng bát. Thần lực của lão làm cho Mộc Uyển Thanh phải lắc đầu lè lỡi,
nghĩ thầm: lão này thế mà còn đứng vào hạng đàn em thứ ba thì không hiểu
gã đứng đầu còn ghê gớm đến đâu mà kể? Lão đang bực tức về chuyện còn
kém hai người, mình chả dại gì mà đả động đến chỗ thứ bậc của lão nữa.
Nghĩ vậy nàng tựa vào tảng đá lớn, nhắm mắt lại dưỡng thần.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi:
– Sao bây giờ mi không nói gì nữa? Phải chăng mi có điều chi ấm ức?
Mộc Uyển Thanh lắc đầu nói:
– Tiểu nữ thiết tưởng danh hiệu “Thiên hạ đệ nhất ác nhân” phải để phần lão
gia mới hợp lý. Người khác có hơn lão chăng chỉ ở điểm dã man hung ác,
chứ về võ công bằng lão gia thế nào được?
Nam Hải Ngạc Thần mặt giận hầm hầm nói:
– Còn phải một phen tỷ thí nữa mới tính đến chuyện thay bậc đổi ngôi được.
Mộc Uyển Thanh chột dạ nghĩ thầm: à thì ra bọn ác nhân này đã từng tỷ thí
rồi mới phân ngôi thứ. Ta chẳng nên bàn chuyện này với lão ta nữa. Nghĩ
vậy nàng đánh trống lảng:
– Tha lão tiền bối! Đại danh người là gì? Rồi đây lang quân tiểu nữ sẽ là
đồ đệ lão gia, tiểu nữ cần phải biết để hàng ngày tâm niệm tên huý lão gia
mới phải lẽ.
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Ta là Nhạc… Nhạc
Lão ấp úng rồi không nói tên ra, lão tiếp:
– Tên ta chẳng hay hớm gì đâu. Gia gia ta đặt cho cái tên kỳ quá! ông ấy
chẳng ra trò trống gì! Thật là phường chó đẻ.
Mộc Uyển Thanh nghe lão nói mà phải phì cười. Nàng rủa thầm: đến cha
mi mà mi dám gọi là “phương chó đẻ” thế thì mi là cái gì? Sao lại có hạng
xỉ mạ đến cả cha mình? Thật không phải là giống người.
Nam Hải Ngạc Thần hết đi sang bên đông lại chạy qua mé tây, không lúc
nào lão ngồi yên một chỗ. Mộc Uyển Thanh ruột rối tơ vò, tuy nàng nhắm
mắt mà không được yên tĩnh tâm thần vì lão đi đi lại lại, gót chân cứ nện
xuống đất thình thịch. Nàng nén nỗi bực tức hỏi:
– Nhạc lão gia! Lão gia không biết mệt ? Sao không ngồi mà nghỉ một lát?
Nam Hải Ngạc Thần quát lên:
– Ta không muốn mi hỏi lôi thôi đâu nhé! Ta không ngồi thì mặc ta, mi hỏi
làm chi?
Mộc Uyển Thanh đành chịu câm miệng, không dây đến lão nữa, nhưng lại
băn khoăn cho Đoàn Dự. Nàng tự hỏi: không hiểu chàng xuống núi có được
vô sự không? Còn gã được lệnh Nam Hải Ngạc Thần đi đón chàng chả hiểu
có đuổi được đàn rắn để vào tới chỗ chàng không?
Mộc Uyển Thanh đang tính quẩn lo quanh, bỗng nghe trên không văng vẳng
có tiếng khóc than từ xa đưa lại. Tiếng khóc than ẩn ẩn hiện hiện, dường
như là tiếng người đàn bà: “ối con ơi là con ơi”. Nàng chỉ nghe rõ vài tiếng
mà đã nao nao trong dạ.
Nam Hải Ngạc Thần “khạc” một tiếng, nhổ “toẹt” đờm rãi xuống đất nói:
– Cái bộ mặt đưa ma về đến nơi rồi.
Đoạn lão gọi to:
– Đưa ma ai mà khóc lắm thế? Lão phu chờ đây lâu lắm rồi.
Tiếng than vãn vẫn còn văng vẳng nghe không rõ ràng: “Con ơi, nghĩ tới con
lòng mẹ chua xót vô cùng!”.
Mộc Uyển Thanh nghe tiếng khóc não nùng, không thể nhịn được hỏi lão:
– Trong tứ ác thì bà này đứng hàng thứ tư phải không lão gia?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Mụ này là “Vô ác bất tác Diệp nhị nương”. Mi thấy không, chữ ác của mụ
đứng thứ hai? Nhưng một ngày kia cái ngoại hiệu của ta là “Hung thần ác
sát” phải đánh đổi được cho mụ mới nghe.
Bấy giờ Mộc Uyển Thanh mới vỡ lẽ ra rằng: cứ xem cái ngoại hiệu, chữ ác
đứng hàng thứ mấy là biết người mang nó liệt vào bậc nào. Nàng bèn hỏi:
– Thế còn vị thứ nhất và vị thứ tư trong tứ ác ngoại hiệu là gì?
Nam Hải Ngạc Thần gắt lên:
– Hỏi gì mà hỏi lắm thế? Ta không biết.
Chợt thấy tiếng lý nhí của một người đàn bà đáp lại:
– Trong bọn ta thì gã thứ tư là “Cùng hung cực ác”, còn đại ca là “ác quán
mãn doanh”.
Mộc Uyển Thanh thấy Nhị Nương lù lù hiện ra, không một chút tiếng động
báo trước, khiến cho nàng phải sửng sốt. Nàng vội quay đầu lại nhìn kỹ thì
thấy mụ mặc áo kép màu xanh lạt, da trắng tóc dài, trạc bốn mươi tuổi. Mặt
mũi xinh xắn nhưng hai bên má đều có vệt máu tím bầm từ đuôi mắt rạch
xuống, dường như vừa bị ai cào. Trong tay mụ bồng một đứa con trai nhỏ,
trắng trẻo khôi ngô, trông rất khả ái.
Mộc Uyển Thanh vẫn đinh ninh “Vô ác bất tác” Diệp Nhị Nương còn là vai
trên “Hung thần ác sát” Nam Hải Ngạc Thần, tất mặt mũi đáng khiếp hơn
lão, ngờ đâu mụ lại là người có chút nhan sắc, nàng không khỏi ngạc nhiên
trố mắt ra mà nhìn.
Diệp Nhị Nương mỉm cười. Mộc Uyển Thanh trông thấy mụ cười mà rùng
mình, thật là cái cười để che dấu bao nhiêu nỗi cay đắng cùng bao nhiêu sự
đau thương vô bờ bến, khiến nàng cầm lòng không đậu mà sa đôi dòng luỵ.
Nàng vội quay đi phía khác, không dám nhìn mụ nữa.
Nam Hải Ngạc Thần hỏi Diệp Nhị Nương:
– Tam muội! Tại sao tam ca và tứ đệ đến giờ còn chưa tới?
Diệp Nhị Nương rần rần hỏi:
– Rõ ràng ngươi ở hàng thứ ba, còn là em ta, vậy mà ngươi cố ý hạ ta
xuống. Ta bảo cho ngươi hay: nếu ngươi còn gọi câu tam muội nữa thì chị
đây không nể mặt đâu.
Nam Hải Ngạc Thần tức mình đáp:
– Không nể mặt thì đừng nể mặt. Bộ ngươi muốn đánh nhau chăng?
Diệp Nhị Nương nói:
– Ngươi muốn đánh thì rồi có ngày chị sẽ đánh cho, chứ sợ gì ngươi? Phải
không Mộc Uyển Thanh nhỉ?
Mộc Uyển Thanh thấy mụ gọi tên tuổi mình, bất giác nàng run bắn người
lên, lờ đờ như kẻ mất hồn. Nhân lúc hoảng sợ nàng mới hiểu rằng Diệp Nhị
Nương theo một phái tà thuật, biết phép “nhiếp hồn”. Nàng từng nghe sư
phụ nói tà thuật nhiếp hồn lợi hại vô cùng: ai bị điện lực ở mắt họ nhìn vào,
thậm chí chỉ nghe tiếng họ gọi là người đó mất hết nghị lực, mất cả lập
trường, không còn tự chủ được nữa, họ bảo sao phải nghe vậy, bảo làm việc
gì phải làm việc đó, không khác gì một kẻ tôi mọi cho họ. Nghĩ vậy nàng
bèn giữ vững tinh thần, ngầm vận nội công, bịt kín cả mặt nhắm luôn cả mắt
lại nữa.
Diệp Nhị Nương cười nói:
– Mộc Uyển Thanh! Mấy năm nay tiếng ác của mi đồn đại khắp nơi. Âu là
mi đến nhập bọn với chúng ta làm ngũ muội đi cho rồi. Tam đệ! Ngươi tính
ta bàn vậy có nên chăng?
Nam Hải Ngạc Thần lớn tiếng phản đối:
– Không được!
Diệp Nhị Nương ôn tồn hỏi lại:
– Sao lại không được?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Nó là vợ đồ đệ ta, đứng vào hàng ngũ muội thế nào đợc? Ta đã có mụ
làm cô em thứ ba thế là đủ rồi.
Đột nhiên lão gọi to:
– Mi lại đây mau! Tên đồ đệ họ Đoàn của ta đâu? Sao không thấy dẫn về?
Một người còn ở ngoài xa đến mấy chục trượng ấp úng đáp:
– Tiểu… tiểu nhân lên đỉnh núi bên kia, chẳng… chẳng thấy có một ai. Tìm
khắp nơi cũng không thấy đâu cả.
Mộc Uyển Thanh thất kinh tự hỏi: không lẽ chàng té xuống vực chết rồi?
Bỗng thấy Nam Hải Ngạc Thần gầm lên:
– Hay là tại mi đến chậm để y té xuống vực chết rồi?
Gã kia không dám lại gần, vẫn ấp úng:
– Tiểu nhân tìm cả khe núi, không thấy thi thể đâu mà cũng không có vết
máu gì cả.
Nam Hải Ngạc Thần thét lên:
– Thế thì y bay lên trời à? Mi to gan thật dám lừa dối cả ta.
Tiếp theo là những tiếng “binh binh”. Thì ra gã quỳ, dập đầu rất mạnh
xuống đất để xin tha mạng. Bỗng nghe đánh “bộp” một tiếng rồi gã kia im
bặt.Mộc Uyển Thanh đồ chừng Nam Hải Ngạc Thần đã cầm cục đá ném
chết gã kia rồi.
Mộc Uyển Thanh vốn có tính đa sát, lại thấy gã không tìm được Đoàn lang,
trong lòng căm giận vô cùng, cho là gã trùng trình để làm lỡ việc. Giả tỷ
Nam Hải Ngạc Thần không giết gã thì chính nàng cũng chẳng muốn dung
tha. Chỉ trong giây lát, lại bao nhiêu nỗi đăm chiêu kéo đến, xâm chiếm tâm
hồn nàng. Chàng không ở trên núi, dưới khe cũng không thấy thi thể, thế thì
chàng đi đâu mất? Hay là chàng bị con rắn độc lớn nuốt rồi? Cũng không
phải, trong tay chàng đã có “Mãng cổ chu cáp” thì rắn nào dám cắn? Chắc
là chàng bị té ở chỗ hẻo lánh nên gã kia không tìm thấy. Hoặc giả gã thấy
thi thể chàng rồi nhưng không dám nói thật với Nam Hải Ngạc Thần.
Nàng nghĩ mãi không ra manh mối, có điều nàng cầm chắc là Đoàn Dự chết
rồi. Lúc chia tay nàng đã cầm sẵn chủ ý: nếu chàng mà thác rồi, nàng quyết
không thể sống được nữa. Huống chi lại rơi vào tay Nam Hải Ngạc Thần,
nàng mà không chết thì cũng không chịu nổi những thủ đoạn độc ác, dã
man của lão. Sau nàng lại tự an ủi: “chưa thấy thi thể chàng đâu thì vẫn còn
có chút hy vọng là chàng chưa chết, mặc dầu hy vọng này chỉ mong manh
như sợi tóc”.
Nàng đang ngổn ngang trăm mối bên lòng, bỗng nghe tiếng đứa nhỏ trong
tay Diệp Nhị Nương gào khóc, vừa gọi:
– Má ơi! Má bé đâu? Bé về với má kia.
Diệp Nhị Nương dối nó:
– Bé ngoan! Bé nín đi! Má bé đây mà!
Đứa nhỏ lại càng gào to:
– Má ơi! Má đưa bé về thôi! Bà có phải má bé đâu?
Diệp Nhị Nương bồng đứa nhỏ đu qua đu lại, vừa hát vừa dỗ ngon dỗ ngọt
nhưng nó cứ lè nhè kêu khóc hoài.
Nam Hải Ngạc Thần lăng xăng chạy đi chạy lại, vì mất tích Đoàn Dự lão
đâm ra cáu kỉnh, quát ầm lên:
– Mụ muốn uống máu nó thì uống phứt đi cho rồi, việc gì còn phải lừa dối
nó, cho nó kêu khóc sốt ruột?
Nam Hải Ngạc Thần nói gì cũng mặc kệ Diệp Nhị Nương vẫn tiếp tục hát
ru đứa nhỏ.
Mộc Uyển Thanh nghe mụ hát mà mình nổi gai ốc, càng nghĩ càng sợ. Lúc
ban đầu nàng nghe nói mụ là người thứ hai trong tứ ác, mà thấy mụ bồng
đứa nhỏ lanh lợi khả ái đã lấy làm kỳ. Bây giờ nàng nghe Nam Hải Ngạc
Thần bảo mụ uống máu trẻ con bất giác nổi cơn tức giận, những muốn ra
tay cứu đứa nhỏ. Nhưng nàng lại nghĩ tới Đoàn Dự chưa biết sống chết ra
sao, và ngay chính mình cũng khôn toàn tính mạng, ốc cha lo nổi mình ốc,
còn hơi đâu mà đi dây vào chuyện khác? Nàng càng nghe mụ đem lời
đường mật thí dỗ đứa nhỏ lại càng khổ cả hai tai.
Nam Hải Ngạc Thần cũng bực mình bảo mụ:
– Mỗi ngày mụ sát hại một đứa nhỏ để uống máu còn cứ lên bộ mặt đạo
đức, tự ái, sao mà không biết rõ?
Vẫn một giọng hiền hoà mụ nói:
– Ngươi đừng cả tiếng quát tháo nữa! Ngươi làm cho đa nhỏ cưng của ta
kinh hãi.
Nam Hải Ngạc Thần vụt đa tay toan chụp lấy đứa nhỏ quật chết tươi để
khỏi phải nghe nó la hét lão thêm sốt ruột. Nhưng tuy lão đã nhanh tay
nhưng mụ còn lẹ hơn, mụ chỉ xoay người đi một chút là Nam Hải Ngạc
Thần đã vồ hụt. Rồi mụ lên mặt đàn chị, bảo Nam Hải Ngạc Thần:
– Trời ơi! Có chuyện chi đâu mà tam đệ nổi đoá, hằn học với con ta làm gì
vậy?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Ta muốn quật chết nó đi.
Diệp Nhị Nương vẫn dịu dàng thí đứa nhỏ:
– Con yêu con quý, má thương con, má xót con! Không can chi mà con phải
sợ cái lão mặt mẹt kia. Y tỉ thí với má bị thua rồi y cáu giận quát mắng con.
Nam Hải Ngạc Thần cùng Diệp Nhị Nương động thủ rồi đấu khẩu với nhau
Mộc Uyển Thanh đều nghe rõ cả, nàng nghĩ bụng: thứ bậc Diệp Nhị Nương
đã ở trên Nam Hải Ngạc Thần thì dù lão có muốn tranh ngôi cướp bậc cũng
không thể được.
Nam Hải Ngạc Thần đã bất thình lình đưa tay ra chụp sểnh đứa nhỏ, lão tự
biết mình có muốn chụp nữa cũng chẳng ăn thua, lại càu nhàu:
– Sao đến bây giờ mà đại ca cùng lão tứ vẫn chưa thấy đến? Phải chờ mấy
con rùa này thật là nóng ruột.
Diệp Nhị Nương nói:
– Này tam đệ! Ngươi có biết chuyện hôm qua lão tứ đi đánh nhau với người
ta bị thua không?
Nam Hải Ngạc Thần ngạc nhiên hỏi:
– Sao? Lão bị thua ai?
Diệp Nhị Nương nói:
– Ta xem con tiện tỳ này có vẻ không đứng đắn. Ngươi giết ả trước đi, rồi ta
sẽ thuật cho mà nghe.
Nam Hải Ngạc Thần ngần ngừ đáp:
– Y là vợ đồ đệ ta, nếu giết y đi ta e rằng chồng y không chịu thờ mình làm
thầy nữa.
Diệp Nhị Nương cười nói:
– Vậy thì để ta động thủ giúp, đồ đệ ngươi có đến thì bảo y tới tìm ta mà trả
oán là xong. ả này có đôi mắt xinh quá, khiến cho ai trông thấy cũng phải
mê mệt. Sao trời lại không cho ta đôi mắt như ả mới giận chứ! Trước hết ta
phải móc con ngươi ả ra cho hả giận.
Mộc Uyển Thanh sợ toát mồ hôi lạnh ngắt, lại nghe Nam Hải Ngạc Thần
nói:
– Không được! Thôi để ta điểm huyệt cho y ngủ đi vài ngày.
Dứt lời lão không chờ Diệp Nhị Nương trả lời, đưa ngón tay vào sau lưng và
dưới vai Mộc Uyển Thanh điểm huyệt hai chỗ. Mộc Uyển Thanh thấy đầu
óc tối tăm choáng váng rồi không biết gì nữa.
Không biết nàng đã mê đi mất bao lâu, đến lúc tỉnh dậy thì thân thể lạnh
toát, bên tai vẫn nghe những trận cười khô khan, khủng khiếp. Tuy gọi là
cười nhưng chẳng khác gì tiếng dao mài trên mảnh thép hay tiếng cọ xát hai
loài kim thuộc, khiến người nghe phải nhức cả hai hàm răng. Mộc Uyển
Thanh là người tâm linh mẫn tiệp, biết rằng mình chỉ khẽ cựa quậy một chút
là họ biết ngay và có thể họ sẽ đem những thủ đoạn tàn bạo dã man ra đối
phó với mình. Tuy nàng cảm thấy thân thể nhức mỏi lạ thường mà cũng
không dám ngấm ngầm vận động nội công cho khí huyết chạy điều hoà.
Bỗng nghe thấy Nam Hải Ngạc Thần nói:
– Lão tứ! Thôi đừng huênh hoang nữa! Tam muội bảo lão đệ bị người ta
đánh cho chạy mê Bái Công. Lão đệ bị mấy người vây đánh là những ai
vậy?
Rồi có tiếng nói như lệnh vỡ đáp lại:
– Diệp tỷ có biết gì đâu. Tôi bị bảy tên vây đánh, mà toàn là những tay võ
nghệ vào bậc nhất cả, dù là tôi có bản lãnh mấy đi nữa cũng không thể giết
hết chúng được nên mới bỏ đi.
Mộc Uyển Thanh lẩm bẩm: “Té ra là cùng hung cực ác lão tứ”. Nàng muốn
nhìn xem tướng mạo lão ra sao nhưng không dám cử động, đưa tay lên kéo
lại tấm khăn che mặt. Bỗng nghe Diệp Nhị Nương nói:
– Lão tứ chỉ quen giở trò bịp bợm, rõ ràng đối phương chỉ có hai gã mà dám
phóng đại ra năm gã nữa. Những tay võ giỏi bậc nhất trên đời đâu mà lắm
thế?
Lão tức mình hỏi lại:
– Sao nhị tỷ biết? Nhị tỷ trông thấy ?
Diệp Nhị Nương mỉm cười nói:
– Cái đó đã hẳn, mắt không trông thấy thì làm sao mà biết? Một gã sử côn,
một gã cầm búa có đúng không? ha ha ngươi khéo chế tạo ra thêm năm gã.
Vậy chớ năm gã đó dùng binh khí gì?
Lão tứ đứng phắt dậy, nói bô bô:
– Thế ra bấy giờ nhị tỷ cũng đứng đó, sao nhị tỷ không giúp tôi một tay?
Nhị tỷ để người ta giết tôi mới mát ruột phải không?
Diệp Nhị Nương càng cời lớn:
– Cùng hung cực ác đã là con hạc trên mây (tên gã là Vân Trung Hạc), ai
không biết ngươi giỏi khinh công, trên đời có một không hai? Đánh thua
người ta thì chạy chứ sao?
Vân Trung Hạc nghe Diệp Nhị Nương nói vậy tức sôi lên, càng nói lớn:
– Lão tứ này chết về tay người, nhị tỷ đẹp mặt lắm phải không? Tôi xin hỏi
nhị tỷ: hôm nay tứ ác chúng ta hội họp đây để làm gì? Phải chăng để kéo
nhau sang nước Đại Lý cùng bọn Hoàng phủ rửa hận? Thế này là điềm ra
quân bất lợi mất rồi!
Diệp Nhị Nương vẫn cời:
– Này tứ đệ! Ta chưa thấy một ai có môn khinh công tuyệt diệu như ngơi,
quả thật danh bất hư truyền. Ngươi lướt như khói toả, như chim bay, hai gã
kia đuổi sao kịp?
Nam Hải Ngạc Thần cũng hỏi góp:
– Lão tứ! Bọn nào mà gớm thế? Phải chăng cũng lại mấy thằng chó chết
trong đám Hoàng phủ nước Đại Lý?
Vân Trung Hạc bực mình nói:
– Mời phần chắc chín là bọn chúng. Ngoài đám Hoàng phủ thì những tay
cao thủ bên ngoài còn có ai là mình không biết nữa?
Diệp Nhị Nương nói:
– Các ngươi từng nói đại náo Hoàng phủ chi chi đó. Nhưng lần này thì
chẳng hao phí sức lực gì đâu, rồi các ngươi xem ta nói có đúng không?
Vân Trung Hạc hỏi:
– Nhị tỷ! Đại ca sao mãi không thấy đến? Trễ mất ba ngày rồi! Trước nay
đại ca có sai hẹn bao giờ đâu? Hay là… hay là…
Diệp Nhị Nương nói tiếp:
– Hay là xảy ra chuyện gì rồi chăng?
Nam Hải Ngạc Thần cáu, nói móc:
– Ngươi coi đại ca vào hạng người nào? Chẳng lẽ cũng giống ngươi, đánh
người không lại thì trốn chạy?
Diệp Nhị Nương nói:
– Đánh thua bỏ chạy mới là bậc tuấn kiệt, biết thời vụ. Ta chỉ sợ đại ca bị
bảy tám đứa vây đánh, dù kém thế vẫn không chịu thua để giữ vững cái
ngoại hiệu “ác quán mãn doanh” đứng đầu trong tứ ác.
Nam Hải Ngạc Thần nhổ bọt nói:
– Đại ca vùng vẫy khắp thiên hạ còn sợ gì ai? Mời năm trời xưng hùng,
xưng bá ở chốn Trung Nguyên, há lại chịu thua cái nước Đại Lý cỏn con ?
Chờ đại ca mãi, đói bụng mất rồi!
Vừa nói vừa cầm cái đùi bò đem vào đống lửa nướng. Chẳng mấy chốc mùi
thịt ngon lành bốc lên nức mũi. Mộc Uyển Thanh lẩm bẩm: cứ nghe bọn họ
nói chuyện với nhau thì mình ngủ đi đã ba ngày rồi, không biết họ có được
tin tức gì về Đoàn lang cha?
Bốn ngày nàng chưa được ăn gì, đói như cào ruột, ngửi thấy mùi thịt nướng
thơm tho, bất giác nàng nuốt nước miếng luôn mồm.
Chỉ có thế mà Diệp Nhị Nương đã biết rồi, mụ cười hỏi:
– Cô em đói rồi phải không? Đã tỉnh giấc sao còn làm bộ ngủ say không cựa
quậy? Em có muốn xem mặt gã Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc không?
Nam Hải Ngạc Thần biết Vân Trung Hạc là con quỷ háo sắc, để gã nhìn
thấy dung nhan Mộc Uyển Thanh thì dù chết y cũng đành chịu chứ bỏ qua
nàng thì quyết không thể được. Lão liền cắt một miếng thịt lớn, nửa sống
nửa chín ném cho nàng và bảo:
– Đem ra ngoài xa ngồi mà ăn! Đừng có nghe trộm chuyện chúng ta.
Mộc Uyển Thanh bịt họng hỏi:
– Chồng tiểu nữ đã đến chưa?
Nam Hải Ngạc Thần tức mình đáp lại:
– Mẹ nó! chính ta thân hành qua bên đó, tìm khắp trên núi, dưới khe mà
chẳng thấy tông tích y đâu. Đích là y chưa chết nhng không biết ai cứu,
đem y đi. Ta đã chờ y ba ngày rồi, còn chờ thêm bốn ngày nữa là bảy, nếu
y không đến ta sẽ đem mi ra mà nướng.
Mộc Uyển Thanh yên dạ nghĩ thầm: Nam Hải Ngạc Thần không phải hạng
tầm thường, lão đã đi tìm và xác nhận Đoàn lang chưa chết thì nhất định
đúng rồi. Ôi không biết chàng có nhớ ta và đến đây cứu ta chăng?
Nàng lượm miếng thịt bò cầm lên, uể oải đi về phía sau núi. Vì nhịn đói lâu
ngày nàng mệt nhọc quá chừng. Ba ngày ròng rã nàng ngồi không cử động,
vết thương trên vai đã hàn kín va sắp khỏi. Nàng nghe rõ Diệp Nhị Nương
hỏi Nam Hải Ngạc Thần:
– Gã tiểu tử của tam đệ đó hay ở điểm nào? Sao ngươi lại luyến tiếc y thế?
Nam Hải Ngạc Thần cười ha hả nói:
– Gã đó giống ta như lột, đem nghề võ phái Nam Hải ta truyền thụ cho chắc
gã có thể theo được đến tột độ.
Đoạn lão cười sằng sặc nói tiếp:
– Trong thiên hạ có tứ ác, Nhạc lão tam cha được đứng hàng đầu nhưng
nếu nói về môn đồ, ta dám quyết không ai có được tên đồ đệ hay như ta.
Mộc Uyển Thanh đi mỗi lúc một xa còn văng vẳng nghe tiếng Nam Hải
Ngạc Thần khoe tư cách của học trò mình là một nhân vật hy hữu trên thế
gian thì lòng nàng nửa phần hoan hỉ, nửa phần sầu bi. Bất giác nàng lại bật
cười tự nói một mình: Đoàn lang chỉ là một gã thư sinh ương gàn, ngoài cái
gan dạ phi thường chàng có hiểu võ nghệ gì đâu? Vậy mà Nam Hải Ngạc
Thần coi chàng như một thứ bửu bối. Thôi, phái Nam Hải đã đến ngày lụn
bại.
Nàng tìm chỗ tảng đá lớn, vắng vẻ kín đáo, ngồi xuống cắn thịt bò ăn. Tuy
đói ngấu mà miếng thịt tới ba bốn cân đó nàng chỉ ăn hết độ nửa cân đã no
rồi. Nàng ngấm ngầm lo tính cho cuộc đời của mình: đến ngày thứ bảy mà
Đoàn lang không tới, tức là chàng phụ bạc với ta rồi, ta phải tìm cách trốn
khỏi nơi này. Rồi nàng lại tự hỏi: ta tìm cách thoát thân để sống mà làm gì?
Nàng cảm thấy chua xót trong lòng.
Mộc Uyển Thanh sống trong tình trạng hoang mang, tâm thần bất định như
vậy, thấm thoắt lại hết mấy ngày mà nàng tưởng chừng như mấy năm trời.
Ngày cũng như đêm nàng chỉ trông chờ tin tức các nơi đưa lại nhưng càng
mong càng bặt. Thà biết chắc Đoàn Dự không tới nữa còn đỡ khổ hơn là
ngày đã ngẩn ngơ, đêm càng khắc khoải. Thời khắc trôi qua bao nhiêu, nỗi
đăm chiêu chồng chất lên bấy nhiêu. Lúc nào nàng cũng tự hỏi: chàng còn
có lòng tìm đến ta nữa không? Ví bằng chàng còn thiết tha đến ta thì ngày
một không lại, ngày hai phải tới. Đến nay không thấy vân mòng thì chắc là
chàng không tới nữa. Dù chàng không biết võ nghệ nhưng có tấm lòng
nghĩa hiệp cao cả, thờ Nam Hải Ngạc Thần làm thầy thì bất luận vì lý do gì
chàng cũng không chịu rồi. Nhưng chẳng lẽ chàng đối với ta không còn
mảy may tình nghĩa gì nữa ?
Một hai ngày đầu nàng chưa mấy nỗi bồn chồn vì tính ra quãng thời gian
còn khá dài, càng về sau nàng càng bối rối. Lời sư phụ nàng nói: “khắp
thiên hạ chẳng có chàng trai nào là không bạc tình phụ nghĩa” lại văng vẳng
bên tai. Sua nàng lại lý luận: “Biết đâu Đoàn lang không phải hạng người
này?”. Nhưng rồi nàng cho mình lý luận như thế chẳng qua là mình tự dối
mình mà thôi.
Suốt trong mấy ngày này Nam Hải Ngạc Thần, Vân Trung Hạc và Diệp Nhị
Nương đều nóng lòng chờ đại ca bọn họ là “ác quán mãn doanh”, không ai
dòm ngó quấy rầy đến Mộc Uyển Thanh. Tuy nhiên thân phận nàng chẳng
khác chi con kiến bò trong cái nồi nóng, rất là buồn bực bồn chồn. Chỗ
nàng ngồi cách ba người khá xa nhưng họ tranh luận oang oang nàng vẫn
nghe được lõm bõm. Đến tối hôm thứ sáu, Mộc Uyển Thanh nghĩ thầm:
“Ngày mai là ngày cuối cùng rồi đây! Chàng bạc hãnh kia hẳn không đến
nữa. Hôm nay nhân lúc canh khuya trời tối, ta phải liệu tìm đường trốn đi,
nếu để đến sáng thì không còn cách gì thoát thân được nữa. Đứng nói gã
Vân Trung Hạc môn khinh công giỏi nhất trần đời, ngay Nam Hải Ngạc
Thần cố ý bắt ta không tài nào thoát khỏi tay lão”. Nàng đứng dậy cử động
thân thể. Trong sáu ngày qua, tuy tinh thần bị bao nỗi cay đắng dày vò
nhưng được cái vết thương mười phần đã khỏi đến tám. Nàng toan cất bước
lên đường nhưng lại vụt thay đổi kế hoạch: “Không được! Ta phải chờ lúc
ba người tranh luận sôi nổi, không để ý gì đến việc bên ngoài mình sẽ lánh
xa đây chừng vài trăm trượng, tìm chỗ hang hốc nào ẩn náu tạm thời. Bọn
họ nhớ tới mình rượt theo, tất họ chia ngả đi lùng tận đâu đâu, quyết không
bao giờ nghĩ mình còn lẩn quất quanh đây. Chờ cho họ đuổi thật xa bấy giờ
mình hãy ra đi mới là thượng sách”. Ngờ đâu mấy lúc cơ hội đến với nàng,
đôi ba phen nàng toan cất bước đi tìm hang hốc nhưng không thể nào dứt
tình Đoàn Dự cho được. Lại một phen thay đổi ý kiến: “Biết đâu sáng mai
chàng không đến tìm ta? Mình mà bỏ đi, chàng không thấy ở đây nữa thì e
rằng suốt đời không còn bao giờ có ngày tái hội nữa. Có khi chàng đến tìm
mình vẹn nghĩa đồng sinh, đồng tử thế mà mình không có mặt tại đây, tất
rồi chắc chàng sẽ bị Nam Hải Ngạc Thần giết vì lẽ không chịu thờ lão làm
thầy, chẳng hoá ra mình có tội với chàng ru?”. Suốt một đêm trường, nàng
suy đi tính lại, cho tới lúc trời rạng đông mà vẫn chưa quyết định theo
đường nào. Trời sáng rõ, nàng chép miệng thở dài: “Chàng bạc hãnh có đến
hay không cũng mặc, Mộc Uyển Thanh đành chết tại chốn này”. Đang lúc
muôn sầu ngàn khổ giày vò, bất thình lình nàng nghe đánh “bịch”, một vật
gì từ trên không rơi xuống bụi rậm, cách chỗ nàng ngồi chừng vài chục
trượng. Nàng giật mình không biết là cái gì liền nằm phục xuống để nghe
ngóng. Hồi lâu không thấy động tĩnh gì nữa, nàng từ từ đi tới chỗ bụi rậm
xem. Gần đến nơi thấy mùi máu tanh xông lên sặc sụa, nàng vén cỏ bước
tới nơi thì: Trời ơi! khiếp quá! Sáu cái xác trẻ con, cái nằm ngang, cái nằm
ngửa, quay ra đó. Mộc Uyển Thanh sợ quá, mình toát mồ hôi lạnh toát như
đồng. Trong đám xác chết này có cả đứa con trai mà hôm trước nàng đã
trông thấy Diệp Nhị Nương bồng trên tay. Nàng há hốc miệng ra mà nhìn
một lúc rồi bước lại gần xác đứa con trai đó xem: trên cổ nó còn rành rành
in vết hai hàm răng cắn vào giữa mạch máu, trũng sâu xuống. Nàng nhớ lại
lời Nam Hải Ngạc Thần, lẩm bẩm một mình: “Con mụ vô ác bất tác Diệp
Nhị Nương này quả nhiên mỗi ngày hút máu một đứa hài nhi. Trong sáu
ngày qua, mụ đã hút máu sáu đứa nhỏ rồi đây”. Trong sáu cái thi hài trẻ con
này, chỉ có một đứa quần áo sạch sẽ diêm dúa, còn năm đứa kia toàn áo vải
quê mùa thô kệch, ra kiểu con nhà làm ruộng, chắc là mụ bắt trộm trong
các nông gia trên núi Vô Lượng. Mộc Uyển Thanh thò tay sờ vào những xác
chết đó thì chỉ có một cái hãy còn hơi nóng nhung da thịt khô kiệt vì máu
huyết bị hút mất cả rồi. Đó là xác đứa trẻ mà Diệp Nhị Nương vừa mới hút
máu xong, liệng ra. Mộc Uyển Thanh cũng vào hạng đa sát nhưng giết toàn
khách giang hồ gây hấn, toan xâm phạm đến nàng. Hành động tàn sát trẻ
con này chính mắt nàng trông thấy cũng làm cho nàng phải ghê tởm. Nàng
vừa căm giận, vừa sợ hãi, bất giác run lên bần bật.
Bất thình lình một bóng xanh chớp nhoáng trước mặt Mộc Uyển Thanh.
Bóng người này đi nhanh như bay xuống núi, cứ liên tiếp nhô lên hạ xuống
như ma quỷ ẩn hiện: đó chính là Diệp Nhị Nương.
Mộc Uyển Thanh thấy khinh công của mụ già mà giật mình nghĩ thầm: giả
tỷ có sư phụ ta ở đây mà đuổi mụ cũng không tài nào đuổi kịp. Rồi đột
nhiên hai chân nàng bủn rủn, ngồi đánh bệt xuống đất, thừ ra cho muôn
thảm ngàn sầu thi nhau kéo đến dày vò.

Hết Chương 11

Hết Hồi 11

================================================================

Chương 12   Hồi 12

Ngư Tiều Canh Độc

    Mộc Uyển Thanh ngẩn người ra một lúc rồi đem đặt sáu cái xác hài nhi vào
một chỗ. Nàng lấy đá và đất cát lấp lên để làm cái mộ. Bỗng phía sau cảm
thấy một luồng gió thổi đến mát rợi. Nàng ứng biến rất mau lẹ, nhún chân
trái lên một chút, đưa người về phía trước tránh khỏi. Chợt thấy phía sau
nổi lên một trận cười the thé như tiếng kim khí cọ xát vào nhau, kế đến
tiếng gọi:
– Tiểu cô nương! Chồng cô chết rồi, cô còn mơ tưởng làm chi nữa? Âu là cô
theo ta có hơn không?
Chính là lão Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc. Lão vừa nói vừa giơ những
ngón tay nhọn hoắt toan chụp lấy vai Mộc Uyển Thanh. Bỗng mé bên đánh
bịch một tiếng, một bàn tay phóng ra gạt phắt tay Vân Trung Hạc: đó là
Nam Hải Ngạc Thần nổi hung oang oang quát:
– Lão tứ! Ta bảo cho mi biết: phái Nam Hải ta không cho mi càn rỡ thế đâu!
Vân Trung Hạc không nắm được Mộc Uyển Thanh, nhảy ra xa đến ngoài
mời trượng tránh Nam Hải Ngạc Thần rồi vừa cười vừa nói:
– Tam ca có thu được chồng thị làm đồ đệ đâu mà nhận thị làm người của
phái nam hải?
Mộc Uyển Thanh nhìn Vân Trung Hạc người cao lêu nghêu, lại gầy như
que củi, toàn thân trông như cây gậy tre, bộ mặt dài hoãng trông mà phát
khiếp. Lão mở miệng cười thì ngọn lưỡi đỏ hỏn như máu duỗi ra co vào
chẳng khác chi con mãng xà.
Nam Hải Ngạc Thần gầm lên:
– Sao mi biết đồ đệ ta không tới? Phải chăng mi giết chết đồ đệ ta rồi? Chắc
là mi thấy y có tư cách đặc biệt hơn đời, muốn thu y làm đồ đệ. Mi bức
bách song y không chịu nên mi giết đi, thế là mi phá tan sự nghiệp của ta
rồi! Ta phải đập chết mi trước rồi sau sẽ hỏi tội.
Nam Hải Ngạc Thần là người hung hãn có một, lão chẳng thèm hỏi Vân
Trung Hạc xem có phải y đánh chết trò lão hay không, lão cứ hùng hùng hổ
hổ nhảy xổ vào đánh Vân Trung Hạc.
Vân Trung Hạc kêu lên:
– Nào tôi có biết đồ đệ lão mặt ngang mũi dọc ra làm sao mà bảo tôi thu
nạp nó mới được chứ?
Lão tứ vừa nói vừa tránh khỏi một cách rất lẹ làng hai đòn Nam Hải Ngạc
Thần đánh tới nhanh như chớp nhoáng.
Nam Hải Ngạc Thần vẫn xỉ mắng thậm tệ:
– Quân chó đẻ! Ai mà tin miệng mi được? Mi đánh nhau với kẻ khác bị
thua, rồi đem nỗi căm hờn trút lên đầu đồ đệ ta.
Vân Trung Hạc hỏi:
– Đồ đệ lão huynh trai hay gái?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Mi còn hỏi vẩn vơ? Ta thu nữ đồ đệ về làm gì?
Vân Trung Hạc nói:
– ồ thế thì Vân Trung Hạc này chỉ cướp bắt đàn bà con gái, chứ có thu nạp
con trai bao giờ? Lão huynh chưa biết sao?
Nam Hải Ngạc Thần đang nhảy vọt lên trên không nghe Vân Trung Hạc nói
có lý liền sa xuống, chân phải đặt chênh vênh lên tảng đá quát hỏi:
– Thế thì đồ đệ ta đi đâu mà đến bây giờ chưa lại làm lễ bái kiến sư phụ?
Vân Trung Hạc cười sằng sặc nói:
– Tôi biết đâu đấy? Rỗi hơi đâu mà theo dõi công việc của phái Nam Hải.
Nam Hải Ngạc Thần chờ Đoàn Dự đã bảy ngày, ruột nóng như điên, lửa
giận không có chỗ nào phát tiết, tức quá gầm lên:
– à mi nhạo báng ta phải không?
Mộc Uyển Thanh đứng ngoài nghĩ thầm: ta nhân cơ hội này chọc cho hai
lão đánh nhau chí mạng kể cũng hay vô cùng. Nàng bèn nói xen vào:
– Đúng là Vân Trung Hạc bắt Đoàn lang đem vào chỗ hẻo lánh giết đi, cốt
triệt phái Nam Hải mất một nhân vật ghê gớm sau này.
Nam Hải Ngạc Thần vỗ trán quát hỏi Vân Trung Hạc:
– Lão tứ! Mi có nghe vợ đồ đệ ta nói đó không? Mi còn kêu oan nữa thôi?
Mộc Uyển Thanh vừa khóc vừa nói tiếp:
– Sư phụ ơi! Đoàn lang có bảo tiểu nữ rằng: chàng gặp được một nhân vật
như sư phụ thu nạp làm đồ đệ thật là đã tu mấy kiếp. Chàng sẽ cố công rèn
luyện võ nghệ, làm rạng rỡ phái Nam Hải, để cái tên Nam Hải Ngạc Thần
của sư phụ càng thêm khét tiếng khắp thiên hạ, để bọn ác quán mãn doanh,
vô ác bất tác trông thấy phải thèm nhỏ rãi ra. Ai ngờ lại bị Vân Trung Hạc
sinh lòng độc ác, đang tay giết mất đồ đệ của sư phụ. Rồi sư phụ tìm đâu ra
tên đồ đệ được như chàng?
Mỗi câu Mộc Uyển Thanh nói là Nam Hải Ngạc Thần lại vỗ trán gật đầu.
Nàng tiếp:
– Xương hậu chẩm Đoàn lang giống hệt như sư phụ, thiên tư chàng cũng
thông minh chẳng kém gì sư phụ. Nếu chàng không bị hại thì trên thế gian
này quyết không còn ai kiếm được một người thứ hai thập phần hoàn hảo
như chàng. Mà sau này phái Nam Hải tất nhiên phải nhảy lên hàng đầu các
phái khác. Quái ác lão Vân Trung Hạc này vì lòng ghen tức, ngấm ngầm
theo dõi để phá đại cuộc của sư phụ. Thế mà sư phụ không báo thù cho đồ
đệ, tiểu nữ e rằng thiên hạ sẽ phỉ nhổ sư phụ là người hèn nhát để kẻ khác
giết trò mình, phá hoại môn phái nhà mình cũng phải chịu.
Nam Hải Ngạc Thần nghe tới đây, mặt đỏ bừng, mắt nẩy lửa, hét lên một
tiếng thật to, nhảy xổ vào Vân Trung Hạc. Vân Trung Hạc biết mình võ
công không bằng Nam Hải Ngạc Thần, lại kém cả cái tính thô lỗ nông nổi,
dễ bị người lừa. Lão lại biết rõ Nam Hải Ngạc Thần bị Mộc Uyển Thanh
khiêu khích, không thể phân trần ngay được, âu là tránh voi chẳng xấu mặt
nào. Thấy Nam Hải Ngạc Thần xô tới, lão không kháng cự chi hết, cắm đầu
chạy dài.
Nam Hải Ngạc Thần nhảy xổ vào, vừa đặt hai chân chấm đất, Mộc Uyển
Thanh lại gọi to:
– Lão tứ bỏ chạy rồi! Nếu y không giết đồ đệ của lão gia, sao không đứng
lại mà cãi lại chạy trốn luôn?
Nam Hải Ngạc Thần kêu rống lên:
– Lão tứ! Mi phải đền mạng cho đồ đệ ta.
Hai người một chạy trước, một đuổi sau, chớp mắt đã quanh ra phía sau núi.
Mộc Uyển Thanh mừng thầm. Chốc lát lại nghe tiếng Nam Hải Ngạc Thần
gầm lên mỗi lúc một về gần. Hai người đuổi nhau vòng mé sau núi quanh
về.
Vân Trung Hạc về môn khinh công cao hơn Nam Hải Ngạc Thần nhiều,
chạy chân không chấm đất. Cái thân hình nhỏ bé, cao lêu nghêu tựa như bay
loang loáng trên không gian. Nam Hải Ngạc Thần đuổi sau lão một quãng
khá xa, không tài nào kịp. Hai người chỉ thoáng qua trước mặt Mộc Uyển
Thanh chớp mắt đã lại chuyển qua mé sau núi. Vân Trung Hạc chạy trở lại
lần thứ hai thấy Nam Hải Ngạc Thần vẫn còn ở đằng xa, liền xoè bàn tay
chụp lấy Mộc Uyển Thanh. Mộc Uyển Thanh thất kinh vẫy tay phải một cái
nghe đánh “vút”: mũi tên độc phóng ra. Vân Trung Hạc né qua bên trái nửa
thước tránh khỏi. Không hiểu lão chuyển mình thế nào mà quờ tay đến
trước mặt Mộc Uyển Thanh. Nàng vội né tránh, vì chậm một chút thấy gió
thổi vào má mát rợi, thì ra tấm khăn che mặt đã bị lão giật mất, đang cầm
trong tay.
Vân Trung Hạc thấy Mộc Uyển Thanh dung nhan tuyệt thế, ngây người ra
mà nhìn, cười một cái rất lẳng lơ, khen bằng một giọng the thé rất khả ố:
– Đẹp tuyệt! Cô nương thật là đẹp tuyệt! Cô nương tài mạo mười phần…
Chưa dứt lời, Nam Hải Ngạc Thần đuổi đến nơi, phóng ra một chưởng đánh
vào phía sau. Vân Trung Hạc dừng chân, vận nội công, đánh lại một
chưởng. Hai luồng điện lực chạm nhau phát ra tiếng nổ rùng rợn. Mộc Uyển
Thanh bị một trận ngạt thở vì sức ép của không khí. Một vùng đường kính
rộng chừng hơn mười trượng đất cát bay lên mù mịt. Vân Trung Hạc mượn
đà ở sức mạnh chưởng lực của Nam Hải Ngạc Thần nhảy vọt ra xa hơn hai
trượng.
Nam Hải Ngạc Thần thét lên:
– Mi nếm thêm một chưởng nữa của ta đây!
Vân Trung Hạc cười nói:
– Lão huynh đuổi không kịp tôi đâu! Mà tôi có đánh cũng không lại huynh,
dù có đánh cả ngày cả đêm cũng chỉ diễn ra cái trò đuổi nhau mãi thế này
mà thôi, chả ai làm gì được ai.
Hai người đuổi nhau đã xa mà cát bụi vẫn còn mù mịt. Mộc Uyển Thanh
nghĩ bụng: ta phải tìm cách cản đường Vân Trung Hạc. Nếu cứ để mặc họ
thế này thì vĩnh viễn Nam Hải Ngạc Thần không đuổi kịp Vân Trung Hạc.
Nàng chờ cho Vân Trung Hạc vòng trở lại lần thứ ba gần tới nơi, xông ra
đón đường, phất tay phải luôn mấy cái: sáu bảy mũi tên nhằm Vân Trung
Hạc phóng tới, rồi nàng quát to:
– Ngươi phải thường mạng cho lang quân ta đây!
Vân Trung Hạc nghe trên không vang lên những tiếng “vút vút vút”, ám tiến
bay đến rất là ghê gớm, lão phải liên tiếp nhô lên cao, cúi rạp xuống để
tránh. Mộc Uyển Thanh tuốt kiếm “soạt” một cái, nhằm Vân Trung Hạc
đâm luôn hai nhát. Vân Trung Hạc hiểu rõ tâm lý nàng, không rút khí giới
ra đối địch, chỉ lạng người né tránh. Dù mau lẹ tới đâu Vân Trung Hạc cũng
phải dừng lại giây lát đối phó với Mộc Uyển Thanh. Nhân thế mà Nam Hải
Ngạc Thần đuổi tới nơi, phóng luôn cả hai bàn tay dồn dập chởng lực chụp
lấy Vân Trung Hạc. Vân Trung Hạc nhe răng ra cười nói:
– Lão tam! Sở dĩ ta phải nhường nhịn ngươi mấy lần là để khỏi tổn thương
hoà khí trong bọn Tứ ác với nhau mà thôi, chứ ta sợ gì ngươi?
Nói rồi lão thò tay về phía sau rút cương trảo ra, hai tay cầm hai cây. Cương
trảo dài ba thước, trên ngọn có bàn tay giống như tay người, ngón tay xoè
ra, ngoài đầu ngón tay đều có ánh sáng lập loè. Vân Trung Hạc cầm cây
trảo tay trái quay về phía hữu, cây trảo tay mặt quay về phía tả, che trước
mình dường như để giữ thế thủ, chứ không ra kiểu để tấn công.
Nam Hải Ngạc Thần ra chiều hớn hở nói:
– Giỏi đấy nhỉ! Hãy coi khí giới của lão gia đây!
Nói rồi rút khí giới trong bọc đeo trên lưng ra. Mộc Uyển Thanh biết mình
có xông vào vòng chiến cũng chỉ nhọc mình vô ích liền lui về phía sau mấy
bước. Nam Hải Ngạc Thần tay cầm một thanh đao hình thù rất lạ, lưỡi dài
có răng sáng loáng giống hình răng cá sấu nên gọi là Ngạc chuỷ tiễn, tay
trái sử cây roi có răng cưa giống như đuôi cá sấu nên gọi là Ngạc Vĩ Tiến.
Vân Trung Hạc liếc mắt nhìn hai thứ khí giới khác thường của Nam Hải
Ngạc Thần rồi đột nhiên giơ cây cương trảo bên hữu lên quay về phía Nam
Hải Ngạc Thần bổ xuống. Nam Hải Ngạc Thần vung cây Ngạc Vĩ Tiến,
cầm nơi tay trái lên gạt đánh “chát” một tiếng. Vân Trung Hạc nhanh như
chớp, chưa rút cây cương trảo ở tay phải về cây trảo nơi tay trái đã bổ theo.
Bỗng nghe đánh choang một tiếng, Nam Hải Ngạc Thần đã vung cây Ngạc
chuỷ tiễn lên cho răng cắn vào cây cương trảo của Vân Trung Hạc. Cương
trảo này đánh toàn bằng thép tốt, cứng rắn vô cùng còn cây Ngạc chuỷ tiễn
không biết đúc bằng thứ gì mà nghiến đứt được hai trong năm ngón tay ở
cây cương trảo. ấy là nhờ Vân Trung Hạc mau lẹ vô cùng, rút cương trảo về
nhanh nên mới còn lại ba ngón. Vân Trung Hạc đã luyện rất thành thục
phép đánh cương trảo. Cả mười ngón tay ở hai cây thì mỗi ngón có một tác
dụng riêng, cụt mất hai ngón sức mạnh cũng bị giảm đi một phần. Nam Hải
Ngạc Thần bẻ gãy được hai ngón cương trảo rồi vừa cười vừa khoa roi Ngạc
Vĩ Tiến quất ngược lên thì đột nhiên một bóng xanh ở đâu lẹ làng len vào
giữa hai bên. Tưởng ai té ra là Diệp Nhị Nương. Tay trái mụ khẽ đẩy cây
Ngạc Vĩ Tiến cho Vân Trung Hạc nhảy ra ngoài.
Diệp Nhị Nương hỏi:
– Lão tam! Lão tứ! Tại sao người trong một nhà lại đánh nhau?
Mụ vừa hỏi vừa liếc mắt nhìn dong mạo Mộc Uyển Thanh. Bất giác mụ sa
sầm mặt xuống vì có bản tính căm tức bất kỳ ai duyên dáng hơn mụ, huống
chi Mộc Uyển Thanh lại là một trang tuyệt thế giai nhân, khiến người nào
trông thấy mặt nàng cũng phải mê hồn.
Mộc Uyển Thanh lại thấy Diệp Nhị Nương bồng trên tay một đứa con trai
nhỏ chừng ba bốn tuổi thì biết ngay mụ vừa xuống núi lúc nãy là đi lùng trẻ
con về hút máu.
Diệp Nhị Nương đã về tới, dĩ nhiên là cuộc giao đấu giữa Nam Hải Ngạc
Thần và Vân Trung Hạc phải chấm dứt. Mộc Uyển Thanh thấy mắt mụ
phóng ra những tia sáng kỳ dị mà phát sợ, phải quay đi chỗ khác, không
dám nhìn thẳng vào mặt mụ nữa. Đứa nhỏ bỗng la inh ỏi:
– Gia gia ơi! sơn sơn về với gia gia kia!
Diệp Nhị Nương lại giở giọng hiền từ ra dỗ nó:
– Sơn sơn ngoan! Nín ngay đi! nín ngay đi! chờ chút xíu nữa gia gia sẽ đến
mà.
Mộc Uyển Thanh nhớ đến xác sáu đứa trẻ quăng ra bụi rậm lúc nãy, giờ lại
nghe cái giọng từ ái thân thiết của mụ vỗ về đứa nhỏ, nàng càng sởn gai ốc
rùng mình.
Vân Trung Hạc hỏi Diệp Nhị Nương:
– Nhị tỷ! Lão tam vừa luyện được thanh Ngạc chuỷ tiễn và cây Ngạc Vĩ
Tiến cực kỳ lợi hại. Tôi vừa cùng lão thử mấy đường chơi nhưng không thể
nào địch lại được hai thứ khí giới ghê gớm của lão. Còn nhị tỷ trong mời
năm nay có gì mới lạ không? Liệu còn địch lại lão với hai thứ khí giới mới
đó chăng?
Vân Trung Hạc tuyệt không đả động gì đến chuyện Nam Hải Ngạc Thần
ngờ oan cho mình đã giết đồ đệ của lão cả, mà chỉ nói mấy câu cốt để kích
thích Diệp Nhị Nương đánh bại lão Nam Hải Ngạc Thần cho bõ ghét.
Nhưng ngay từ lúc trên đường về, đang đi lên núi Diệp Nhị Nương đã nhìn
thấy rõ hai lão đánh nhau chí mạng đâu phải cuộc luyện võ bình thường?
nên mụ cười ruồi đáp:
– Mười năm nay ta chỉ luyện nội công thôi, chểnh mảng các món binh khí,
nhất định không địch nổi hai người nữa.
Nam Hải Ngạc Thần cùng Vân Trung Hạc đều nghĩ thầm: trước nay mụ vẫn
dùng lối đánh dai dẳng để ăn người, còn về nội công cũng bình thường thôi.
Trong mười năm qua mụ đã khổ công luyện tập võ nghệ mà lại chuyên về
môn nội công thì tất mụ gặp được thầy giỏi, có bí quyết về môn này rồi đây.
Nên nhớ rằng nội công là một môn võ nghệ so với ngoại công còn có phần
ghê gớm hơn. Nếu luyện nội công đến chỗ cao siêu tuyệt đỉnh thì có thể chế
phục được ngoại công một cách dễ dàng.
Nam Hải Ngạc Thần toan cất tiếng nói thì bất thình lình một tiếng quát lớn
từ phía sau núi vang lại:
– Bớ yêu phụ! Mi cướp con ta làm chi? Phải trả lại cho ta mau!
Tiếng quát vừa dứt Mộc Uyển Thanh thấy một người mặc áo bào bằng thứ
vóc da đồng, tay cầm thanh trường kiếm xồng xộc đi lên, tưởng là ai, hoá ra
Tả Tử Mục, chưởng giáo phe Đông phái Vô Lượng. Nàng bất giác rùng
mình vì biết Diệp Nhị Nương xuống núi Vô Lượng, không kiếm đâu được
hài nhi để uống máu nên cướp ngay chính con trai Tả Tử Mục đem về.
Diệp Nhị Nương nói:
– Tả tiên sinh! Ta thấy lệnh lang kháu khỉnh, mượn về chơi một bữa. Sáng
mai ta sẽ đem trả mà, hà tất phải nóng nảy?
Mụ vừa nói vừa hôn hít, vuốt ve Sơn Sơn. Tả Sơn Sơn thấy cha đến vừa khóc
vừa gọi to:
– Gia gia! Gia gia!
Tả Tử Mục bước lại gần chìa tay trái ra nói:
– Đứa nhỏ này xấu xí có đáng gì đâu? Xin trả lại cho ta!
Nam Hải Ngạc Thần cười bảo:
– Vào tay ai chả nói, chứ đã vào tay Diệp Tam Nương thì đến ngay hoàng tử
hay công nương, con đức hoàng đế cũng đừng hòng mụ trả lại nữa.
Tả Tử Mục nghe đoạn rùng mình hỏi:
– Ông nói Diệp… Diệp tam nương nào đó? Bà ta có họ hàng thân thích gì
với Diệp Nhị Nương không?
Tả Tử Mục thường nghe Diệp Nhị Nương mỗi ngày hút máu tươi một đứa
trẻ đã ngờ ngay Diệp Tam Nương cũng là chị em gì với Diệp Nhị Nương và
nếu cũng một tính cách như Diệp Nhị Nương thì thật là hỏng bét.
Diệp Nhị Nương hớn hở, cười rất tươi đáp:
– Lão tam này hay nói chuyện bâng quơ chứ trên cõi đời này có ai là Diệp
Tam Nương đâu chỉ có Diệp Nhị Nương là ta đây.
Tả Tử Mục mặt cắt không còn hột máu. Từ lúc con lão bị bắt, lão cố sức
đuổi theo mụ. Trên đường lão biết võ công mụ hơn mình nhiều lắm. Ban
đầu lão chỉ tưởng mụ là một người đàn bà nào chưa quen biết, lại không thù
oán gì với mình dù con mình có bị bắt cũng chả đến nỗi nào. Bây giờ biết ra
chính mụ là người thứ hai trong thiên hạ Tứ ác, tên gọi Diệp Nhị Nương thì
chẳng còn hồn vía nào nữa. Lão muốn nói thêm mà dường như có vật gì
chẹn họng làm cho lão nghẹn lời, không thốt ra được.
Diệp Nhị Nương tiếp:
– Ngươi trông đây! Đứa nhỏ này nhuận da, thắm thịt, sắc huyết đỏ tươi, óng
ánh trong lớp da mịn, lại là con nhà có danh tiếng, so với nông phu, điền tốt
thật khác nhau một trời một vực.
Mụ vừa giơ đứa nhỏ ra ánh mặt trời để soi sắc huyết vừa tấm tắc khen hoài,
tựa hồ như các bà đi chợ mua gà, vịt, thịt, cá chọn miếng tươi, miếng ngon.
Tả Tử Mục nghe mụ vừa nói vừa nuốt nước miếng ra vẻ thèm khát, những
muốn đem con mình ăn tươi nuốt sống thì sợ hãi và căm tức vô cùng. Tuy
lão đã biết rõ không thể địch nổi mụ nhưng cũng liều chết rút kiếm ra vung
lên theo thế “Hữu Phụng lai nghi” nhằm cổ Diệp Nhị Nương phóng tới.
Diệp Nhị Nương chỉ cười lạt, giơ Sơn Sơn ra đỡ. Nếu Tả Tử Mục phóng
thẳng đà thì lỡi kiếm đâm suốt qua mình đứa trẻ, nhưng kiếm thuật lão đã
rất mực tinh vi, đường kiếm đang phóng mạnh, thấy vậy lão dừng lại kịp rồi
đa trệch sang bên để đổi thành thế “Thiên mã hành không” đâm vào vai
Diệp Nhị Nương. Diệp Nhị Nương không né tránh lại khẽ đưa Sơn Sơn sang
bên để che thân mình. Tả Tử Mục lại phải đổi đường kiếm, chớp mắt lão đã
đổi luôn năm thế. Diệp Nhị Nương chỉ việc từ từ đưa qua đưa lại đứa nhỏ để
đỡ khiến cho Tả Tử Mục đang đâm lại phải thu kiếm, không làm gì được
mụ.
Vân Trung Hạc bị Nam Hải Ngạc Thần đuổi mấy vòng, lại bị gãy mất hai
ngón tay cương trảo, đang tức mình chưa có chỗ trút hận, đột nhiên nhảy xổ
tới, tay trái cầm cương trảo bổ xuống đầu Tả Tử Mục. Tả Tử Mục hoa
ngược kiếm lên, dùng thế “Vạn huỷ tranh diện”, những ánh kiếm vây bọc
lấy thượng bàn để chống đỡ. Hai thứ binh khí chạm vào nhau bật ra những
tiếng loảng choảng ghê người.
Tả Tử Mục chuyển sang thế “Thuận thuỷ thôi chu” toan đưa mũi kiếm đâm
vào yết hầu bên địch, thì bỗng nhiên những ngón tay cương trảo khép lại,
giữ chặt lấy lưỡi kiếm. Nguyên cây cương trảo của Vân Trung Hạc có đặt
máy cực kỳ linh diệu, chỉ việc ấn cái lò xo là những ngón tay sẽ mở ra hay
khép lại theo ý người sử dụng nó, chẳng khác gì ngón tay người thật.
Tả Tử Mục là tôn sư một phái võ có danh tiếng, kiếm pháp đã vào hạng
thượng thừa. Tuy so với Vân Trung Hạc còn kém xa thật nhưng chẳng lẽ
mới đánh có hai đường đã chịu thua ngay. Lão không chịu buông tay kiếm
vội vận nội công, gắng sức giật mạnh một cái, lạng hẳn người đi. Vân Trung
Hạc nhanh như cắt, vội chụp ngay cây cương trảo ở tay phải xuống, trúng
ngay vai lão. Cũng may mà cây cương trảo này có năm ngón, Nam Hải
Ngạc Thần đã cắt mất hai nên Tả Tử Mục mới bị thương nhẹ đi một chút
nhưng cũng máu chảy đầm đìa. Ba ngón tay cây cương trảo bám riết lấy
xương vai lão, không sao gỡ ra được. Vân Trung Hạc tiến lại, bồi thêm cho
một cái đá. Tả Tử Mục ngã lăn xuống đất. Thế là mới trong khoảnh khắc,
một vị chưởng giáo phái võ khá nổi tiếng đã bị loại ra ngoài vòng chiến.
Nam Hải Ngạc Thần khen Vân Trung Hạc:
– Lão tứ giỏi đấy! Cương trảo của ngươi vẫn còn tốt chán.
Diệp Nhị Nương cười hỏi Tả Tử Mục:
– Tả đại chưởng giáo! Ngươi có gặp đại ca bọn ta không?
Vai bên hữu Tả Tử Mục bị cương trảo quặp chặt, không nhúc nhích được.
Lão cố nhịn đau đáp:
– Đại ca mụ là ai? Ta chưa được gặp bao giờ.
Nam Hải Ngạc Thần cũng hỏi lão:
– Ngươi có gặp đồ đệ ta không?
Tả Tử Mục đáp:
– Đồ đệ ngươi là ai? Ta cũng không gặp.
Nam Hải Ngạc Thần giận nói:
– Ngươi đã bảo ngươi không biết đồ đệ ta, sao ngươi còn nói là không gặp
y? Quân chó đẻ này thật là khả ố. Này tam muội đem con y ra mà hút máu
đi!
Diệp Nhị Nương nói:
– Bữa sáng nay ta đã dùng rồi. Hãy để nó đấy! Này Tả đại chưởng giáo!
Thôi ngươi đi đi ta tha chết cho đó!
Tả Tử Mục ấp úng:
– Diệp… Diệp Nhị Nương! Nếu Nhị Nương đã tha tôi, thì trả luôn cả con lại
cho tôi, tôi sẽ kiếm ba bốn đứa nhỏ khác đem đến đánh đổi và cảm ơn đức
nhị nương vô cùng.
Diệp Nhị Nương cười hì hì đáp:
– Vậy càng hay! Ngươi tìm tám đứa nhỏ đến đây ta đổi cho! Bọn ta đây bốn
người, mỗi người bồng hai đứa, vậy là ngươi cung cấp cho ta được tám ngày
lương thực. Lão tứ! Tha cho y về!
Vân Trung Hạc bấm nút lò xo cho các ngón tay cương trảo há ra. Tả Tử
Mục được buông tha, nghiến răng đứng dậy vái dài Diệp Nhị Nương rồi thò
tay ra toan ãm đứa nhỏ. Diệp Nhị Nương cười nói:
– Ngươi cũng là một nhân vật trong đám giang hồ mà sao không hiểu lề luật
chi cả? Ngươi phải đem tám đứa nhỏ lại đây, ta mới đổi cho chứ!
Tả Tử Mục thấy con mình bị Diệp Nhị Nương giữ trong bọc, rất lấy làm
khó chịu nhưng ở vào tình thế không làm thế nào được đành gật đầu nói:
– Tôi về kiếm tám đứa nhỏ mập mạp đem đến, mong rằng Nhị Nương gượng
nhẹ con tôi cho.
Diệp Nhị Nương không thèm trả lời, miệng cất tiếng hát ru đứa nhỏ. Tả Tử
Mục gọi con:
– Sơn Sơn con ơi! Con ngoan lắm! Hãy ở đây chờ gia gia! Lát nữa gia gia
trở lại ngay để đón con về.
Sơn Sơn cứ khóc, gọi ầm lên, nằng nặc đòi nhẩy ra với cha. Tả Tử Mục xiết
bao bịn rịn, nhìn con không chớp mắt, tay trái nắm lấy chỗ vai bị thương rồi
trở gót quay đi.
Mộc Uyển Thanh đã nghe hết đầu đuôi câu chuyện, nghĩ bụng: chuyến này
Tả Tử Mục về tất bắt bọn môn đồ cùng bọn thủ hạ vào các nông dân phụ
cận, xục tìm trẻ con, bắt tám đứa đánh đổi một. Đành rằng phụ tử tình
thâm, không còn cách nào làm khác được. Nhưng như thế là ích kỷ thái quá.
Chỉ trong khoảnh khắc nữa là có tám đứa trẻ vô tội chết oan. Nàng không
còn thì giờ tính toán lâu nữa, nhảy ra đón đường Tả Tử Mục, và quát to lên
rằng:
– Tả Tử Mục! Ngươi về đi cướp con người đến thế mạng cho con mình, thế
mà không biết nhục ? Ta tưởng ngươi không còn mặt mũi nào giữ chưởng
giáo một phái võ nữa.
Tả Tử Mục cúi gằm mặt xuống đáp:
– Cô nương dạy chí phải! Tả Tử Mục này không còn mặt mũi nào đứng ở
trong phái võ lâm trên đời nữa. Từ đây đành quẳng kiếm, rửa tay, tìm chốn
mai danh ẩn tích.
Mộc Uyển Thanh cầm ngang lưỡi kiếm nói:
– Ta không cho ngươi xuống núi đâu!
Bất thình lình từ mấy ngọn núi đằng xa đưa lại một hồi tiếng hú tựa như
rồng gầm. Nam Hải Ngạc Thần cùng Vân Trung Hạc đều hớn hở vui mừng
reo lên:
– Đại ca đến nơi rồi!
Hai người vội vã vùng dậy lớn tiếng đáp lại, rồi nhằm phía có tiếng hú chạy
nhanh như bay. Chớp mắt hai người đã khuất vào phía sau núi. Diệp Nhị
Nương cứ giả vờ như không thấy gì, thản nhiên thí dỗ đứa nhỏ, rồi quay
sang liếc nhìn Mộc Uyển Thanh, tươi cười hỏi:
– Mộc cô nương! Cô nương cũng có lòng nghĩa hiệp lắm nhỉ!
Mộc Uyển Thanh cũng đưa mắt nhìn Diệp Nhị Nương thì vừa gặp lúc mụ
đang ngó nàng. Nàng bỗng run lên cầm cập, nắm chặt chuôi kiếm, bàn tay
toát mồ hôi lạnh ngắt.
Diệp Nhị Nương trên môi thoáng một nụ cười nham hiểm nói:
– Cô có đôi mắt xinh quá! Cô đổi quách cho tôi! Lại đây để tôi móc mắt cô
ra.
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Đổi cũng được! Nhưng mụ móc mắt mụ ra trước đã!
Diệp Nhị Nương nói:
– Cô phải móc mắt cô ra trước đi! Tả đại chưởng giáo! Ngươi lại móc mắt
tiểu cô nương kia giùm ta!
Thực ra Tả Tử Mục cũng chẳng muốn sinh sự với Mộc Uyển Thanh nhưng
vì nghĩ tới con mình còn ở trong tay Diệp Nhị Nương nên bất đắc dĩ phải
vâng lời mụ. Lão cầm thanh trường kiếm quát lên:
– Mộc cô nương! Cô nghe lời Diệp Nhị Nương đi là hơn, để khỏi bị đau đớn
ê chề.
Nói rồi đâm Mộc Uyển Thanh một nhát. Mộc Uyển Thanh thét lên:
– Mi thật là đứa tiểu nhân, vô liêm sỉ.
Nàng vung kiếm lên chém lại. Hai thanh kiếm chạm vào nhau bật lên tiếng
kêu “choang choảng”. Thuận đà Mộc Uyển Thanh đưa kiếm đâm thẳng vào
vai bên trái Tả Tử Mục. Thực ra Mộc Uyển Thanh chỉ đấu với Tả Tử Mục
một cách lờ vờ, mới đánh có ba đường nàng đã xoay mình qua mé tả rồi đột
nhiên tay trái khẽ phất ra phía sau. “Vút vút vút” ba mũi tên nhằm Diệp Nhị
Nương bay tới. Những tên này phóng ngầm ra cực kỳ hiểm ác, để đánh Nhị
Nương trong lúc bất ngờ. Tả Tử Mục thoáng thấy vội kêu lên:
– Đừng làm chết con ta.
Không ngờ Diệp Nhị Nương thấy ba mũi tên vèo tới, mụ chỉ phất tay áo
một cái cuốn gọn cả, hất ra một bên. Rồi tiện tay rút chiếc giày nhỏ ở chân
Tả Sơn Sơn, nhằm phía Mộc Uyển Thanh liệng tới. Mộc Uyển Thanh vừa
nghe tiếng gió thổi đến, giơ kiếm quay lại gạt. Chiếc giày trợt qua mũi
kiếm, bắn trúng vào vai bên hữu nàng đánh “phụp” một tiếng. Mộc Uyển
Thanh mới bị trọng thương chưa khỏi hẳn, đã phải vận động nội công lên
chống đỡ lại sức mạnh của cái giày ném vào. Nàng đau ê cả người, thanh
kiếm rời khỏi tay rớt xuống đất đánh choang một tiếng. Ngay lúc ấy, Diệp
Nhị Nương rút nốt chiếc giày thứ hai ở chân Tả Sơn Sơn phóng tới, trúng
vào sau lưng Mộc Uyển Thanh. Mắt nàng hoa lên, chân tay bủn rủn, không
đứng vững được nữa, phải ngồi bệt xuống đất. Tả Tử Mục chỉ mũi kiếm lên
ngực nàng, tay trái đưa ra móc mắt bên phải nàng. Mộc Uyển Thanh khẽ
gọi lên một tiếng: Đoàn lang chàng hỡi. Rồi hất mình lên trước để mũi kiếm
của Tả Tử Mục xiên vào tim cho chết trước khi chịu cái nhục bị móc mắt.
Bất thình lình, ánh bạch quang loé lên một cái, thanh trường kiếm của Tả
Tử Mục bay lên trên không, đồng thời hất lão té lăn ra, lùi về phía sau ba
bước. Cả ba người giật nảy mình, chẳng ai bảo ai đều nhìn lên xem thanh
trường kiếm từ đâu bay đến. Thì ra nó bị một sợi dây câu cuốn đi. Một đầu
dây buộc vào cái cần trúc do một ngư nhân áo tơi, nón lá cầm ở trong tay.
Ngư nhân trạc ba mươi tuổi, vẻ mặt oai hùng khiến ai trông thấy cũng phải
khiếp phục, gã miệng cười khanh khách tỏ vẻ đắc ý.
Diệp Nhị Nương nhận ra trước đây bảy ngày, gã đã đánh nhau với Vân
Trung Hạc, võ công vào hạng không vừa. Nhưng mụ tự lượng gã còn kém
mình nên mụ không sợ. Song mụ chưa hiểu bữa trước còn người nữa cùng đi
với gã có đến đây không? Mụ liếc mắt nhìn sang phía khác, quả thấy một
đại hán đứng ở bên mé tả. Gã đại hán này sau lưng có một cuộn dây và dắt
một cây búa sắt.
Diệp Nhị Nương vừa toan lên tiếng, chợt thấy sau lưng có tiếng động rất
khẽ, vột xoay mình lại xem thì thấy ở góc đông nam và góc tây nam đều có
một người đứng. Người góc đông nam ăn mặc ra kiểu một nhà văn, tay phải
cầm cây quạt, tay trái cầm cuốn sách. Góc tây nam là một gã lực lưỡng,
mày thô mắt lớn, đi chân không, trên vai vác một cái bồ cào sắt năm răng.
Bốn người đứng bốn góc như kiểu bao vây. Diệp Nhị Nương đắn đo thầm
trong bụng: giả tỷ mà bốn gã này võ nghệ tương đương nhau thì một mình
ta khó bề địch nổi. Dường như đại ca, Nam Hải Ngạc Thần và Vân Trung
Hạc cũng gần quanh đây, nếu họ nghe tiếng, nhất tề kéo đến, trừ khử xong
bọn này thì ngày sau vào đánh hoàng cung nước Đại Lý đỡ khó nhọc được
nhiều lắm.
Bỗng nghe Tả Tử Mục la lên rằng:
– Bốn quan đại thị vệ trong hoàng cung là “Ngư, Tiều, Canh, Độc” đã đến
đây cả! Tại hạ là Tả Tử Mục phái Vô Lượng xin kính chào liệt vị.
Nói xong quay về bốn người xá dài. Chỉ thấy mình gã thư sinh tỏ ra cung
kính, vái chào đáp lễ còn ba người kia dường như không hiểu gì. Gã Ngư
kéo cần câu lên, thanh trường kiếm lúng liếng ở trên không, ánh mặt trời
chiếu vào sáng loáng. Gã cười lạt hỏi Tả Tử Mục:
– Vô Lượng kiếm là một phái võ lớn có danh tiếng trong nước Đại Lý,
không ngờ chưởng giáo phái đó lại là một kẻ đốn mạt đến thế! Đoàn công
tử hiện giờ ở đâu?
Mộc Uyển Thanh đã nhất quyết tự tử, ngờ đâu gặp được cứu tinh, mừng rỡ
vô cùng, lại nghe họ hỏi đến Đoàn công tử nàng càng chăm chú theo dõi.
Tả Tử Mục run sợ đáp:
– Đoàn… Đoàn công tử ? Có có, mấy bữa trước đây, tôi có gặp mặt… vài
lần. Công tử cùng cô nương này đi với nhau.
Ngư nhân quay sang Mộc Uyển Thanh hau háu nhìn nàng bằng đôi mắt ra
vẻ hỏi tra. Mộc Uyển Thanh nói:
– Đoàn công tử mấy bữa trước có ở đỉnh núi bên kia mấy hôm nay không
biết đâu? Chưa hiểu sống chết ra sao?
Ngư nhân nhìn nàng một cách soi mói rồi quát to lên rằng:
– Phải chăng tiếng ác của mi đồn đại khắp nơi? Tên mi là Hương Dược Xoa
Mộc Uyển Thanh phải không?
Ban đầu Mộc Uyển Thanh nghe Ngư nhân quan tâm đến Đoàn Dự thì nàng
đối với gã ra vẻ ân cần. Giờ thấy gã mở miệng gay gắt ra kiểu hỏi tra, gã
làm như nàng đã giết Đoàn Dự không bằng. Nàng bản tính ương ngạnh, khi
nào chịu khuất phục những kẻ ăn nói vô lễ, bèn cười lạt đáp:
– Mi là ai mà dám hỏi ta như vậy?
Ngư nhân cả giận đáp:
– Mi đến địa phận nước Đại Lý hoành hành, giết chết bao nhiêu người rồi.
Anh em ta định tìm mi hỏi tội, nếu mi trỏ được chỗ Đoàn công tử thì thôi,
bằng không thì bọn ta sẽ liệu cho mi.
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Đoàn công tử bị người anh em mụ này giết chết rồi.
Nàng vừa nói vừa trỏ vào Diệp Nhị Nương, rồi nàng tiếp:
– Gã tên là Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc, thân thể y gầy nhom, cao lêu
nghêu như cây tre.
Ngư nhân cả kinh quát to:
– Thật ? Đúng là thằng cha đó ?
Gã nông phu tay cầm cái bồ cào sắt năm răng, tính nóng như lửa, vừa nghe
Đoàn Dự chết liền khóc hu hu và kêu to lên:
– Đoàn công tử ơi! ta phải báo thù cho công tử.
Gã cầm bồ cào nhằm đầu Diệp Nhị Nương bổ xuống. Diệp Nhị Nương né
mình tránh khỏi, tươi cười hỏi:
– Phải chăng ngươi là nông phu ở núi Điểm Thương, và là một trong bốn gã
“Ngư, Tiều, Canh, Độc” đó chăng?
Nông phu đáp:
– Chính phải! Nếm miệng bồ cào của ta đây!
Rồi cầm bồ cào phang tạt ngang. Mấy hôm trước Diệp Nhị Nương đã từng
mắt thấy Ngư nhân với Tiều phu đánh Vân Trung Hạc. Bây giờ lại thấy
nông phu núi Điểm Thương đánh hai đòn bồ cào trầm trọng ghê gớm, mụ
bật lên tiếng cười khanh khách, song tiếng cười đột nhiên đổi thành tiếng
khóc, tiếng rên la.
– Trời ơi! ối các con ta ơi! bốn con là “Ngư, Tiều, Canh, Độc” ở nóc này
chết sớm đi khiến lòng mẹ đau xót vô cùng. Các con hãy chờ mẹ ở dưới
suối vàng.
Cả bốn gã “Ngư, Tiều, Canh, Độc” trạc tuổi cũng gần ngang mụ, nghe mụ
tự xưng là mẹ, gọi bốn người là con lại hơ trời hơ đất một cách thê thảm là
con mụ bị chết non, chết yểu đều thộn mặt ra. Gã Nông phu núi Điểm
Thương vừa bi thảm, vừa tức giận cầm cây bồ cào múa lên vù vù như gió
bão, thành một vùng mây vàng vây bọc lấy mụ. Diệp Nhị Nương hai tay
bồng Tả Sơn Sơn, không đánh trả đòn nào, thấy bồ cào giơ lên bổ xuống mụ
chỉ né tránh. Phép đánh bằng bồ cào của phái Điểm Thương cực kỳ lợi hại,
múa lên mỗi lúc một nhanh thêm mà không làm gì được mụ. Cả đến quần
áo mụ cũng không hề chạm phải. Diệp Nhị Nương nổi tiếng khóc ai oán bi
thảm mỗi lúc một rên rỉ vang lên.
Mộc Uyển Thanh hiểu ý kêu lên:
– Mụ đang gọi đồng đảng đó, nếu Tứ ác kéo đến các ngươi khó lòng mà
địch nổi.
Giữa lúc ấy, phía sau núi chợt nổi lên hồi sáo thổi, tiếng sáo trong trẻo,
vang dội, âm điệu trầm bổng, âm hợp tiết tấu với tiếng khóc bi thảm của
Diệp Nhị Nương. Mụ khóc lớn thì tiếng sáo cũng lên cao, mụ khóc nhỏ đi
hay khóc nhát gừng thì tiếng sáo cũng hạ thấp và đứt đoạn. Người thổi sáo
thổi một cách rất tài tình, lựa âm thanh rất am, đúng in với tiếng khóc. Mộc
Uyển Thanh lấy làm kinh dị tự hỏi:
– Phải chăng đây là ác quán mãn doanh, lão đứng đầu trong tứ ác đã đến
nơi?
Tiền tử rút búa ở sau lưng ra, quát to lên rằng:
– Vô ác bất tác Diệp Nhị Nương! Tiếng đồn về ngươi quả đã không ngoa,
cho Thái Tân Khách này lãnh giáo một vài đường.
Thái Tân Khách vừa nói vừa tấn công liền, cầm búa chém tả chém hữu bằng
những đòn ác liệt trong mười tám thế “bàn căn thác tiết” đánh vào hạ bàn
Diệp Nhị Nương. Diệp Nhị Nương cười nói:
– Thằng nhỏ này làm bận chân tay ta quá! Mi chém nó một búa đi cho rồi!
Mụ vừa nói vừa hạ Tả Sơn Sơn xuống thấp để chống đỡ mé dưới, búa chém
tới đâu, mụ lia đứa nhỏ tới đó. Thái Tân Khách cả kinh vội thu búa về,
không ngờ Diệp Nhị Nương thừa cơ, phóng chân đá trúng vai Thái Tân
Khách. May mà gã thân thể to lớn đẫy đà, dù bị đá trúng gã chỉ hơi lạng
người đi chứ không đến nỗi bị thương.
Diệp Nhị Nương bị Nông phu và Thái Tân Khách đánh dồn dập mụ vẫn giữ
đứa hài nhi làm bùa hộ thân nên hai gã không làm gì được vì không nỡ giết
đứa nhỏ vô tội.
Đứng ngoài Tả Tử Mục không ngớt la vang:
– Đứa nhỏ là con tôi! xin quý vị cẩn thận, đừng chém vào nó.
Đang lúc đánh nhau hỗn loạn, tiếng sáo mỗi lúc một lại gần. Từ mé sau núi
chuyển về một người lạ mặt, mặc áo bào rộng lùng thùng, hai tay nâng ngọc
địch đa lên miệng thổi. Mộc Uyển Thanh thấy người này có ba chòm râu
dài, tướng mạo rất bệ vệ, nước da từ mặt cho đến mười đầu ngón tay đều
mịn màng sáng sủa. Gã thư sinh chạy lại bên người lạ mặt nói nhỏ mấy câu
với thái độ rất là cung kính. Người lạ mặt miệng vẫn không rời ống sáo, đưa
mắt nhìn Mộc Uyển Thanh.
Mộc Uyển Thanh tự nhủ: té ra người này cùng bọn với “Ngư, Tiều, Canh,
Độc” chứ không phải ác quán mãn doanh.
Người lạ mặt vừa tiếp tục thổi sáo vừa đi lại gần chỗ ba ngời đang đánh
nhau. Thái Tân Khách vẫn múa tít cây búa, gã Nông phu phái Điểm Thương
tiếp tục cầm bồ cào nâng lên bổ xuống. Người lạ mặt vẫn giữ một thái độ
lạnh lùng như không hay biết đang có cuộc giao tranh khốc liệt. Tiếng sáo
vụt lên cao như bay bổng tận tầng mây, khiến người nghe thấy chấn động lá
nhĩ đến điếc tai. Người lạ mặt đặt cả mười đầu ngón tay bịt hết những lỗ
trên ống sáo, thổi thật mạnh. ống sáo dường như bị tức, hơi lùa ra đằng đuôi
một luồng gió mạnh đánh thẳng vào mặt Diệp Nhị Nương. Diệp Nhị Nương
thất kinh, phải quay mặt đi để tránh luồng gió ghê rợn thì đầu ống sáo đã
đưa vào cổ mụ. Hai động tác này mau lẹ dị thường khiến cho Diệp Nhị
Nương ứng biến thần tốc là thế mà chân tay cũng phải luống cuống. Trong
khi rất đỗi hoang mang, mụ vội đa đẩy chiếc lưng thon, vận nội công cho
nửa người trên cứng đơ lùi lại hơn một thước để tránh ống sáo toan thọc vào
cổ mụ. Người lạ mặt tay phải phóng mạnh ống sáo vào ngực Diệp Nhị
Nương. Đến mức này mụ không dám coi thường như trước nữa mà phải
dùng đến hai tay để đối phó. Mụ bèn lẹ làng hạ đứa nhỏ xuống, thò tay ra
bắt lấy ống sáo. Người lạ mặt hất tay áo rộng lùng thùng cuốn lấy đứa nhỏ
đồng thời đưa tay trái ra bảo: “bắt lấy!”. Diệp Nhị Nương vừa cầm tay vào
ống sáo thì trời ơi! sao mà nóng thế? Chẳng khác chi cục than hồng, cơ hồ
đốt cháy gan bàn tay. Thực là một điều ra ngoài sức tưởng tượng. Mụ tự
hỏi: phải chăng bên ngoài ngọc địch có thoa thuốc độc? Rồi vội buông tay
ra. Người lạ mặt thò năm ngón tay trái ra bắt lại ống sáo, tiện đà đánh vào
vai Diệp Nhị Nương, đồng thời phất tay phải một cái, nhẹ nhàng quăng đứa
nhỏ trả cho Tả Tử Mục. Người lạ mặt cướp lại đứa nhỏ, đồng thời đánh bên
địch, cử động nhẹ nhàng, ung dung như không có chuyện gì xảy ra cả, nét
mặt vẫn thản nhiên. Mộc Uyển Thanh chú ý nhìn người lạ mặt thấy cử động
cực kỳ linh diệu, chẳng những không sai một ly mà nội lực rất là hùng hậu.
Diệp Nhị Nương trong lúc bắt ngọc địch cũng để ý nhìn, thấy gan bàn tay
bên trái người lạ mặt thắm tơi như máu, bất giác giật mình tự hỏi: chẳng lẽ
người này đã được truyền thụ môn “Châu sa thủ” của bậc kỳ nhân nào trong
phái võ lâm? Nếu vậy thì không phải ngọc địch có sát thuốc độc mà là nội
lực y đã đến bậc thượng thừa, sức nóng ở bàn tay cầm vào làm cho ngọc
địch nóng bỏng, chẳng khác gì mới gắp ở trong lò lửa ra. Nghĩ vậy mụ tiến
lại gần, tươi cười hỏi:
– Các hạ võ công đã đến bậc này. Tôi không ngờ trong nước Đại Lý ta có
nhiều cao nhân đến thế! Xin cho biết tôn tính đại danh!
Người lạ mặt tủm tỉm cười đáp:
– Diệp Nhị Nương giá lâm tệ xứ, tôi không kịp ra xa nghênh tiếp mong
người thứ lỗi! Đại Lý tuy nước nhỏ, dân nghèo cũng đủ nghi lễ xứng đáng
làm chủ nhân tiếp khách.
Tả Tử Mục ẵm được con rồi vừa mừng vừa kinh ngạc vô cùng, chợt nhớ đến
một nhân vật nhưng lại nghĩ: kể ra vị này tướng mạo tương tự như người vẫn
được đồn đại. Còn về bước giang hồ của ông ta chưa rõ thế nào. Rồi không
nén được tính tò mò, bất giác lão cất tiếng hỏi:
– Phải chăng các hạ là Cao Quân Hầu?
Người lạ mặt chẳng nhận là đúng, cũng chẳng chối là sai, quay sang hỏi
Diệp Nhị Nương:
– Tánh mạng Đoàn công tử ra sao? Mong Nhị Nương cho biết!
Diệp Nhị Nương mím môi lại, cười lạt đáp:
– Tôi không biết! Dù có biết cũng không thể nói được.
Chưa dứt lời, mụ đột nhiên nhảy vọt lên cao rồi bong bong đi về phía đỉnh
núi. Người lạ mặt nói: Hãy thong thả! Rồi vùn vụt đuổi theo. Bỗng trước
mặt ánh vàng lấp loáng, trên không nổi lên những tiếng vun vút, bảy tám
thứ ám khí bay tới tấp, nhằm những huyệt trọng yếu trên đầu phóng tới.
Người lạ mặt huy động ngọc địch gạt đi, thấy hổ khẩu tay mình đau êm ẩm
thì nghĩ thầm: mụ này gớm thật! Trông theo thấy mụ nhô lên hạ xuống thấp
thoáng như ma quỷ ẩn hiện, người lạ mặt liệu chừng có đuổi cũng không
kịp được, nhìn lại những thứ ám khí rơi xuống đất thì toàn là những đồ vàng
bạc, trang sức cho trẻ con nh thẻ hộ mệnh, vòng khoá. Người lạ mặt bấy
giờ mới sực nhớ ra lẩm bẩm: đây là những đồ vật của trẻ con bị mụ giết đi
uống máu còn để lại, không trừ cho xong cái tệ này thì nước Đại Lý không
biết còn bao nhiêu trẻ bị hại về tay mụ nữa?
Nhắc lại Ngư nhân tung dây câu ra cuốn được thanh kiếm rồi thả xuống
trước mặt Tả Tử Mục. Tả Tử Mục đưa tay ra bắt chuôi kiếm, nét mặt vô
cùng hổ thẹn, không nói được câu nào. Ngư nhân lại quay về phía Mộc
Uyển Thanh quát to lên:
– Đoàn công tử ra sao? Có phải đúng bị Vân Trung Hạc hại rồi không?
Mộc Uyển Thanh nghĩ thầm: bọn này võ nghệ tuyệt luân mà xem ra đều là
thân hữu với Đoàn lang, chi bằng ta thuật rõ sự tình đầu đuôi để họ kéo
nhau qua đỉnh núi bên kia tìm kiếm. Nàng toan cất lời, bỗng lưng chừng
sườn núi có tiếng gọi to:
– Mộc cô nương! Mộc cô nương! nàng ở đâu? Nam Hải Ngạc Thần! tôi đã
đến đây, xin đừng giết Mộc cô nương.
Người lạ mặt cùng đồng bọn đều lộ vẻ mừng rỡ, ai nấy reo lên:
– Đoàn công tử đây rồi!
Mộc Uyển Thanh chờ chàng ròng rã bảy ngày, bảy đêm vừa mừng quá độ,
vừa giật mình kinh ngạc. Vì bị xúc động mạnh , nàng bỗng tối tăm mặt mũi
rồi ngất đi. Trong lúc mê man, chợt nghe bên tai có tiếng khẽ gọi: Mộc cô
nương! Mộc cô nương! Tỉnh lại mau!
Mộc Uyển Thanh dần dần tỉnh lại, thấy mình nằm trong lòng một người, hai
vai bị ôm chặt, muốn vùng dậy đẩy ra song vừa từ từ mở mắt trước mắt nàng
hiện ra cặp mắt trong như nước mùa thu. Chẳng phải Đoàn lang thì còn ai
vào đây nữa? Đoàn Dự cả mừng reo lên:
– A ha, nàng đã hồi tỉnh.
Mộc Uyển Thanh cầm lòng không đậu, nước mắt trào ra, giơ tay lên tát một
cái thật mạnh…

Hết Chương 12

Hết Hồi 12

================================================================

Chương 13  hồi 13

Đang đêm đột nhập phủ Trấn Nam Vương

    Tuy Mộc Uyển Thanh tát Đoàn Dự nhng nàng vẫn chịu nằm gọn trong
lòng chàng vì không còn đủ sức mạnh để vùng dậy và đẩy chàng ra.
Đoàn Dự đưa tay lên xoa má mình, cười nói:
– Động một tý là đánh người ta! Trên đời sao lại có hạng đàn bà con gái dữ
như nàng. Rồi nét mặt bỗng xám ngắt chàng hỏi:
– Nam Hải Ngạc Thần đâu rồi? Sao lão không ở đây đợi tôi?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Người ta chờ ròng rã bảy ngày, bảy đêm rồi chưa đủ hay sao? Lão mới đi
rồi.
Nét mặt Đoàn Dự lại tươi lên ngay, chàng hớn hở nói:
– Nếu vậy hay! Nếu vậy hay! Tôi những canh cánh lo âu vì lão. Nếu lão bức
bách tôi phải thờ lão làm thầy thì không biết nói sao.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Chàng không chịu làm đồ đệ lão thì còn đến đây làm gì?
– Ô kia nàng bị mắc vào tay lão, nếu tôi không đến tất lão sẽ gia hại nàng.
Tôi nỡ nào bỏ nàng cho đành?
Mộc Uyển Thanh nghe Đoàn Dự nói vậy đã thấy mát ruột nhưng vẫn chưa
hết trách móc:
– Chàng thật là kẻ vô nghi, tôi hối rằng không chém chết phứt chàng cho
rồi. Chàng làm gì mà bây giờ mới đến để người ta vừa lo lắng vừa mong hết
nước hết cái. Giờ lão bỏ đi, mới vác mặt đến rồi nói đạo đức giả. Sao ròng
rã bảy ngày bảy đêm không đến tìm tôi?
Đoàn Dự thở dài nói:
– Tôi cũng bị người ta giữ, không sao cựa ra được. Suốt ngày đêm tôi lo
lắng về nàng, lòng nóng như lửa đốt. Vừa thoát khỏi tay họ là tôi chạy đến
đây ngay lập tức. Mộc cô nương! Chỗ vết thương cô đã lành chưa? Lão độc
ác đó có ức hiếp gì cô không?
Mộc Uyển Thanh giằn dỗi hỏi:
– Tôi là thế nào với chàng mà chàng còn gọi một điều cô nương, hai điều cô
nương?
Đoàn Dự thấy nàng giận dỗi càng tăng vẻ kiều diễm, lại biết rằng trong bảy
ngày qua nàng đã trải bao nỗi nhớ nhung, đau khổ liền ôm ghì lấy vai nàng
nói:
– Uyển Thanh, Uyển Thanh mình ơi! tôi gọi mình vậy mình đã vừa lòng
chưa?
Đoàn Dự nói rồi cúi đầu xuống, toan ghé miệng hôn vào môi Mộc Uyển
Thanh. Nàng buột miệng kêu lên:
– Ô hay!
Rồi vì thẹn quá mặt đỏ như gấc chín, nàng ngồi bật dậy như cái lò xo, bực
mình nói:
– Chàng làm gì mà kỳ vậy? Không sợ những người chung quanh cười cho
sao?
Nàng ngó nhìn bốn phía thì chẳng thấy tông tích người mặc áo rộng thùng
thình cùng bọn Ngư, Tiều, Canh, Độc đâu cả. Đoàn Dự không hiểu nàng
ngó gì, đâm ra chột dạ, vẻ lo sợ lộ ra mặt, vội bảo:
– Mình ngó ai vậy? Có phải Nam Hải Ngạc Thần không?
Mộc Uyển Thanh không đáp hỏi lại:
– Chàng đến đã lâu chưa?
Đoàn Dự đáp:
– Mới có một lúc. Lên tới đây thì nàng ngã lăn, ngất đi. Ngoài ra chẳng thấy
một ai. Mộc Uyển Thanh mình ơi! Chúng ta phải đi ngay, nếu để Nam Hải
Ngạc Thần trở lại thì nguy to.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Phải đó!
Nàng lẩm bẩm: quái lạ thật! Mới trong khoảnh khắc mà họ đi đâu cả rồi?
Bất thình lình nghe phía sau tảng đá lớn có tiếng ngâm thơ:
Ngàn dặm tuốt gươm trần
Kể gì một tấm thân
Đã qua chơi đất Nguỵ
Không thụ Tín Lăng Quân
Ngâm xong, một người tay cầm quạt, tay cầm cuốn sách đi ra. Chính gã là
thư sinh lúc nãy.
Đoàn Dự vừa trông thấy cả mừng reo lên:
– Chu huynh!
Gã thư sinh bỏ sách cùng quạt vào bọc tiến lại vái dài, vui mừng nói:
– Thưa công tử! Công tử được vô sự thật là đại hạnh. Vừa nãy cô nương đây
bảo công tử bị hại về tay bọn tứ ác làm chúng tôi sợ hãi rụng rời.
Đoàn Dự ngượng ngùng hỏi:
– Vậy ra các ngươi trông… thấy ta cả rồi ? Các ngươi đến đây… làm chi?
Không hẹn mà gặp thật là may quá!
Thư sinh mỉm cười đáp:
– Bốn anh em tôi vâng mệnh đi đón công tử về phủ chứ có phải tự nhiên mà
gặp đâu. Công tử thật là gan liều tướng quân, một thân một mình mà dám
dấn thân vào chốn giang hồ. Bọn tôi đến hỏi nhà Mã Ngũ Đức, rồi sang núi
Vô Lượng, mấy bữa nay ai nấy đều lo ngay ngáy.
Đoàn Dự cười nói:
– Ta cũng gặp không biết bao nỗi gian khổ, chắc bá phụ cùng gia gia giận ta
lắm phải không?
Thư sinh đáp:
– Dĩ nhiên là các vị lão gia rất buồn phiền. Chúng tôi ra đi rồi chắc hai vị
lão gia nóng ruột lắm. Sau Thiện Xiển Bần được tin bốn tên đại ác đã vào
địa phận nước Đại Lý, e rằng công tử chạm trán với bọn này, chính người
phải thân hành đi kiếm công tử đó.
Đoàn Dự nhíu đôi lông mày hỏi:
– Bốn tên đại ác nào? Cao thúc thúc cũng đi kiếm ta ? Ta thật áy náy vô
cùng, các người kia đâu cả rồi?
Thư sinh đáp:
– Cao bần lão gia đang đánh nhau với ác phụ, khi nghe tiếng công tử ai nấy
mới yên dạ. Tôi được lệnh ở lại chầu chực công tử, còn mọi người rượt theo
ác phụ. Bây giờ xin công tử về thành kẻo hai vị lão gia nóng ruột.
Đoàn Dự hỏi:
– Thế ra có mình Chu huynh ở đây thôi hả?
Chàng tưởng đến lúc mình cùng Mộc Uyển Thanh thủ thỉ với nhau gã biết
cả rồi, bất giác thẹn đỏ mặt lên.
Gã thư sinh đánh trống lảng:
– Vừa rồi tôi ngồi sau tảng đá đọc bài thơ ngũ ngôn của Vương Xương Linh,
vẻn vẹn có hai mươi chữ mà tỏ được hết lòng khảng khái, ai nghe cũng phải
kính phục.
Nói rồi gã lấy trong bọc ra cuốn “Vương Xương Linh tập” đưa cho Đoàn
Dự. Đoàn Dự nói:
– Phải rồi! Vương Xương Linh sở trường về thơ thất ngôn, còn về thơ ngũ
ngôn Vương cũng thường thôi, nhưng bài ngũ ngôn vừa rồi kể ra hay thật.
Đoàn Dự cao hứng cũng ngâm rằng:
Sông Hoài quanh trước mặt
ánh nguyệt rọi bên mình
Dám nghĩ tình tân chủ
Đôi phen nghĩa đệ huynh
Thư sinh nghe đoạn vái dài tận đất nói:
– Đa tạ lòng công tử.
Câu chuyện giữa Đoàn Dự cùng Mộc Uyển Thanh tha thiết yêu nhau gã thư
sinh đều nghe rõ hết. Hai bên quyến luyến, không nỡ rời nhau, lại thấy
chàng ra chiều bẽn lẽn nên gã ngâm bài thơ của Vương Xương Linh để gỡ
thẹn cho chàng. Câu “đã qua chơi đất Nguỵ” để dẫn tích Hầu Doanh cùng
Chu Hợi đối với Tín Lăng Quân. Bài thơ gã ngâm ngụ ý dù có phải nát thân
để báo đáp công tử gã cũng vui lòng. Bài thơ của Đoàn Dự thì tỏ ý chủ nhân
hậu đãi kẻ thuộc hạ như tình cốt nhục. Hai người nhìn nhau mà cười ra
chiều rất tương đắc. Còn Mộc Uyển Thanh chẳng hiểu gì về thơ văn, nghĩ
thầm: Mấy anh đồ gàn toẹt này đã bàn luận đến thơ văn thì không còn biết
trời đất gì nữa, quên cả mình đang ngồi trong hang cọp.
Đoàn Dự quay lại bảo Mộc Uyển Thanh:
– Mộc… Mộc cô nương! vị này là Chu Đan Thần tức Chu Tứ ca một người
bạn rất thân với tôi đó.
Chu Đan Thần bước lên kính cẩn thi lễ:
– Chu Đan Thần xin bái yết cô nương.
Mộc Uyển Thanh thấy gã coi mình có vẻ trân trọng, cũng thấy thỏa dạ, liền
đáp lễ rồi tươi cười hỏi:
– Chu tứ ca! Tứ ca thật là người ôn tồn hoà nhã mà sao mấy ông bạn kia coi
có vẻ hung dữ thế?
Chu Đan Thần tươi cười đáp:
– Ba vị ca ca tôi nóng lòng vì cha được tin tức của Đoàn công tử nên có
điều thất thố, xin cô nương miễn trách.
Gã nghĩ thầm: vài năm nay, tiếng Hương Dược Xoa độc ác đồn đại khắp
nơi, ai ngờ nàng là một trang sắc nước hương trời. Đoàn công tử hãy còn ít
tuổi, chưa hiểu khách giang hồ đều chán ghét nàng cả. Nay chàng bị mỹ sắc
mê hoặc có khi nguy hại đến thanh danh. Tuy nghĩ vậy nhưng gã là người
rất ý tứ, đối với Mộc Uyển Thanh gã chỉ đề phòng một cách kín đáo, tuyệt
không lộ tý gì ra sắc mặt, gã cười hể hả nói:
– Hai vị lão gia ở nhà nóng lòng mong đợi công tử. Công tử còn chờ gì mà
chưa động thân về thành? Mộc cô nương! nếu không có việc gì gấp, xin mời
về phủ công tử chơi mấy bữa.
Gã tự lượng sức mình không địch nổi Mộc Uyển Thanh, vả gã mời Mộc
Uyển Thanh cùng đi Đoàn Dự tất vui lòng. Gã đã tưởng thế là đắc sách, nào
ngờ Đoàn Dự vẫn tỏ vẻ ngần ngại đáp:
– Ta… ta biết về trình lại với bá phụ cùng gia gia ta thế nào đây?
Mộc Uyển Thanh thì thẹn đỏ mặt lên quay đi chỗ khác. Chu Đan Thần lại
nói:
– Tại hạ nghe nói Tứ ác võ công tuyệt cao, vừa rồi Thiện Xiển Hầu đánh
đuổi được Diệp Nhị Nương là bởi tấn công bất ngờ và cũng có điều may
mắn mới thắng được mụ. Công tử thân trọng thiên kim, chẳng nên dấn mình
vào nơi hiểm địa nữa. Chúng ta về thôi!
Đoàn Dự tưởng đến Nam Hải Ngạc Thần hung dữ lại sợ hãi vô cùng, trời
không rét mà chàng run lên cầm cập, gật đầu nói:
– Phải đó! Chúng ta lên đường thôi! Chu tứ ca! Kẻ địch ghê gớm lắm! Tứ ca
đi giúp cho Cao thúc thúc một tay, để ta cùng Mộc cô nương về phủ là được
rồi!
Chu Đan Thần cười nói:
– Như thế không được! Tìm thấy công tử đâu phải là chuyện dễ dàng? Tại
hạ xin đưa công tử về phủ. Đã đành rằng Mộc cô nương võ công trác tuyệt,
tại hạ xiết bao ngưỡng mộ, song xem khí sắc tựa hồ vết thương cô nương
chưa được bình phục. Vạn nhất dọc đường gặp phải cường đồ thì nguy hiểm
biết mấy? Xin cho tại hạ được lập chút công nhỏ mọn dường dây tơ sợi tóc.
Mộc Uyển Thanh đằng hắng rồi nói:
– Tứ ca có bảo gì tôi xin đừng nói văn chương, chữ nghĩa. Tôi chỉ là cô gái
quê mùa, không được học hành, tôi chả hiểu gì mấy về những lời văn vẻ
quá.
Chu Đan Thần cười đáp:
– Quả thế! Tại hạ quen mất nết rồi. Xin cô nương miễn trách.
Đoàn Dự không muốn về nhà nhưng chết nỗi Chu Đan Thần đã gặp rồi,
không về không được, chỉ còn cách là đang đi giữa đường sẽ tìm kế thoát
thân.
Ba người cùng đi xuống núi. Mộc Uyển Thanh chỉ lăm le muốn hỏi cho ra
chuyện bảy ngày bảy đêm vừa rồi Đoàn Dự đi đâu mà không đến với nàng.
Nhưng bị Chu Đan Thần lúc nào cũng đi sát bên cạnh, chưa tiện dịp gạn
hỏi, phải cố nín nhịn. Chu Đan Thần có đem lương khô bên mình, lấy ra
đưa cho hai người ăn. Ba người xuống đến chân núi lại đi thêm vài dặm nữa,
thấy bên đường có năm con ngựa buộc sẵn dưới gốc cây. Những ngựa này
do bọn Thái Tân Khách cưỡi đến đây trước. Chu Đan Thần lại cởi lấy ba
con, giắt đưa cho Đoàn Dự cùng Mộc Uyển Thanh mỗi người một con. Hai
người nhảy lên yên đi rồi, gã mới lên ngựa đi sau. Tối hôm ấy ba người vào
nghỉ trong quán trọ, mỗi người ở riêng một phòng. Mộc Uyển Thanh cài
cửa phòng rồi tay chống cằm, ngồi trước một cái bàn, trên bàn có thắp một
cây nến đỏ. Lòng nàng nửa mừng, nửa lo, những làm sóng tư tưởng cuồn
cuộn luân lưu nổi lên hạ xuống. Nàng nghĩ: Đoàn lang chẳng nề lao khổ trở
lại tìm ta đủ rõ tình ý chàng đối với ta cực kỳ thâm trọng. Vậy mà mấy bữa
nay ta cứ ngấm ngầm oán trách oan chàng là người tệ bạc, thật là một lỗi
lầm rất lớn. Lại xem Chu Đan Thần đối với chàng vô cùng kính cẩn, thì hẳn
chàng chẳng con nhà phú quý cũng là dòng dõi gia thế trong võ lâm. Ta là
một cô gái đương xuân, tuy cùng chàng đính ước hôn nhân nhưng cứ tự
nhiên theo về nhà chàng thế nào được? Ôi thật là rắc rối. Dường như cha,
bác chàng đối với chàng rất là khắc nghiệt, nếu họ khinh bỉ hoặc vô lễ với ta
thì biết làm thế nào? Thôi ta cũng đành phóng cho mỗi người một mũi tên,
giết ráo cả đi, chỉ để mình chàng là xong.
Mộc Uyển Thanh đang nghĩ đến giai đoạn gay go chợt nghe ngoài cửa sổ có
tiếng gõ nhè nhẹ. Nàng tắt phụt cây nến đi thì nghe rõ tiếng Đoàn Dự nói:
– Tôi đây mà!
Mộc Uyển Thanh thấy canh khuya chàng lẻn đến phòng riêng mình gọi cửa
bất giác trái tim đập dồn dập, mặt nóng bừng bừng khẽ hỏi:
– Có chuyện chi đó?
Đoàn Dự đáp:
– Mình mở cửa sổ, tôi nói cho mà nghe.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi không mở…
Nàng cảm thấy con người toàn thân võ nghệ như mình mà lúc này phải sợ
hãi một gã thư sinh yếu ớt cảm thấy tự thẹn cho mình. Bên ngoài Đoàn Dự
không hiểu tại sao nàng không chịu mở cửa sổ, liền nói vọng vào:
– Vậy thì mình ra đây! Ta chuồn đi thôi!
Mộc Uyển Thanh rất lấy làm kỳ, lấy ngón tay chọc thủng miếng giấy che
cửa sổ hỏi:
– Có chuyện chi mà phải đi bây giờ?
Đoàn Dự đáp:
– Chu tứ ca ngủ say rồi, đừng náo động cho y thức giấc, tôi cùng mình lén
đi thôi! tôi không muốn về nhà.
Mộc Uyển Thanh mừng rơn. Nàng chỉ băn khoăn chuyện đối phó với cha
mẹ chàng, thấy chàng không muốn về nhà thì rất biểu đồng tình liền mở cửa
sổ nhẹ nhàng nhảy ra.
Đoàn Dự khẽ bảo nàng:
– Tôi đi dắt ngựa đây.
Mộc Uyển Thanh ra hiệu bảo đừng, rồi thò tay nắm lấy lưng chàng, đề khí
nhảy vọt lên mặt tường, tiện đà lẹ làng nhảy ra bên ngoài tường, nói khẽ bảo
Đoàn Dự:
– Đừng đi ngựa vì vó ngựa lốp bốp, Chu tứ ca sẽ biết mất.
Đoàn Dự nói:
– Nàng thật là người chu đáo!
Hai người giắt tay nhau trông về hướng đông mà đi. Đi được mấy dặm vẫn
không thấy có người đuổi theo, đã hơi vững dạ, Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Sao chàng lại không muốn về nhà?
Đoàn Dự đáp:
– Tôi về bây giờ chắc sẽ bị gia gia cùng bá phụ giữ chịt không cho ra khỏi
nhà nửa bước. Dù có muốn được thấy mặt mình một lần cũng không phải là
chuyện dễ.
Mộc Uyển Thanh khoan khoái vô cùng, hớn hở bảo chàng:
– Chàng tính vậy cũng phải. Không về nữa là xong. Từ đây đôi ta vùng vẫy
giang hồ, sống một đời tiêu dao tự tại, há chẳng vui sướng ru? Nhưng chúng
ta về đâu bây giờ?
Đoàn Dự nói:
– Điều thứ nhất là tìm đường nào để Cao thúc thúc và Chu Đan Thần không
biết đâu mà đuổi theo, hai là đừng để Nam Hải Ngạc Thần bắt gặp.
Mộc Uyển Thanh gật đầu khen phải nói:
– Chúng ta đi về ngả Tây Bắc tìm một nhà nào đó tạm lánh ít lâu. Chừng
mươi lăm ngày chờ cho vết thương tôi lành hẳn khi ấy sẽ không sợ gì nữa.
Hai người rảo bước nhằm hướng tây bắc mà đi. Trên đường không dám
dừng lại trò chuyện lúc nào, chỉ mong chóng ra khỏi khu vực núi Vô Lượng
càng xa càng hay.
Đi đến lúc trời sáng Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi rất nhiều kẻ thù, ban ngày đi bị họ dòm ngó không tiện, ta tìm chỗ trọ
ăn uống rồi ngủ một giấc, đến tối lại ra đi.
Đoàn Dự không hiểu gì về đường lối giang hồ nói:
– Chủ ý mình định thế nào tôi cũng theo như vậy.
Mộc Uyển Thanh nói:
– ăn cơm rồi chàng phải kể cho tôi hay bảy ngày, bảy đêm vừa qua chàng
lọt vào đâu? Nếu nói dối nửa lời thì đừng có trách! Liệu hồn đó!
Chưa dứt lời, bất thình lình có tiếng đằng hắng, hai người vội trông về phía
trước thấy dưới gốc liễu đã có ba con ngựa buộc sẵn tại đó. Một người ngồi
trên phiến đá, tay cầm quyển sách đang gật gù ngâm nga. Chính là Chu Đan
Thần.
Đoàn Dự cả kinh dắt tay Mộc Uyển Thanh kéo đi nói:
– Chạy mau! Hắn kia rồi!
Nhưng Mộc Uyển Thanh là người sáng suốt hiểu rõ rằng: đêm rồi hai người
lén ra đi Chu Đan Thần đã biết cả rồi. Y liệu chừng Đoàn Dự không có môn
khinh công cố nhiên đi không được mau lẹ. Y chỉ cần nhìn xem mình rẽ về
ngả nào rồi lên ngựa đi quanh nẻo khác đến đây đón trước. Nàng liền chau
mày bảo Đoàn Dự:
– Ông ngốc ơi! Đành để y bắt gặp còn trốn đâu được nữa.
Rồi tiến lên trước, tươi cười hỏi Chu Đan Thần:
– Còn sớm thế mà Tứ ca đã ra đây ngồi đọc sách rồi, khoái lắm nhỉ?
Chu Đan Thần tươi cười, gật đầu rồi quay sang hỏi Đoàn Dự:
– Công tử thử đoán xem tôi đọc bài thơ này của ai nhé.
Đoạn gã cất cao giọng ngâm:
Chim kêu, vượn hót canh trường,
Xa xăm dặm khách bàng hoàng hồn mai.
Mang danh quốc sĩ với đời,
Dẫu trong gian hiểm dám phai tấc lòng?
Đoàn Dự đáp:
– Phải chăng đó là bài “Thuật hoài” của Nguỵ Trưng đời Đường?
Chu Đan Thần cười đáp:
– Công tử thật là người học rộng nhớ nhiều, tôi xin bái phục.
Đoàn Dự biết y dẫn bài thơ này dụng ý: nửa đêm y không ngại gian nan, ra
đi truy tầm mình, vì đã chịu ơn gia gia cùng bá phụ mình nên không dám
quên lời phó thác.
Mộc Uyển Thanh lại cởi dây buộc ngựa ra, miệng hỏi:
– Đi về Đại Lý đường nào nhỉ? Chúng ta đi có trúng không?
Chu Đan Thần đáp:
– Muốn đi ngả nào cũng không sao. Qua mé tây cũng được mà qua mé đông
rồi cũng về tới Đại Lý cả.
Hôm qua gã nhường con ngựa chạy nhanh nhất cho Đoàn Dự, nay gã tự
mình giữ lấy con ngựa tốt này để phòng hai người có trốn gã còn đuổi kịp.
Đoàn Dự nhẩy phốc lên yên, nhằm hướng đông gia roi. Chu Đan Thần sợ
Đoàn Dự có ý không bằng lòng mình chăng. Có lúc gã đi sát bên chàng, có
lúc lại đi sau một quãng xa để chàng được thoải mái được trò chuyện với
Mộc Uyển Thanh. Lúc nào gã đi bên chàng thì đem văn thơ ra bàn luận rất
là vui vẻ. Mộc Uyển Thanh thấy hai người nói chuyện văn chương thì nàng
cứ lầm lỳ chẳng nói chẳng rằng. Đi chưa bao lâu đã ra đến đường lớn. Ba
người đi đến giữa trưa thì gặp bên đường một quán ăn nhỏ liền vào ngồi
nghỉ ăn cơm. Chợt thấy ngoài cửa thoáng có bóng người rồi từ ngoài cửa
bước vào một gã đàn ông cao lêu nghêu, gầy khẳng gầy kheo. Y vừa ngồi
xuống đã quát tháo:
– Lấy đem đây một bình rượu ngon và hai cân thịt bò chín cho mau!
Mộc Uyển Thanh không cần nhìn mặt chỉ nghe tiếng the thé chói tai cũng
đủ biết y là Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc rồi. May nàng ngồi quay mặt
vào phía trong nên hắn chưa trông thấy. Nàng chấm ngón tay vào bát nước
canh, viết lên mặt bàn bốn chữ: “Người ác thứ tư”. Chu Đan Thần liền viết
“Đi ngay đi đừng chờ tôi nữa!”. Mộc Uyển Thanh liền kéo áo Đoàn Dự
chạy vào phía trong quán.
Vân Trung Hạc ngồi đăm đăm nhìn ra đường, tựa hồ đang chờ đón ai.
Nhưng tâm linh y cực kỳ vi diệu, thoáng nghe phía sau có tiếng chân người,
quay đầu nhìn lại thấy Mộc Uyển Thanh đang đi khuất vào sau bức vách
liền quát hỏi:
– Ai? Đứng lại ngay!
Hắn đứng dậy đuổi theo, quờ cánh tay dài ra toan túm lấy sau lưng Mộc
Uyển Thanh.
Chu Đan Thần tay cầm bát canh miến kêu lên: “ối chao”, giả vờ lỡ tay cho
bát canh vừa nóng sôi đổ vào mặt Vân Trung Hạc. Hai người đứng liền
nhau, Chu Đan Thần đã nhanh tay mà Vân Trung Hạc không ngờ gã thư
sinh đột nhiên ám toán. Lại vì quán chật chội quá không lùi kịp, y mới xoay
đợc nửa mình bát canh sôi đã đổ vào mặt y một nửa còn một nửa đổ chan
hoà vào người y. Y hoa mắt lên một cái rồi nổi hung đa tay ra toan móc
vào bụng Chu Đan Thần. Nhưng Chu cũng không vừa, bát canh vừa rớt
xuống, tiện tay bưng cả bàn ăn lên, hất về phía Vân Trung Hạc. Năm ngón
tay Vân Trung Hạc vừa chạm mặt bàn, một luồng gió cực mạnh quạt bát đĩa
bật trở lại kêu loảng choảng. May mà y là một tay võ nghệ ghê gớm, vận
kịp nội công chống lại, hất bát đĩa ra nên không bị thương gì cả, mà chỉ bị
bao nhiêu nước canh đổ đầy vào người.
Ngoài cửa quán tiếng vó câu dồn dập, hai người (Mộc Uyển Thanh và Đoàn
Dự) phóng ngựa chạy về phía Bắc. Vân Trung Hạc giơ tay áo lên lau mặt,
bỗng thấy một luồng hơi mạnh lùa vào bụng, một vật đâm thẳng tới trước
ngực. Y liền hít mạnh một hơi thở, ngực hóp vào nửa thước tránh khỏi, giơ
hai ngón tay trái lên không kẹp được cây quạt. Cây quạt của Chu Đan Thần
đánh bằng thép nguyên chất, nó là một thứ khí giới gã tập luyện từ thuở
nhỏ, phóng ra thu về vùn vụt nhanh như gió. Gã biết Vân Trung Hạc mau lẹ
dị thường nhưng muốn nhân lúc y đang lóng ngóng, may ra đanh trúng y
được một đòn chăng. Nào ngờ chẳng những y tránh được lại còn chĩa hai
ngón tay lên cặp mất cây quạt quý báu. Chu Đan Thần cả kinh vội vận nội
công cướp lại. Kể về nội lực thì Chu còn kém y nhiều, không thể đoạt lại
nổi nhưng may mà tay y còn đẫm nước canh, trơn quá nắm không được chặt
nên Chu Đan Thần giật lại được.
Sau mấy đòn vừa qua Chu Đan Thần biết mình gặp phải một địch thủ ghê
gớm, gã lên tiếng gọi to:
– Xin nhị vị ca ca Phủ Tiên Điếu cùng Thái Tân Khách mau mau chẹn các
ngả, đừng để thằng cha cao nghệu hôm trước chạy thoát.
Sở dĩ Chu Đan Thần gọi lên như thế vì đã được nghe chuyện hôm trước hai
người này hợp lực lại đánh Vân Trung Hạc và đã thắng nổi y. Đó chỉ là
cách Chu Đan Thần hư trương thanh thế để doạ bên địch. Quả nhiên Vân
Trung Hạc tưởng thật, lẩm bẩm: “Hỏng bét! Chúng còn hai tên mai phục ở
ngoài. Bữa trước mới có hai tên đó thôi mình còn chịu thua, nay lại có
những ba thì mình địch sao cho nổi?”. Nghĩ vậy y không dám ham đánh,
xông vào phía sau quán, vợt tường chạy mất.
Chu Đan Thần gọi to:
– Gã cao nghệu chạy ra phía sau, chúng ta mau mau đuổi bắt!
Đoạn Chu ra cửa quán, lên ngựa đuổi theo Đoàn Dự. Đoàn Dự cùng Mộc
Uyển Thanh chạy được mấy dặm rồi lỏng buông tay khấu cho ngựa đi thong
thả. Lát sau Chu Đan Thần gần tới nơi, hai người dừng ngựa lại toan hỏi
chuyện vừa xẩy ra, bỗng Mộc Uyển Thanh lại kêu lên:
– Nguy mất! Y lại đuổi theo kia rồi!
Trên đường cái, gã cao nghệu đang lắc lư đuổi tới. Chu Đan Thần cả kinh
nói:
– Thằng cha này khinh công ghê quá.
Gã cầm roi quất vào mông ngựa Đoàn Dự, cả ba con, mười hai vó phi nước
đại, cát bụi tung trời. Chỉ trong chớp mắt, bỏ Vân Trung Hạc một quãng xa.
Chạy như vậy thêm được sáu bảy dặm nữa, con ngựa Mộc Uyển Thanh cưỡi
thở dốc lên từng cơn, đánh phải dừng lại một chút cho nó nghỉ xả hơi. Vân
Trung Hạc đuổi gần thêm được một quãng. Tuy y chạy không nhanh bằng
ngựa nhưng dai sức, chạy lâu không mệt. Chu Đan Thần biết rằng mưu lừa
của mình đã bị Vân Trung Hạc khám phá mất rồi, bây giờ có muốn bịp y
cũng không được nữa. Tính ra còn đến hai mươi dặm đường, sao cho y
không đuổi kịp mới yên. Một khi đã vào thành Đại Lý rồi thì dù việc to tày
trời cũng không có gì đáng ngại nữa.
Ba con ngựa chạy mỗi lúc một chậm thêm, tình thế mỗi lúc một nguy ngập.
Đi được vài dặm nữa, con ngựa của Đoàn Dự bỗng khuỵu hai chân trước,
hất chàng tuột dần xuống. Mộc Uyển Thanh phi thân, nhảy ra khỏi yên
ngựa mình. Đoàn Dự chưa lăn tới đất nàng đã túm được sau lưng thì vừa lúc
con ngựa của nàng chạy tới nơi. Tay trái nàng giữ yên rồi xách cả Đoàn Dự
nhảy phốc lên.
Chu Đan Thần tuy ác cảm với nàng nhưng thấy Đoàn Dự từ trên lưng ngựa
tuột xuống mà mình còn mắc ngăn trở kẻ địch ở đằng sau, chưa kịp lại cứu,
được Mộc Uyển Thanh ra tay kịp thời, bất giác buột miệng khen:
– Phi thân như thế thật tuyệt!
Vừa dứa lời, chợt sau gáy có luồng gió thổi đến, một thứ binh khí bổ xuống.
Chu Đan Thần vung quạt lên đỡ đánh chát một tiếng, cây cương trảo của
Vân Trung Hạc bị hất ra. Thuận tay y đưa năm ngón cương trảo chụp xuống
mông ngựa, máu chảy đầm đìa. Ngựa bị thương đau quá, hí vang một tiếng
bi thảm rồi chạy lồng lên lại bỏ Vân Trung Hạc một quãng khá xa.
Nhưng từ lúc đó, một ngựa cõng hai người, một bị thương không còn cách
nào duy trì lâu được nữa. Chu Đan Thần cùng Mộc Uyển Thanh rất đỗi bồn
chồn, còn Đoàn Dự chưa rõ sự thể nguy cấp hỏi:
– Uyển Thanh mình ơi! thằng cha đó ghê gớm lắm phải không? Chẳng lẽ
Chu tứ ca không địch nổi nó?
Mộc Uyển Thanh lắc đầu đáp:
– Cả tôi hợp lực nữa cũng không ăn thua.
Rồi nàng chợt nghĩ ra một kế nói:
– Tôi giả vờ ngã ngựa bị thương nằm xuống bên đường, chờ y đến nơi,
không kịp đề phòng sẽ phóng ra hai mũi tên độc hay nhiều hơn, may ra hạ
được y. Chàng cứ cưỡi ngựa chạy dài đừng chờ tôi nghe.
Đoàn Dự hoảng quá, quờ tay lại đằng sau, tay trái giữ đầu, tay phải ôm lưng
nàng nói luôn:
– Không được! Không được! Tôi không bằng lòng cho mình mạo hiểm thế
đâu.
Mộc Uyển Thanh thẹn quá, mặt đỏ bừng lên, vùng vằng bảo:
– Chàng ngốc! Buông người ta ra! Để Tứ ca trông thấy coi sao cho tiện?
Đoàn Dự giật mình hỏi:
– Mình giận tôi đấy ? Đừng giận nữa mà!
Mộc Uyển Thanh nói:
– Đã là vợ chồng tôi giận chàng làm gì?
Hai người nhìn về phía sau thấy Vân Trung Hạc đang ngất ngưởng đuổi tới.
Đoàn Dự liếc nhìn Mộc Uyển Thanh thấy nàng mày liễu ủ dột, nét mặt lo
buồn thì chàng ruột rối tơ vò, cầm lòng không đậu. Đằng sau Chu Đan Thần
không ngớt vẫy tay ra hiệu bảo chạy mau đi, gã đã xuống ngựa cầm cây
quạt đứng chặn đường. Chẳng ngờ Vân Trung Hạc chỉ cố tình bắt Mộc
Uyển Thanh, y rẽ xuống ruộng tránh Chu Đan Thần rồi cứ nhằm Đoàn Dự,
Mộc Uyển Thanh mà đuổi. Mộc Uyển Thanh gia roi quất mạnh vào hông
ngựa, con vật mệt quá miệng nhả bọt rãi ra trắng hếu, hơi thở phì phì. Đoàn
Dự nói:
– Uyển Thanh mình ơi! Giả tỷ lúc này ta có con Hắc Mai Côi thì tên ác
nhân kia không tài nào đuổi kịp.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Ai không biết thế? Cần chi chàng phải nói?
Ngựa lượn qua sườn núi thì đến một con đường lớn thẳng tắp và quang quẻ,
chả còn chỗ nào ẩn nấp được nữa. Chỉ có về mé tay trái, giữa một rặng liễu
xanh um, bên cạnh cái hồ nhỏ lộ ra bức tường vàng.
Đoàn Dự cả mừng nói:
– Chúng ta vào trong kia!
Mộc Uyển Thanh nói:
– Đó là đất chết! Vào đó cùng đường rồi chạy đi đâu?
Đoàn Dự nói:
– Mình cứ nghe tôi! tôi nói không sai đâu mà!
Mộc Uyển Thanh giật cương cho ngựa chạy rẽ vào. Chạy gần đến nơi, nàng
ngoảnh đầu lên nhìn thì đó là một ngôi chùa hay một đạo viện, trên biển có
đề ba chữ: “THANH HOA QUáN”. Nàng hoảng hồn than thầm: chàng
ngốc này bảo mình chạy vào đây, trước mặt quả là cùng đường biết làm thế
nào? Thôi ta đành nấp vào trong kia, bắn ngầm Vân Trung Hạc một phát rồi
ra sao thì ra. Vừa tính toán xong ngựa đã đến trước cửa chùa. Phía sau bỗng
một chuỗi cười ha hả nổi lên, nghe rõ tiếng Vân Trung Hạc đuổi tới nơi.
Con ngựa tung Mộc Uyển Thanh cùng Đoàn Dự nẩy lên. Nó hý một tiếng
dài rồi đứng sững lại một cách đột ngột, phía trước mắc tường chùa không
còn đường chạy.
Mộc Uyển Thanh thấy sau lưng mát lạnh, quay đầu nhìn lại thì Vân Trung
Hạc đã túm được khấu đuôi ngựa. Thần lực y ghê gớm quá, y chỉ nắm khấu
đuôi mà toàn thân ngựa bị cứng đờ, không nhúc nhích được nữa. Đoàn Dự
bỗng cất tiếng gọi thật to:
– Má má ơi! Má ra đây mau mau! Má má ơi!
Mộc Uyển Thanh tức quá hét lên:
– Đồ ngốc! Câm mồm ngay!
Vân Trung Hạc cười ha hả nói:
– Mi gọi cả ba má mi ra đây cũng không làm gì được nữa đâu.
Mộc Uyển Thanh vẫy tay phải, một mũi tên phóng về phía sau. Vân Trung
Hạc rụt cổ lại tránh khỏi, gã thấy Mộc Uyển Thanh xuống ngựa, tay trái
vung cây cương trảo ra toan chụp lấy vai nàng. Mộc Uyển Thanh cơ linh
mau lẹ, co người lại một cái đã chui ngay vào gầm bụng ngựa. Vân Trung
Hạc buông đuôi ngựa ra, định thò tay nắm lấy Mộc Uyển Thanh. Bất thình
lình một người đạo cô trong chùa chạy ra. Vị đạo cô này tuy đã đứng tuổi
mà nhan sắc xinh tươi chẳng khác gì cô gái đương xuân, tay phải cầm cây
phất trần, miệng tươi như hoa nở.
Đạo cô đưa tay ra dắt Đoàn Dự lại bên mình, vừa cười vừa hỏi:
– Lại gây chuyện chi rắc rồi mà gọi ầm lên thế?
Mộc Uyển Thanh thấy đạo cô xinh đẹp mà đối với Đoàn Dự ra vẻ thân mật
còn Đoàn Dự quàng tay ôm lấy lưng mụ miệng cười toe toét bất giác nổi
cơn tam bành, không nhớ gì đến kẻ địch lợi hại ở sau lưng nữa, nhảy xổ vào
chìa tay ra toan tát vào mặt đạo cô. Nàng gầm lên:
– Mi là người thế nào với chàng?
Đoàn Dự vội la lên:
– Mộc Uyển Thanh! Không được vô lễ.
Mộc Uyển Thanh thấy chàng bênh đạo cô, máu ghen đưa lên tận cổ, chân
chưa chấm đất nàng vận thêm nội lực vào tay định để tát cho thật mạnh.
Đạo cô giơ phất trần ra, đuôi phất trần tung lên rồi sa xuống quấn lấy tay
Mộc Uyển Thanh, kéo sang một bên. Mộc Uyển Thanh thấy cây phất trần
có một mãnh lực rất kỳ dị: lông đuôi nó mềm như tơ, tuyệt không có chi
cứng mạnh vậy mà nàng đành chịu thua không còn tự chủ được nữa. Nàng
căm tức muốn lồng lên, cả tiếng mắng:
– Mi là kẻ tu hành còn ôm lấy trai sao không biết nhục?
Vân Trung Hạc lúc mới thấy đạo cô dung nhan yểu điệu bước ra khoái quá
lẩm bẩm: Vân Trung Hạc này hôm nay sao mà vận đỏ thế? Một phát bắn
trúng đôi điêu, làm mình phải ẵm cả cặp đi một chuyến”. Nhưng đến khi
thấy đạo cô vung phất trần một cách hời hợt để bắt Mộc Uyển Thanh mà
nàng đành chịu ép một bề thì biết ngay là một tay đáo để. Y nhảy tót lên
lưng ngựa coi chừng chứ chưa động thủ. Đạo cô cả giận quát hỏi Mộc Uyển
Thanh:
– Tiểu cô nương! Cô nói lăng nhăng gì thế? Cô là ai?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Ta là vợ Đoàn lang, mi có buông ngay chàng ra không?
Đạo cô đứng ngẩn người ra một lát, rồi béo tai Đoàn Dự, vừa cười vừa hỏi:
– Cô ta nói có đúng không?
Đoàn Dự cười nói nước đôi:
– Không đúng mà cũng không sai.
Đạo cô beo má chàng một cái thật mạnh, cười mà mắng rằng:
– Con nhà chẳng học được chút võ công nào của cha mà tính trăng hoa thì
chẳng kém gì cha. Ta phải đánh què mới xong.
Bà nói rồi đưa mắt ngắm nghía Mộc Uyển Thanh từ đầu xuống đến gót
chân, nói:
– à đẹp thì đẹp lắm rồi nhưng có vẻ quê mùa, phải giáo hoá mới nên người
được.
Mộc Uyển Thanh cả giận nói:
– Ta quê mùa hay không quê mùa thì việc gì đến mi? Mi không buông
chàng ra thì ta bắn cho bây giờ.
Đạo cô cười nói:
– Ngươi thử bắn ta coi!
Đoàn Dự vội la lên:
– Bớ Uyển Thanh! Không được hỗn láo! Mình không biết ai đó ?
Chàng nói rồi đưa tay lên ôm lấy đầu đạo cô. Mộc Uyển Thanh trông thấy
uất lên không nhịn được nữa, phất tay áo một cái, hai mũi tên vun vút bay
ra. Đạo cô đang tươi cười trông thấy hai mũi tên độc bắn tới, bỗng nhiên
biến sắc, vung cây phất trần, những sợi tơ dường như có sức hút quấn cả lấy
hai mũi tên. Đạo cô quát hỏi:
– Tu la đao Tần Hồng Miên với mi là người thế nào?
Mộc Uyển Thanh lắc đầu đáp:
– Ta chẳng biết Tu la đao Tần Hồng Miên là cái cóc gì.
Đoàn Dự thấy đạo cô nét mặt sa sầm vội khuyên can:
– Má ơi! Xin má đừng giận mà!
Mộc Uyển Thanh thoáng nghe lời chàng giật mình, tưởng mình nhãng tai
hỏi lại:
– Đạo… đạo cô là… má má chàng đó ?
Đoàn Dự cười đáp:
– Từ lúc mới đến đây tôi đã gọi má má ầm lên mình không nghe thấy ?
Đoạn chàng quay sang giới thiệu với đạo cô:
– Thưa má! Đây là Mộc Uyển Thanh cô nương. Mấy bữa nay con trải qua
lắm phen nguy hiểm bị bao kẻ hung tàn áp bức, may đều nhờ được Mộc cô
nương cứu cho thoát chết.
Bất thình lình bên ngoài có tiếng gọi to:
– Dao Đoan Tiên Tử! Xin tiên tử đề phòng cẩn thận, một tên trong bọn Tứ
ác đã đến đó!
Một người từ ngoài cửa bước vào chính là Chu Đan Thần. Nhìn thấy sắc mặt
đạo cô có vẻ khác thường, tưởng đạo cô đã bị bại với Vân Trung Hạc gã run
run hỏi:
– Tiên Tử… đã cùng y động thủ chưa?
Vân Trung Hạc cười nói xen vào:
– Chưa động thủ thì bây giờ động thủ cũng vừa chứ sao?
Người y đã cao, đứng trên lưng ngựa lại càng cao thêm, đầu y tựa như treo
lơ lửng trên không. Đột nhiên y nhoài người ra phía trước, chân phải vẫn
bám chặt vào yên ngựa, y cầm cương trảo chụp xuống đạo cô. Đạo cô khẽ
nghiêng mình để tránh, tung phất trần ra đánh vào chân trái Vân Trung Hạc.
Vân Trung Hạc không tránh, tay trái chụp xuống giữa lưng đạo cô. Đạo cô
lún người xuống thấp, luồn vào gầm bụng ngựa, văng cây phất trần lên, có
đến muôn ngàn sợi tơ phóng ra, luồng gió cực mạnh đánh vào chân phải
Vân Trung Hạc. Vân Trung Hạc chân trái bước ra đầu ngựa, tay phải cầm
cơng trảo quét ngang một cái. Chu Đan Thần quát to:
– Xuống ngay!
Gã nhảy lên mông ngựa, vung tay trái đánh vào sườn bên tả Vân Trung Hạc
một quyền, tay phải giơ lên đâm vào đùi y. Khí giới của Chu Đan Thần
ngắn lại đứng sát ngay bên địch nên dễ bề sử dụng. Vân Trung Hạc hất
cương trảo lại đỡ, khí giới của y dài nên đánh khó trúng. Phất trần của Dao
Đoan Tiên Tử lại nhằm hạ bàn y đánh tới. Cuộc tranh phong đã đến giai
đoạn kịch liệt. Một mình Vân Trung Hạc phải đánh với hai người, hai tay
múa tít cương trảo vung lên, chụp xuống kể ra cũng chưa có gì kém thế.
Mộc Uyển Thanh thấy Vân Trung Hạc đứng trên lưng ngựa có chỗ sơ hở
liền bắn ra một mũi tên trúng mắt bên trái con ngựa. Mũi tên này độc vô
cùng. Ngựa trúng tên run lên, ngã khuỵu ngay xuống. Dao Đoan Tiên Tử đã
quấn được năm ngón tay cương trảo, hai tay bỗng rung lên một cái, phất
trần cùng cương trảo đều rời khỏi tay, vọt lên không. Dao Đoan Tiên Tử
đưa tay trái rút ở sau lưng một giải lụa toan chụp lấy Vân Trung Hạc. Y cất
tiếng mắng:
– Bọn Đại Lý các ngươi chỉ ỷ thế nhiều người uy hiếp chứ bản lãnh các
ngươi ta có coi vào đâu.
Y liệu chừng không thể thắng nổi liền bước xuống chạy ra chân tường, tay
trái móc cây cương trảo vào mặt tường rồi nhảy vèo ra ngoài. Mộc Uyển
Thanh phóng tên theo nhưng không kịp, mũi tên cắm phập vào tường. Vân
Trung Hạc đã xa chạy cao bay, không thấy tông tích đâu nữa, trước khi cây
cương trảo và cái phất trần rơi xuống đất.
Bốn người trong sân ngơ ngác nhìn nhau, kinh hãi cho tài phi hành của Vân
Trung Hạc trên đời có một. Chu Đan Thần nói:
– Hôm nay Chu Đan Thần này nếu không nhờ được Dao Đoan Tiên Tử ra
tay thì tất bị chết về tay địch.
Dao Đoan Tiên Tử mỉm cười hỏi Chu Đan Thần:
– Đã hơn mười năm nay ta không mò đến binh khí, võ công kém cỏi lắm rồi
còn gì nữa đâu? Ngươi có biết lai lịch y không?
Chu Đan Thần đáp:
– Có tin rằng cả Tứ ác vào nước Đại Lý ta. Y là em út trong bọn mà đã ghê
gớm thế thì đủ biết ba tên kia còn đến mực nào. Xin Tiên Tử hãy về Vương
phủ tạm lánh ít lâu, chờ thanh toán xong bọn tứ ác hãy hay.
Dao Đoan Tiên Tử biến sắc, có vẻ bực mình nói:
– Ta còn về Vương phủ làm chi? Không địch lại bọn chúng thì đành chịu
chết chứ sao?
Chu Đan Thần sợ hãi không dám nói nữa, đưa mắt ra hiệu cho Đoàn Dự năn
nỉ. Đoàn Dự nói:
– Bốn tên này hung ác ghê gớm lắm, má không chịu về nhà thì để con đưa
má về bên bá phụ.
Dao Đoan Tiên Tử lắc đầu nói:
– Ta không về đâu hết.
Mắt tiên tử đỏ lên, dường như sắp trào lệ ra. Đoàn Dự nói:
– Nếu má không về con cũng ở luôn đây với má.
Đoạn quay sang bảo Chu Đan Thần:
– Chu tứ ca! Phiền tứ ca về bẩm với với bá phụ cùng gia gia ta rằng: ta phải
ở đây hợp lực với mẫu thân ta để chống lại bọn tứ ác.
Nghe con pha trò, tiên tử phì cười mắng:
– Mi nói mà không biết nhục, có bản lãnh gì mà dám bảo ở đây hiệp lực
cùng ta để chống nhau với bốn tên đại ác?
Tuy Đoàn Dự làm cho Tiên Tử phải bật cười nhng rồi những giọt nước mắt
vẫn tuôn xuống má, bà quay đi giơ tay áo lên lau. Mộc Uyển Thanh thấy
vậy rất lấy làm lạ tự hỏi: Mẫu thân Đoàn lang vì lẽ gì mà xuất gia đầu Phật?
Mắt nàng trông thấy Vân Trung Hạc chạy về, thế nào y chẳng gọi ba đồng
đảng đến, nàng lẩm bẩm một mình: Nếu bốn gã đại ác đến nơi, một mình
bà ta chống thế nào nổi? Vậy mà bà cố chấp không chịu về là nghĩa làm
sao? à phải rồi! khắp thiên hạ, phái nam nhi đều là phường bạc hãnh. Phụ
thân Đoàn lang tất sủng ái kẻ khác nên mẫu thân chàng bực chí đi tu. Nghĩ
đến đây nàng cảm thấy đồng tình với tiên tử, nàng nói:
– Dao Đoan Tiên Tử! tôi xin trợ lực tiên tử để chống tứ ác.
Dao Đoan Tiên Tử nhìn kỹ lại tướng mạo nàng, đột nhiên hỏi lại:
– Cô nói thật cho ta hay: cô cùng Tu la đao Tần Hồng Miên thân thích thế
nào?
Mộc Uyển Thanh tức mình nói:
– Tôi đã bảo tiên tử rồi mà! Tôi chưa từng thấy ai nói đến cái tên đó bao
giờ, cũng chẳng hiểu Tần Hồng Miên là người hay là giống vật nữa. Thực
tình tôi không biết gì hết.
Dao Đoan Tiên Tử nghe nàng nói đến câu: “Không biết là người hay là
giống vật” thì nghĩ ngay: nếu nàng quả là con cháu Tu la đao tất không khi
nào lại bảo là súc vật nên tuy nghe lời nàng nói có vẻ bướng bỉnh, tiên tử vẻ
mặt vẫn ôn hoà, tươi cười nói lảng:
– Cô nương đừng trách ta! Ta coi lối phóng ám tiến của cô giống hệt một
người quen với ta, vả nét mặt cô cũng hao hao như người đó nên ta tưởng
lầm đó thôi. Vậy chớ lệnh đường tên họ là chi? Cứ xem võ công cũng đủ
biết cô phải là con nhà có danh tiếng.
Mộc Uyển Thanh lắc đầu đáp:
– Từ thuở nhỏ tôi không cha không mẹ, chỉ có sư phụ nuôi nấng cho đến
ngày khôn lớn nên tôi không biết tên họ gia gia cùng má má tôi.
Dao Đoan Tiên Tử lại hỏi:
– Vậy lệnh tôn sư là ai?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Sư phụ tôi là “Vô danh khách”.
Dao Đoan Tiên Tử lẩm bẩm: “Vô danh khách! Vô danh khách là ai?”, rồi
như không nghĩ ra được đa mắt ra hiệu hỏi Chu Đan Thần.

Hết Chương 13

Hết Hồi 13

========================================================

Chương 14  Hồi 14

Đang đêm đột nhập phủ Trấn Nam Vương

    Chu Đan Thần lắc đầu thưa:
– Chu Đan Thần vốn ở miền biên cương hẻo lánh cõi Nam, kiến văn hẹp hòi
nên ít biết đến các bậc tiền bối anh hùng nghĩa hiệp tại Trung Nguyên. Tiểu
sinh chắc “Vô danh khách” là một bậc cao sĩ, ẩn dật chốn sơn lâm. Chẳng
những tiểu sinh không quen biết, cả cái tên Vô danh khách cũng chưa từng
nghe thấy ai nói đến.
Trong khi đang trò chuyện chợt nghe bên ngoài có tiếng vó ngựa dồn dập.
Một người còn ở đằng xa đã lên tiếng gọi to:
– Tứ đệ ơi! Công tử bình yên đấy chứ?
Chu Đan Thần lớn tiếng đáp:
– Tha đại ca! Công tử hiện ở đây, vẫn mạnh giỏi như thờng.
Chớp mắt ba người đã vào đến cửa chùa Thanh Hoa, xuống ngựa. Phu Tiêu
Điếu, Thái Tân Khách, Điểm Thương nông lạy phục xuống đất, làm lễ bái
kiến Dao Đoan tiên tử.
Mộc Uyển Thanh ở chốn sơn lâm từ thuở nhỏ cho đến khi khôn lớn, thấy
mấy người này thi lễ một cách quá thành kính, nàng không hiểu nếp tẻ gì,
lấy làm bực mình, nghĩ thầm: bọn này võ công đều vào hạng giỏi, làm sao
lại cứ thấy người là lạy lục?
Dao Đoan tiên tử thấy ba người có dáng thất thểu, xem ra thì gã nông phu ở
núi Điểm Thương bị thương ở má, nửa mặt phải buộc bằng miếng vải trắng.
Thái Tân Khách thì mình mẩy có nhiều vết máu. Phủ Tiên Điếu tay không
lúc nào rời cây cần câu nhưng bị gãy mất một nửa.
Tiên tử vội hỏi:
– Sao vậy? Bên địch mạnh lắm à? Tư Quy bị thương có nặng lắm không?
Đổng Tư Quy nghe tiên tử hỏi tới, mắt giận muốn nảy lửa, kêu to lên rằng:
– Tư Quy này kém cỏi, được Vương phi có lòng thương xót hỏi đến rất lấy
làm xấu hổ.
Dao Đoan tiên tử, vẻ mặt buồn thiu hỏi:
– Ngươi còn gọi ta bằng Vương phi nữa sao? Ngươi quên hết rồi ?
Đổng Tư Quy cúi đầu xuống bẩm:
– Vâng! Xin Vương phi tha tội cho!
Thì ra y gọi Vương phi đã quen miệng không tài nào đổi được nữa. Chu
Đan Thần hỏi:
– Còn Cao hầu lão gia sao không thấy về?
Phủ Tiêu Điếu Lăng Thiên Lý đáp:
– Hầu gia còn ở ngoài cổng, người cũng bị thương không tiện xuống ngựa.
Dao Đoan tiên tử khẽ thở dài một tiếng, nét mặt có vẻ sửng sốt hỏi:
– Cao hầu cũng bị thương à? Có… có nặng không?
Lăng Thiên Lý đáp:
– Cao hầu đang đánh nhau dữ dội với Nam Hải Ngạc Thần thì Diệp Nhị
Nơng ập đến sau lưng. Cao hầu bị giáp công, không thể chống chọi được
cả hai mặt, bị Diệp Nhị Nương đánh một chưởng vào sau lưng.
Dao Đoan Tiên Tử ngần ngừ một chút rồi kéo tay Đoàn Dự bảo:
– Đoàn Dự con! Mẹ con ta ra xem thúc thúc thế nào?
Rồi hai mẹ con chạy ra cửa chùa, bốn gã Ngư, Tiều, Canh, Độc theo sau.
Mộc Uyển Thanh cũng theo ra. Thiện Xiển Hầu Cao Thăng Thái đang nằm
phục trên lưng ngựa, áo rách toạc đằng sau, trên lưng còn rành rành in vết
bàn tay. Đoàn Dự rảo bước lại gần hỏi:
– Cao thúc thúc! Thúc thúc làm sao thế?
Cao Thăng Thái ngửng đầu lên nhìn thấy Dao Đoan Tiên Tử đứng trước cửa
chùa, hấp tấp xuống ngựa thi lễ. Dao Đoan Tiên Tử vội bảo:
– Cao hầu đã bị thương, bất tất phải thủ lễ.
Nhưng Cao Thăng Thái đã xuống ngựa rồi, loạng choạng té phục xuống đất
nói:
– Cao Thăng Thái này kính cẩn vấn an Vương phi, bái chúc Vương phi vạn
phước.
Dao Đoan Tiên Tử giục Đoàn Dự:
– Con đỡ thúc thúc dậy đi!
Mộc Uyển Thanh trong lòng nghi hoặc nghĩ thầm: ông họ Cao kia võ công
ghê gớm là thế, cầm ngọc địch đánh mấy đòn làm cho Diệp Nhị Nương
phải hoảng sợ chạy trốn. Chắc ông ta là tay lừng danh trong phái võ lâm,
vậy mà làm sao cũng phải kính cẩn mẫu thân Đoàn lang đến thế được? Còn
gọi bà một điều Vương phi, hai điều Vương phi. Hay chàng là con ông Vua
nào chăng? Anh đồ gàn này đáo để thật! Chả thấy chút gì tỏ ra là Vương tôn
công tử cả. Bỗng lại thấy tiên tử bảo Cao Thăng Thái:
– Cao hầu thế là tận tuỵ quá rồi, mời về thành tĩnh dưỡng!
Cao Thăng Thái nói:
– Xin vâng mệnh!
Đoạn đứng dậy. Mộc Uyển Thanh thấy Cao hầu sắc mặt nhợt nhạt mà đứng
vẫn ra vẻ con người phong lưu, bình tĩnh thì trong lòng kính phục vô cùng.
Lại thấy Cao Thăng Thái nói:
– Tứ ác cùng vào nước Đại Lý ta, tình thế rất là nguy hiểm. Xin Vương phi
hãy tạm trở về Vương phủ ít bữa.
Dao Đoan Tiên Tử thở dài nói:
– Ta đã có ý định suốt đời không trở về Vương phủ nữa.
Cao Thăng Thái nói:
– Nếu Vương phi không về thì chúng tôi có bổn phận phải ở lại bên ngoài
chùa này để phòng vệ cho Vương phi được an toàn.
Rồi quay lại bảo gã Nông núi Điểm Thương:
– Đổng Tư Quy ngươi kíp về thành trình Hoàng Thượng cùng Vương gia
biết.
Đổng Tư Quy dạ một tiếng rồi nhảy tót lên lưng ngựa, toan đi. Tuy gã bị
thương khá nặng nhưng chân tay còn mau lẹ dị thường. Dao Đoan Tiên Tử
nói:
– Hãy khoan!
Bà cúi đầu ngẫm nghĩ. Mọi người đều chăm chú nhìn thấy nét mặt tiên tử lộ
vẻ băn khoăn, tựa hồ có điều gì khó giải quyết. ánh nắng đã xế chiều chiếu
vào mặt bà trong sáng như châu ngọc, lộng lẫy như đoá hoa tơi. Tuy bà đã
đứng tuổi mà tư dung chẳng khác chi cô gái đương xuân. Hồi lâu bà mới
ngửng đầu lên uể oải nói:
– Thôi ta cũng đành trở về thành vậy, không lẽ để các ngươi vì một mình ta
mà phải ở lại đây chịu đựng sự nguy hiểm ghê gớm.
Đoàn Dự mừng quá nhảy lại ôm lấy đầu mẹ reo lên:
– Má tốt quá, có thế mới phải là má con chứ!
Đổng Tư Quy nói:
– Tiểu nhân xin về thành báo tin trước.
Dứt lời gã gia roi cho ngựa bon bon chạy về phía bắc. Lăng Thiên Lý dắt ba
con ngựa lại cho Dao Đoan Tiên Tử, Đoàn Dự và Mộc Uyển Thanh cưỡi.
Cả đoàn người nhắm phía thành Đại Lý thẳng tiến. Dao Đoan Tiên Tử,
Đoàn Dự, Mộc Uyển Thanh và Cao Thăng Thái bốn người cỡi ngựa còn ba
gã Lăng Thiên Lý, Tiêu Đốc Thành (tức Thái Tân Khách) và Chu Đan Thần
ba người đi bộ theo sau.
Đoàn người mới đi được chừng vài dặm, phía trước đã thấy một tiểu đội
quân khinh kỵ chạy đến như bay. Lăng Thiên Lý vẫy tay, nói với người đội
trưởng mấy câu. Đội trưởng ra lệnh cho quân kỵ lập tức xuống ngựa, lạy
phục xuống đất.
Đoàn Dự vẫy tay cười bảo chúng:
– Các ngươi bất tất phải thủ lễ thái quá.
Nguyên đội khinh kỵ này ở trong thành cho ra trước đón Vương phi. Thi lế
xong bọn họ lại lên ngựa đi trước mở đường. Vó ngựa rầm rộ bon bon trên
đường lớn.
Mộc Uyển Thanh trông thấy thanh thế uy nghi đến mức độ này biết ngay
Đoàn Dự tất không phải hạng tầm thường. Nàng đâm ra lo lắng nghĩ thầm:
trước ta tưởng chàng là một gã thư sinh phiêu bạt giang hồ, nay xem ra
chàng không phải con nhà bình dân. Nếu chàng là giòng họ hoàng thân
quốc thích, hoặc con một vị con lớn trong chiều, biết đâu chàng chẳng nhìn
mình, một cô gái quê mùa bằng con mắt khinh bạc? Sư phụ ta thường nói
rằng: phái nam địa vị càng cao bao nhiêu tâm địa càng đơn bạc bấy nhiêu.
Bọn họ lấy vợ thường kén chỗ môn đăng hộ đối. Chà chà! Đời sao mà lắm
chuyện rắc rối quá! Chàng thuỷ chung với ta chẳng nói làm chi, bằng chàng
thay lòng đổi dạ, chê ỏng chê eo, ta cứ chém cho mấy nhát, dù chàng ở địa
vị nào ta cũng bất chấp. Nghĩ đến đây nàng không thể nhịn được nữa, bắt
ngựa chạy sát bên cạnh Đoàn Dự, hỏi giật giọng:
– Lang quân! Chàng là hạng người nào? Phải nói cho thiếp biết ngay!
Những lời đôi ta gắn bó trên núi, chàng còn nhớ không?
Đoàn Dự thấy phía trước phía sau đầy cả người ngựa mà nàng đột nhiên
nhắc tới việc hôn nhân, làm chàng bẽn lẽn quá phải gượng cời bảo nàng:
– Hãy chờ về đến thành Đại Lý thong thả tôi sẽ bàn với mình.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Nếu chàng phụ thiếp thì… thiếp… thiếp…
Rồi dường như nghẹn ngào, nàng không thốt ra được hết lời. Đoàn Dự thấy
mặt nàng trắng ửng hồng, nước mắt chảy quanh càng thêm vẻ mỹ miều,
lòng chàng càng thêm mê mẩn, nói khẽ bảo nàng:
– Uyển Thanh mình ơi! Tôi cầu khẩn mình còn chưa được có lý đâu lại phụ
mình. Mình cứ bình tĩnh, má má cũng thương mình lắm đó.
Mộc Uyển Thanh nghe chàng nói vậy mắt lại ráo hoảnh, tươi cười khẽ hỏi
chàng:
– Má chàng có thương tôi hay không phỏng được ích gì?
ý nàng muốn nói: tôi chỉ cần chàng thương yêu tôi là đủ. Đoàn Dự lơ đãng
chợt ngó đến mẫu thân chàng. Bà cũng đang chăm chú nhìn chàng và Mộc
Uyển Thanh, vẻ mặt dường như mỉm cười mà không phải là cười. Bất giác
chàng thẹn, tai đỏ bừng lên.
Trời đã xế chiều, đoàn người đang đi còn cách thành Đại Lý chừng hai, ba
chục dặm, bỗng phía trước mặt cát bụi tung trời, một đội khinh kỵ đến mấy
trăm người rầm rầm đi tới. Hai bên đường hai lá cờ bay phất phới, một lá
thêu hai chữ “Trấn Nam” còn một lá thêu hai chữ “Bảo Quốc” đen. Đoàn Dự
reo lên:
– Má ơi! Gia gia thân hành đến đón má kia rồi! Dao Đoan Tiên Tử “hứ” một
tiếng rồi dừng ngựa lại. Cao Thăng Thái xuống ngựa rồi cùng bọn Chu Đan
Thần đứng ra mé đờng. Đoàn Dự phóng ngựa lên trước. Mộc Uyển Thanh
do dự một chút rồi cũng phóng ngựa theo chàng. Dây lát hai đoàn người đến
gần nhau, Đoàn Dự gọi to lên rằng:
– Bẩm gia gia! Má đã về đến đây rồi!
Hai tên lính cầm cờ đầu tránh ra hai bên đường, một người mặc hoàng bào
cưỡi con bạch mã cao lớn đi đến quát:
– Bớ Đoàn Dự con! Vì mày gây chuyện rắc rối để luỵ đến Cao thúc thúc bị
trọng thương. Phen này ta sẽ đánh què.
Mộc Uyển Thanh giật mình lẩm bẩm: không xong rồi! ông này bảo đánh
Đoàn lang, tất là phụ thân chàng rồi! Nàng nhìn kỹ lại thì ông mặt vuông
chữ “Quốc”, tướng mạo oai nghiêm, mày thô mắt lớn, cử chỉ đường bệ ra
dáng một bậc vương giả. Ông thấy con được vô sự trở về, nét mặt chỉ ba
phần giận dữ còn đến bảy phần mừng vui.
Mộc Uyển Thanh nghĩ thầm: cũng may mà Đoàn lang giống mẹ nhiều hơn
giống cha, nhìn bộ mặt khoằm khoặm của ông mà mình phát ngán. Đang
nghĩ chợt thấy Đoàn Dự phóng ngựa đến trước mặt cha tươi cười hỏi:
– Bẩm gia gia! Gia gia mạnh giỏi đấy a?
Người mặc áo hoàng bào làm mặt giận đáp:
– Mạnh giỏi cái gì? Vì mi mà ta tức chết đi được.
Đoàn Dự cười nói:
– Nếu con không ra đi đâu có mời được má về? Gia gia ơi con lấy công
chuộc tội rồi. Gia gia đừng giận con nữa.
Người mặc áo hoàng bào hừ một tiếng rồi bảo:
– Dù ta có không đập vào xác mi thì bá phụ cũng không tha mi đâu.
Dứt lời hai về đùi ông thúc vào sườn ngựa, con bạch mã chạy như bay đến
trước mặt Dao Đoan Tiên Tử. Mộc Uyển Thanh thấy đội kỵ binh đều mặc
áo gấm, giáp trụ lộng lẫy, gươm đao sáng quắc. Phía trước hai mươi người
đi đầu tay cầm nghi trượng, một tấm biển son đề bảy chữ: “Đại Lý Quốc,
Trấn Nam Vương Đoàn” và một tấm biển thứ hai đề sáu chữ: “Bảo quốc Đại
tướng quân Đoàn”. Nut bổn tính không biết sợ ai nhưng khi nàng trông thấy
uy thế nghiêm chỉnh này không khỏi nao nao trong dạ. Nàng khẽ hỏi Đoàn
Dự:
– Phải chăng quan Bảo Quốc Đại tướng quân tước Trấn Nam Vương đây là
gia gia chàng?
Đoàn Dự tươi cười vừa gật đầu vừa rỉ tai bảo nàng:
– Chính là bố chồng mình đó.
Nàng đứng ngây người ra một lúc, cõi lòng cảm thấy hoang mang. Nàng
phóng ngựa đi ngang Đoàn Dự, bốn bề người ngựa nhộn nhịp là thế mà
nàng phải dựa vào Đoàn Dự cho cõi lòng khỏi trống rỗng và được vững dạ.
Trấn Nam Vương lại đến trước Dao Đoan Tiên Tử còn cách chừng một
trượng thì dừng ngựa lại. Hai bên chỉ thoáng nhìn nhau một lần mà chẳng ai
nói câu nào. Đoàn Dự liền bày trò nói với mẹ:
– Má ơi! Gia gia thân đến đón má đó.
Dao Đoan Tiên Tử nói:
– Con đến thưa với bá mẫu rằng: má về bên bá mẫu tạm trú mấy bữa. Khi
đuổi được quân địch ra khỏi bờ cõi má lại trở về chùa Thanh Hoa.
Bấy giờ Trấn Nam Vương mới mỉm cười nói:
– Phu nhân! Phu nhân chưa hết giận kia ? Phu nhân hãy về nhà, thong thả
tôi sẽ có lời nói lại.
Dao Đoan Tiên Tử vẫn dấm dẳng:
– Tôi không về nhà, tôi cứ sang bên Hoàng cung.
Đoàn Dự nói xen vào:
– Tốt lắm! Con cũng theo má vào Hoàng cung để bái kiến bá phụ, bá mẫu
đã rồi sau sẽ tính. Chuyến này con bỏ nhà đi ít bữa chắc là bá phụ giận con
lắm. Gia gia không chịu xin cho con rồi có má đỡ đòn cho con mấy câu.
Dao Đoan Tiên Tử nói:
– Con nhà càng lớn càng hư. Để bá phụ đánh cho một chập mới mở mắt ra.
Đoàn Dự nói:
– Con mà phải đòn đau mẹ cũng phải đứt từng khúc ruột. Thà đừng để con
bị đánh nữa là hay hơn cả.
Dao Đoan Tiên Tử không thể nín cười được nói:
– Con càng phải đòn đau má càng thấy mát ruột.
Trấn Nam Vơng cùng Dao Đoan Tiên Tử đang ở vào tình thế ngột ngạt,
lặng lẽ chẳng ai muốn nói với ai, may có Đoàn Dự bẻo lẻo mồm miệng nói
cười dí dỏm thành ra bầu không khí giữa cha con vợ chồng trở nên đầm ấm.
Đoàn Dự lại tiếp:
– Gia gia ơi! Con ngựa của gia gia đẹp quá mà. Sao gia gia không nhường
cho má má cưỡi?
Dao Đoan Tiên Tử vừa giật cương cho ngựa phóng vừa nói:
– Ta không cưỡi đâu.
Ngựa tiên tử vừa chồm vô chạy, Đoàn Dự đuổi theo nắm lấy dây cương.
Trấn Nam Vương xuống ngựa rồi tự mình giắt con bạch mã lại bên. Đoàn
Dự, cười hì hì ôm mẹ để lên yên con bạch mã, vừa cười toe toét vừa pha trò:
– Má ơi! Người đẹp nhất trần đòi có một phải cưỡi con bạch mã này mới
xứng.
Dao Đoan Tiên Tử cười nói:
– Mộc cô nương của mi mới đúng là người đẹp trần đời có một. Mi muốn
đem mụ già này ra làm trò cười đó sao?
Bấy giờ Nam Trấn Vương mới quay sang nhìn Mộc Uyển Thanh rồi hỏi:
– Dự con! Cô nương đó là ai?
Đoàn Dự ấp úng đáp:
– Dạ nàng… nàng là Mộc cô nương. Con cùng nàng giao kết… nên… đôi
bạn hợp ý tâm đầu.
Trấn Nam Vương coi vẻ mặt chàng đã biết rõ tình hình. Vương thấy Mộc
Uyển Thanh mắt trong, răng trắng, xinh đẹp đoan trang cũng khen thầm:
con ta xem người quả đã không lầm. Nhưng Vương nhìn kỹ lại thấy nàng
đầy vẻ quê kệch, lại không biết đến bái kiến mình thì lẩm bẩm: Cô này là
con nhà dân dã chẳng biết lễ giáo chi hết. Vương chợt nhớ tới Cao Thăng
Thái bị thương, vội tới gần hỏi:
– Cao đệ! Cao đệ bị nội thương có nặng lắm không?
Cao Thăng Thái đáp:
– Tiểu đệ bị thương xoàng thôi, không có gì đáng ngại. Ca ca bất tất phải
quan tâm.
Trấn Nam Vương đưa ngón tay trỏ bên phải ra điểm vào hậu tâm và vào cổ,
tay trái nắm chặt sau lưng Cao Thăng Thái. Bỗng trên đỉnh đầu Trấn Nam
Vương bốc lên mấy tia bạch khí. Trong khoảnh khắc Vương bỏ tay trái ra.
Cao Thăng Thái nói:
– Ca ca ơi! Kẻ địch ghê gớm sắp đến nơi, ca ca hãy còn vì tiểu đệ mà hao
tổn nguyên khí ?
Trấn Nam Vương cười nói:
– Cao đệ bị nội thương khá nặng, trị sớm được lúc nào hay lúc đấy. Nếu về
ra mắt đại ca, tất người không chịu cho ta trị đâu, mà chính người ra tay trị
lấy thì sao cho tiện?
Mộc Uyển Thanh lúc nãy thấy Cao Thăng Thái sắc mặt nhợt nhạt trông rất
đáng sợ thế mà mới trong giây lát Trấn Nam Vương đã làm cho sắc mặt Cao
hầu trở nên hồng hào thì nghĩ thầm: Phụ thân Đoàn lang nội công hùng hậu
như vậy mà sao chàng lại không biết chút võ công nào mới lạ chứ?
Phu Tiên Điếu, Lăng Thiên Lý giắt ngựa lại và phục thị Trấn Nam Vương
lên yên. Trấn Nam Vương cùng Cao Thăng Thái thả ngựa bước một đi song
song. Hai người nói chuyện nhỏ với nhau về tình hình bên địch. Đoàn Dự
thì đi kề bên Dao Đoan Tiên Tử, hai mẹ con cười cười nói nói rất là vui vẻ.
Đội vệ sỹ thiết giáp đi xung quanh hộ vệ. Đoàn người ngựa nhằm phía thành
Đại Lý rong ruổi. Mộc Uyển Thanh lúc này lại cảm thấy mình lẻ loi hiu
quạnh.
Đoàn người về đến cửa thành thì trời đã hoàng hôn. Hai lá cờ hiệu Trấn
Nam và Bảo Quốc đi đến đâu bách tính lại hoan hô rầm rộ: “Trấn Nam
Vương muôn năm”, “Địa Tướng Quân thiên tuế”. Trấn Nam Vương đáp lại
tấm lòng yên kính nồng nhiệt của muôn dân.
Mộc Uyển Thanh thấy kinh thành Đại Lý chỗ nào cũng đèn lửa sáng trưng,
chợ búa nhộn nhịp. Từ nhỏ đến lớn nàng chỉ ở chốn sơn lâm, mới hai năm
nay nàng xuống núi, đã đi qua khá nhiều thị trấn nhưng chưa thấy nơi nào
tấp nập như ở đây. Đi qua mấy đường phố thì đến một con đường đá lớn
thẳng tắp. Cùng đường hiện ra vô số cung điện. ánh hoàng hôn chiếu lên
những phiến ngói thuỷ tinh rực rỡ trông hoa cả mắt. Đoàn người đi đến
trước cổng thành đều xuống ngựa. Mộc Uyển Thanh ngẩng đầu nhìn lên
trên có tấm biển đề bốn chữ: Tụ Đạo Quảng Từ. Nàng nghĩ thầm: đây là
Hoàng cung vua nước Đại Lý, bá phụ Đoàn lang đã ở trong này tất là một
bậc quan cực lớn tại Triều, đại khái người ta thường gọi bằng Vương gia
hay Đại Tướng quân chi đó.
Qua cổng thành vào đến cửa cung trên có biển đề ba chữ vàng: “Thánh Từ
cung”, một vị thái giám bước ra nói:
– Bẩm Vương gia! Hoàng thượng cùng Hoàng hậu nương nương hiện đang
chờ Vương gia ở bên phủ, xin Vương gia cùng Vương phi kíp về Trấn Nam
Vương phủ tiếp giá.
Trấn Nam Vương nói:
– Được rồi!
Đoàn Dự nói:
– Hay lắm! Thế thì hay lắm!
Dao Đoan Tiên Tử tức mình, đưa mắt nguýt con rồi hỏi:
– Hay cái gì? Ta ở lại Hoàng cung chờ nương nương về chứ sao?
Quan thái giám thưa:
– Nương nương dặn tôi phải mời Vương phi lập tức về Vương phủ triều kiến
vì lệnh bà có việc gấp cần gặp Vương phi để bàn định.
Dao Đoan Tiên Tử lẩm bẩm một mình: việc chi mà khẩn cấp thế? Chắc
nương nương bày ra chuyện này đây.
Đoàn Dự biết rõ mẫu thân chàng không muốn về Vương phủ mà Hoàng hậu
an bài như vậy là có mỹ ý muốn cho cha mẹ chàng đoàn tụ nên đến Vương
phủ ngồi chờ. Chàng liền dắt ngựa lại và dìu mẫu thân lên yên.
Đoàn người lại trở ra theo hướng Đông mà đi chừng hai dặm thì đến một toà
phủ đệ lớn. Trước cổng phủ có treo hai lá cờ lớn: một đề hai chữ “Trấn
Nam”, một đề hai chữ “Bảo Quốc”. Trên cổng có biển đề bốn chữ: “Trấn
Nam Vương phủ”. Ngoài cổng đầy những thân binh, vệ sĩ đứng nghiêm
chỉnh và im phăng phắc, cúi đầu chào Vương gia và Vương phi về phủ.
Dao Đoan Tiên Tử vừa đặt chân lên bậc thềm đá, hai mắt bỗng đỏ hoe, rng
rng đôi dòng luỵ như muốn trào ra. Đoàn Dự vừa dắt vừa đẩy mẹ đến cửa
lớn nói:
– Gia gia ơi! Con mời được mẫu thân con về đó. Lập nên công lớn, gia gia
thưởng gì cho con đây?
Trấn Nam Vương hớn hở vui mừng đáp:
– Con hỏi má xem. Má bảo thưởng gì gia gia sẽ thưởng cho con đó.
Dao Đoan Tiên Tử đổi sầu làm tươi nói:
– Mi muốn thưởng ? Ta thưởng cho mấy roi nhé!
Đoàn Dự lắc đầu lè lưỡi. Bọn Cao Thăng Thái đứng chờ bên ngoài sảnh
đường, không dám tiến vào. Đoàn Dự bảo Mộc Uyển Thanh:
– Mộc… Mộc cô nương! Mình ngồi chờ ở đây một chút để tôi vào ra mắt
Hoàng thượng cùng Hoàng hậu xong sẽ trở ra với mình.
Mộc Uyển Thanh không muốn rời chàng ra, nhưng chẳng có lý nào ngăn trở
chàng được đành phải gật đầu. Nàng ngồi phịch ngay xuống cái ghế đầu.
Cao Thăng Thái thì đứng chờ cho đến lúc vợ chồng Trấn Nam Vương cùng
Đoàn Dự ba người tiến vào hoa sảnh rồi mới ngồi xuống. Còn bọn Lăng
Thiên Lý, Tiêu Đốc Thành, Chu Đan Thần thì vẫn đứng thẳng, buông thõng
tay. Mộc Uyển Thanh ngơ ngác đưa mắt nhìn khắp trong nhà đại sảnh:
chính giữa treo một tấm biển, trên viết bốn chữ: “Bang Quốc Trụ Thạch”;
phía dưới tấm biển đề bốn chữ nhỏ: “Tân Dậu Ngự Bút”. Ngoài ra còn vô số
hành phi câu đối, nàng không xem được hết vì có nhiều chữ nàng không đọc
được. Nàng đang xem ngắm bỗng có mấy tên bộc dịch bưng trà lại, quỳ
xuống, hai tay nâng khay trà lên ngang đầu cực kỳ cung kính. Mộc Uyển
Thanh tự hỏi: “mấy tên hầu trà sao cũng kỳ cục như vậy? Mà lạ thay chỉ
mình và Cao Thăng Thái là có trà uống, còn bọn Chu Đan Thần lúc ở trên
đỉnh núi đánh nhau tung hoành là thế mà sao lúc vào Vương phủ thì họ lại
cứ đứng một cách nghiêm cẩn một cách quá lễ độ, thậm chí không ai dám
thở mạnh, coi mất cả oai phong của các bậc anh hùng hảo hán.
Mộc Uyển Thanh chờ Đoàn Dự một lúc lâu không thấy chàng trở ra, nàng
nóng ruột quá không nhẫn nại được nữa, lên tiếng hỏi:
– Đoàn lang! Đoàn lang! Chàng làm gì trong ấy mà mãi không ra?
Trong nhà đại sảnh mọi người đứng im lặng, nghiêm trang thủ lễ, không ai
dám nói nửa câu, bỗng thấy Mộc Uyển Thanh nói lớn đều giật mình đánh
thót một cái. Cao Thăng Thái thấy vậy tươi cười bảo nàng:
– Xin cô nương hãy nán chờ, chớ nên nóng nẩy, lát nữa tiểu Vương gia sẽ
ra.
Mộc Uyển Thanh càng lấy làm kỳ hỏi:
– Tiểu Vương gia nào?
Cao Thăng Thái chậm rãi đáp:
– Đoàn công tử là thế tử của Trấn Nam Vương. Cô nương bảo tôi không kêu
bằng Tiểu Vương gia thì kêu bằng gì?
Mộc Uyển Thanh tự nói một mình: “Trời ơi! Tiểu Vương gia! Tiểu Vương
gia! Anh chàng ngốc nghếch mà cũng là tiểu Vương gia kia ?”
Chợt thấy viên thái giám ở hoa sảnh đi ra nói:
– Hoàng thượng xuống chỉ, truyền cho Thiện Xiển Hầu và Mộc Uyển Thanh
vào bái kiến.
Cao Thăng Thái thấy thái giám ra liền đứng lên, còn Mộc Uyển Thanh cứ
chễm chệ ngồi yên. Nàng thấy thái giám gọi đích danh mình trong lòng cảm
thấy khó chịu, lẩm bẩm: “Sao y không gọi mình bằng Mộc cô nương mà lại
cứ đem tên tuổi người ta ra mà réo?”.
Cao Thăng Thái nhắc:
– Mộc cô nương! Chúng ta vào bái kiến Hoàng thượng đi.
Mộc Uyển Thanh trước nay coi trời bằng vung nhưng nghe nói đến vào triều
kiến Hoàng Đế thì không khỏi chột dạ, tóc tai dựng đứng cả lên. Nàng theo
sau Cao Thăng Thái qua dãy hành lang dài đi vào nội đình, đến trước toà
hoa sảnh. Thái giám cất tiếng vào báo:
– Có Thiện Xiển Hầu cùng Mộc Uyển Thanh triều kiến Hoàng thượng cùng
Hoàng hậu nương nương.
Tấm rèm treo cửa mở lên, Cao Thăng Thái không dám lên tiếng, đưa mắt ra
hiệu cho Mộc Uyển Thanh rồi tiến vào Hoa sảnh quỳ xuống trước mặt hai
người: một ông, một bà ngồi giữa nhà.
Mộc Uyển Thanh không quỳ, ngó thấy ông râu dài, mặc áo hoàng bào,
tướng mạo tuấn tú, liền hỏi:
– Ông là Hoàng đế phải không?
Ông ngồi giữa nhà chính là Hoàng đế nước Đại Lý tên gọi Đoàn Chính
Minh, lấy hiệu là Bảo Định Đế. Nguyên từ đời Ngũ Đại, năm thứ hai niên
hiệu Thiên Phúc triều Hậu Tấn, thủy tổ họ Đoàn, quán ở quận Võ Oai tên là
Đoàn Kiến Nguỵ, giúp vua nước Nam Chiếu làm quan đến chức Thanh Bình
quan. Truyền được sáu đời đến đời Đoàn Tư Bình làm quan Thông Hải tiết
độ sứ. Đến năm Đinh Dậu mới thành lập nước Đại Lý, tự xưng là Thái Tổ
Thần Thánh Văn Võ Đế, tới Đoàn Chính Minh là 14 đời và đã được hơn
150 năm.
Bảo Định Đế thấy Mộc Uyển Thanh không quỳ lạy, lại cất lời hỏi mình có
phải Hoàng Đế không, bất giác phải bật cười đáp:
– ừ ta là Hoàng Đế đây! Ngươi xem thành Đại Lý ta có đẹp không?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi vào thành là đến đây ngay, chưa được đi du ngoạn.
Bảo Định Đế mỉm cười nói:
– Sáng mai ta cho thằng Dự dẫn ngươi đi coi khắp mọi nơi để ngươi xem
phong cảnh thành Đại Lý ta, ngươi có thích không?
Thế thì hay lắm, cả ông cũng đi nữa nhé!
Mọi người nghe đến câu này thì không sao nhịn cười đợc. Bảo Định Đế
quay sang nhìn Hoàng hậu, cười hỏi:
– Hậu ơi! Con nhỏ nó bảo chúng ta dẫn nó đi chơi, Hậu tính sao?
Hoàng hậu cười chưa trả lời. Mộc Uyển Thanh lại nhìn Hoàng hậu hỏi:
– Bà là Hoàng hậu nương nương đấy a? Quả nhiên bà đẹp quá!
Bảo Định Đế cười ha hả nói:
– Dự con ơi! Cô nương này trời phú cho tính tình thật thà chất phác, thật là
thú quá.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Sao ông lại kêu chàng bằng con? Chàng vẫn kể với tôi ông là bá phụ chàng
kia mà? Chuyến này chàng trốn nhà ra đi, lúc nào chàng cũng sợ ông giận,
ông đừng đánh chàng nhé!
Bảo Định Đế mỉm cười nói:
– Ta tính đánh cho nó 50 roi đòn nhưng cô nương đã xin ta thì ta tha cho.
Dự con đâu? Sao con không ra tạ ơn cô nương đi?
Đoàn Dự thấy Mộc Uyển Thanh làm cho nhà vua thích thú, chàng rất mừng
lòng biết rằng bá phụ mình có tính khoan hoà liền trông Mộc Uyển Thanh
vái dài một cái nói:
– Đa tạ cô nương đã xin bá phụ cho tôi khỏi bị đánh đòn.
Mộc Uyển Thanh cũng vái trả lại nói khẽ:
– Bá phụ chàng đã hứa không đánh chàng, thế là tôi cũng yên lòng, lọ là
chàng phải cám ơn?
Đoạn nàng quay lại nói với Vua:
– Tôi cứ tưởng Hoàng đế là con người hung ác làm cho ai cũng phải khiếp
sợ. Ngờ đâu ông… ông tử tế lắm mà.
Bảo Định Đế nghĩ lại: chỉ khi mình còn nhỏ là được phụ hoàng và mẫu hậu
khen mình, hơn mười năm nay lên ngôi vua ai đối với mình cũng tỏ ra cung
kính sợ sệt chứ có được nghe tiếng khen “Ông tử tế quá” bao giờ đâu? Nay
ngài thấy Mộc Uyển Thanh ngây thơ chất phác, chưa hiểu gì đến nhân tình
thế thái khen mình thì lại càng hứng thú, quay sang bảo Hoàng hậu:
– Hậu có gì thưởng cho nàng không?
Hoàng hậu tháo chiếc vòng ngọc ở cổ tay ra đưa cho Mộc Uyển Thanh nói:
– Đây ta thưởng cho nàng!
Mộc Uyển Thanh đón lấy xỏ vào tay mình, mỉm cười nói:
– Cám ơn bà! Rồi đây tôi kiếm được cái gì tốt sẽ đem về cho bà.
Hoàng hậu mỉm cười toan đáp thì bỗng phía sau dãy nhà mé tây có tiếng
vang đa lại. Hoàng hậu quay lại nhìn Bảo Định Đế cười nói:
– Có người đem lễ vật đến dâng đó.
Vừa dứt lời tiếng vang lại gần hơn. Mộc Uyển Thanh giật mình biết kẻ địch
sắp ập đến. Người này rất giỏi khinh công, chân bước trên nóc nhà lẹ làng
như lá rụng và đi rất mau. Đoạn nghe tiếng vèo vèo, mấy người nhảy lên
nóc nhà, rồi tiếng Phủ Tiên Điếu Lăng Thiên Lý hỏi:
– Các hạ đêm hôm đột nhiên vào Vương phủ là có ý gì?
Một giọng ồm ồm như lệnh vỡ, vừa cười vừa đáp:
– Ta đến kiếm đồ đệ ta! Ngươi bảo y ra bái kiến ta!
Người đó chính là Nam Hải Ngạc Thần. Mộc Uyển Thanh âm thầm lo sợ.
Tuy nàng biết là việc phòng vệ Vương phủ cực kỳ nghiêm mật, đã đông vệ
sĩ mà từ Trấn Nam Vương, Dao Đoan Tiên Tử cho đến bọn Ngư, Tiều,
Canh, Độc đều là những bậc cao thủ. Nhưng Nam Hải Ngạc Thần không
phải tay vừa, thêm nữa đồng bọn là Diệp Nhị Nương, Vân Trung Hạc cũng
rất lợi hại. ấy là không kể đến tên đại ác số một mà nàng cha biết mặt mũi
nữa. Nếu cả bốn người cùng đến hợp lực cướp Đoàn lang thì khó lòng giữ
nổi. Nàng đang lo lắng, chợt nghe tiếng Lăng Thiên Lý hỏi lại:
– Cao đồ các hạ là ai? Trong phủ Trấn Nam Vương đây có ai là đồ đệ các hạ
đâu?
Bỗng “vù” một tiếng, một bàn tay to lớn từ trên không thò xuống rứt đứt bức
rèm che cửa nhà hoa sảnh ra làm đôi. Vừa thấy bóng người thoáng qua,
Nam Hải Ngạc Thần đã đứng giữa nhà. Đôi mắt lão ti hí, nhỏ như hạt đậu
giương lên, đảo nhìn bốn mặt. Lão vừa trông thấy Đoàn Dự đã cười ha hả
nói:
– Lão tứ (Vân Trung Hạc) nói thế mà đúng. Quả nhiên đồ đệ ta ở đây. Đoàn
Dự mau lại đây theo ta về luyện võ.
Dứt lời, lão thò bàn tay móng nhọn hoắt như móng chân gà chụp xuống vai
Đoàn Dự. Trấn Nam Vương thấy Nam Hải Ngạc Thần đưa bàn tay ra mà
văng vẳng có tiếng vù vù như gió thổi sấm rền thì biết ngay là một tay ghê
gớm, Vương sợ lão làm tổn thương đến đứa con yêu quý của mình vội đánh
ra một chưởng để chống đỡ. Điện lực hai bàn tay chạm vào nhau đánh
“binh” một tiếng. Cả hai bên cùng cảm thấy nội lực rung chuyển.
Nam Hải Ngạc Thần chột dạ hỏi:
– Ông là ai? Ta đến đón đồ đệ ta, việc gì đến ông?
Trấn Nam Vương mỉm cười đáp:
– Tôi là Đoàn Chính Thuần. Y là con trai tôi, y thờ ông làm thầy từ hồi nào?
Đoàn Dự nói:
– Ông này cứ bức bách con phải làm đồ đệ ông. Con từng biểu ông là đã có
sư phụ rồi nhưng ông không tin.
Nam Hải Ngạc Thần nhìn Đoàn Dự rồi lại nhìn Đoàn Chính Thuần nói:
– Võ công ông giỏi quá mà sao thằng nhỏ này chẳng biết tý gì? Tôi không
thể tin được ông lại là cha y.
Đoạn lại tiếp:
– Đoàn Chính Thuần! Nếu y quả là con ông, có lẽ phương pháp rèn luyện
của ông không hợp với y. Sao con ông vẫn mềm như sứa? Đáng tiếc! Thật là
đáng tiếc!
Đoàn Chính Thuần hỏi:
– Sao mà đáng tiếc?
Nam Hải Ngạc Thần nói:
– Tướng con trai ông giống tôi quá! Đó là một điều dưới gầm trời này rất
khó mà tìm được con người như thế để rèn luyện võ nghệ. Y chỉ theo tôi
mười năm nhất định phải trở thành một nhân vật võ nghệ siêu quần.
Đoàn Chính Thuần vừa bực mình vừa tức cười nhưng mới thử nhau một đòn
Vương đã hiểu lão quá rồi còn đang kiếm câu trả lời thì Đoàn Dự nói:
– Nhạc lão tam! Võ công ông tầm thường lắm, đâu có bằng được sư phụ tôi?
Ông hãy trở về đảo Vạn Ngạc luyện thêm hai mươi năm nữa rồi hãy trở lại
đây nói chuyện.
Nam Hải Ngạc Thần căm giận quát lên:
– Mi biết gì mà nói quàng?
Đoàn Dự nói:
– Ông bảo tôi không biết gì, vậy tôi hỏi ông: “Quân tử dĩ kiến thiện tắc
thiên, hữu quá tắc cải” là ý gì?
Nam Hải Ngạc Thần ngây ngô chẳng hiểu gì, tức mình nói:
– Mi nói nhăng nói cuội, chứ câu đó còn có nghĩa lý gì?
Đoàn Dự nói:
– Có mấy câu thiển cận như thế mà ông còn không hiểu thì bàn đến võ nghệ
sao đơực? Tôi hỏi ông câu nữa: “Quyên thượng ích hạ, Dân duyệt vô cương,
Tự thượng bá hạ, Kỳ đạo đại quang” là nghĩa làm sao?
Trên từ Bảo Định Đế, Trấn Nam Vương, dới đến bọn Chu Đan Thần đang
ngồi trên mái nhà nghe Đoàn Dự đem kinh dịch ra trêu trọc Nam Hải Ngạc
Thần đều không nhịn được phải phá lên cười.
Mộc Uyển Thanh tuy chẳng hiểu Đoàn Dự nói gì nhưng nàng cũng đoán đó
chẳng qua là chữ sách học của mấy anh đồ gàn.
Nam Hải Ngạc Thần còn đang ngơ ngẩn, lại thấy mọi người cời ồ ra vẻ
diễu cợt thì cho những câu Đoàn Dự nói có ý xỏ xiên nhiếc móc mình. Lão
tức quá, gầm lên một tiếng toan giơ tay đánh. Đoàn Chính Thuần tiến lên
nửa bước để ngăn cản. Đoàn Dự lại nói:
– Những câu tôi nói toàn là bí quyết về võ công, ảo diệu vô cùng, chắc là
ông không hiểu được. Hỏi có khác gì ếch ngồi đáy giếng mà toan đi làm
thầy dậy đời thì ai nghe chẳng phải cười vỡ bụng? Những vị sư phụ tôi nếu
không học vấn uyên thâm thì cũng phải là những bậc cao tăng đắc độ. Như
ông thì dù có học thêm mười năm nữa chưa chắc đã đáng là đồ đệ tôi.
Nam Hải Ngạc Thần nổi hung gầm lên:
– Thầy mi là ai? Thử gọi ra đây cho ta xem nào!
Tiếng lão gầm như sấm vang. Khắp mấy trăm gian phòng, bất cứ ở bên
trong hay bên ngoài, đằng trước hay đằng sau cũng đều nghe rõ. Đàn bà trẻ
con nghe thấy phải giật mình kinh sợ, tái mặt.
Đoàn Chính Thuần thấy chỉ có một tên trong tứ ác đến muốn hạ cũng chẳng
khó gì. Nhưng gặp buổi vợ chồng tái hội, lại thấy Đoàn Dự bẻo lẻo trêu
chọc lão nên cứ mặc kệ để làm trò vui cho phu nhân. Đoàn Dự thấy cha thả
xổng, không ngăn cản mình, càng đắc ý nói:
– Được lắm! Nếu ông cả gan dám đứng chờ đây thì tôi đi mời sư phụ tôi
đến. Đã là anh hùng hảo hán chớ có trốn chạy đấy nhé.
Nam Hải Ngạc Thần nói to:
– Nhạc lão tam này suốt đời bôn tẩu giang hồ, còn có sợ ai bao giờ? Mi gọi
ngay sư phụ mi ra đây! Lẹ lên!
Đoàn Dự ra khỏi phòng, Nam Hải Ngạc Thần ngó theo. Tuy lão ở giữa đám
đông những tay cao thủ mà vẫn tự nhiên, tuyệt không có vẻ sợ hãi chút nào.
Bỗng có tiếng giày lẹp kẹp: hai người đi gần tới nơi. Nam Hải Ngạc Thần
lắng tai nghe chân bước nặng trịch thì hiểu rõ là hạng người không biết võ.
Đoàn Dự còn ở ngoài cửa đã lên tiếng hỏi:
– Ô hay! Nhạc lão tam chạy mất rồi ? Gia gia đừng để y trốn thoát. Sư phụ
con đã đến đó.
Nam Hải Ngạc Thần tức quá hét lên:
– Việc gì ta phải chạy trốn? Mẹ nó thằng nhãi này làm ta bực quá!
Lão vừa dứt lời thì Đoàn Dự đã đưa một người vào. Mọi người trông ra
không ai nhịn được, cười ồ cả lên: một người đầu đội mũ vải, mặc áo bào
dài lượt thượt, hai chòm râu chuột vàng khè, mắt đỏ ngầu, rụt đầu rụt cổ,
tướng mạo nửa người nửa ngợm rất khó coi.
Dao Đoan Tiên Tử nhận ra là gã chuyên việc buông mùng màn trong Vương
phủ. Ai cũng gọi đùa là Hoắc tiên sinh. Lúc nào gã cũng lờ đờ như người
mất ngủ, suốt ngày ham mê bài bạc với đám nô dịch trong phủ. Gã đang say
lướt khướt thì bị Đoàn Dự ở đâu vào cầm tay kéo đi. Đến cửa toà hoa sảnh,
gã sợ hãi dừng lại không dám tiến bước nhưng Đoàn Dự cứ lôi tuột vào.
Vào trong Hoa sảnh gã sụp xuống lạy Bảo Định Đế cùng Hoàng Hậu.
Bảo Định Đế không biết Hoắc tiên sinh là ai, liền phán:
– Thôi! Đứng lên đi!
Đoàn Dự lại lôi lão đến trước mặt Nam Hải Ngạc Thần nói:
– Nhạc lão tam! Trong các vị sư phụ tôi thì vị này kém cỏi nhất. Ông có
thắng được vị này rồi mới đấu được với các vị khác.
Nam Hải Ngạc Thần cười hềnh hệch nói:
– Nếu Nhạc lão nhị này đánh ba đòn mà y không nát nhừ ra thì ta sẽ thờ mi
làm thầy.
Đoàn Dự mắt sáng lên hỏi lại:
– Ông nói sao? Thật hay dối? Đã là đại trượng phu thì phải nhất ngôn, chứ
nói rồi lại nuốt lời là quân chó đẻ.
Nam Hải Ngạc Thần la lên:
– Lại đây! Lại đây!
Đoàn Dự nói:
– Nếu đánh có ba đòn thôi thì hà tất đến sư phụ tôi phải ra tay? Ngay tôi đây
cũng đủ rồi mà.
Nam Hải Ngạc Thần từ lúc được Vân Trung Hạc báo tin, lão sấp ngửa đi
luôn sang Đại Lý chỉ cốt bắt Đoàn Dự về làm đồ đệ, truyền dạy hết võ nghệ
cho để biểu dơng phái Nam Hải sau này. Nhưng từ lúc cùng Đoàn Chính
Thuần chọi nhau một chưởng, trong bụng lão đâm lo, biết rằng ở giữa đám
cao thủ này muốn bắt Đoàn Dự đem đi không phải chuyện dễ. Giờ thấy
chính Đoàn Dự đòi cùng mình đối thủ thì còn cơ hội nào hay hơn nữa, chỉ
việc giơ tay ra túm lấy chàng. Bọn Đoàn Chính Thuần dù tài giỏi đến đâu có
muốn cướp lại nhưng lâm vào trình trạng “ném chuột sợ vỡ đồ” tất phải chịu
giương mắt ếch ra nhìn mình ẵm Đoàn Dự đem đi. nghĩ vậy lão mừng rơn
nói ngay:
– Thế thì hay lắm! Mi cứ việc tiếp lấy ba đòn của ta. Ta không vận nội lực
đánh chết mi đâu mà sợ.
Đoàn Dự nói:
– Hãy khoan! Xin giao hẹn trước đã. Nếu đánh ba đòn mà ông không hạ
được tôi thì sao?
Nam Hải Ngạc Thần biết Đoàn Dự là một gã thư sinh trói gà không chặt,
đừng nói ba đòn, chỉ nửa đòn gã cũng không chịu nổi rồi liền cười ha hả
đáp liền:
– Mi chịu nổi ta ba đòn thì ta quyết thờ mi làm thầy.
Đoàn Dự phân bua:
– ông nói có mặt mọi người đây nghe rõ cả rồi. Sau ông đừng cãi nữa nhé!
Nam Hải Ngạc Thần tức mình nói:
– Nhạc lão nhị này nói một là một, hai là hai.
Đoàn Dự nói:
– Nhạc lão tam chứ Nhạc lão nhị bao giờ?
Nam Hải Ngạc Thần vẫn cãi:
– Nhạc lão nhị.
Đoàn Dự không chịu:
– Nhạc lão tam
Nam Hải Ngạc Thần nói:
– Thôi ra động thủ đi! cãi làm gì vô ích!
Đoàn Dự tiến ra hai bước, ngang nhiên đứng trước mặt Nam Hải Ngạc
Thần.
Mọi người trong hoa sảnh từ Hoàng thượng, Hoàng hậu trở xuống ai cũng
biết Đoàn Dự yêu văn, ghét võ, đừng nói chống nhau với những tay cao thủ
như Nam Hải Ngạc Thần, chỉ một tay vệ sĩ hay tên lính hạng bét, chàng
cũng không chịu nổi một đòn. Ban đầu ai nấy chỉ tưởng chàng muốn trêu
cợt Nam Hải Ngạc Thần, giờ thấy chàng thi gan với lão thật đều không khỏi
sửng sốt. Tuy biết rõ Nam Hải Ngạc Thần chỉ nhất tâm thu chàng làm đồ
đệ, không nỡ hại đến tính mạng chàng nhưng lỡ ra con người hung hãn như
lão lúc cáu lên thì chiếc cành vàng lá ngọc kia ai sẽ biết sao?
Dao Đoan Tiên Tử lo cho tính mạng con mình nhất, vội ngăn lại:
– Dự con! Không được liều lĩnh! Đối với kẻ thất phu sơn dã đó, không nên
mạo hiểm.
Hoàng Hậu cũng ra lệnh:
– Thiện xiển hầu đâu! Ngươi ra bắt tên cường đồ cho ta!
Thiện xiển hầu tâu:
– Thần hạ Cao Thăng Thái xin tuân chỉ!
Đoạn Cao hầu ra lệnh:
– Lăng Thiên Lý, Đổng Tư Quy, Tiêu Đốc Thành, Chu Đan Thần nương
nương đã xuống chỉ các ngươi động thủ đi!
Bốn gã cúi đầu tâu:
– Thần đảng xin tuân chỉ.
Nam Hải Ngạc Thần thấy đông người đến vây đánh liền quát to:
– Các ngươi định lấy nhiều hiếp ít phải không? Ta đây không sợ đâu nhé,
Hoàng thượng, Hoàng hậu ta chấp luôn cả hai ngươi nữa đó.
Đoàn Dự vội khoát tay ra hiệu nói:
– Hãy khoan! Để ta cùng lão thử ba đòn đã, rồi sau sẽ liệu.
Riêng Bảo Định Đế biết rõ cháu mình có thủ đoạn hơn người, y làm nhiều
điều không ai nghĩ đến, tất y có cơ mưu gì đây. Nam Hải Ngạc Thần tất
không hại tính mạng y, hơn nữa lại có cả hai anh em mình ngồi đây, quyết
không ngại gì. Nghĩ vậy Bảo Định Đế liền phán bảo:
– Các ngươi hãy thong thả! Cứ để cho tên cường đồ kia biết tài Tiểu Vương
tử nước Đại Lý đã.
Bọn Lăng Thiên Lý đang tiến lại, bỗng nghe Hoàng thượng truyền chỉ đều
dừng lại cả. Bảo Định Đế vẫn tươi cười hớn hở nét mặt không lộ vẻ lo lắng
chút nào.
Đoàn Dự nói với Nam Hải Ngạc Thần:
– Nhạc lão tam! Chúng ta phải có lời giao ước trước: nếu ba đòn ông không
đánh ngã được tôi ông phải thờ tôi làm sư phụ. Nhưng tư chất ông dốt nát
lắm tôi không dạy võ ông đâu. Ông có bằng lòng như thế không?
Nam Hải Ngạc Thần cả giận nói:
– Ai cần mi dạy võ nghệ? Võ công mi không bằng loài chuột nhắt, ai thèm
đếm xỉa tới?
Đoàn Dự nói:
– Tốt lắm! Thế là ông chịu điều kiện đó rồi! Chỉ cần ông không được trái lời
thầy, bất luận việc gì sư phụ đã ra lệnh ông phải tuân theo. Nếu trái lệnh sư
phụ là phạm tội trong quy luật phái võ.
Nam Hải Ngạc Thần nghe nói chẳng những không giận mà lại hớn hở đáp:
– Điều đó là dĩ nhiên. Sau khi mi đã thờ ta làm thầy cũng phải nhớ lấy nghe!

Hết Chương 14

Hết Hồi 14

=============================================================

Chương 15   Hồi 15

Phép Lăng Ba Vi Bộ  kỳ tuyệt

    Đoàn Dự nói:
– Tôi ngư thuận như vậy nhưng xin nhắc lại: nếu ông muốn thu tôi làm đồ
đệ, phải lần lượt hạ hết được các vị sư phụ tôi để tỏ rõ võ công ông giỏi hơn
tất cả, vì có thế tôi mới thờ ông làm thầy được.
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Được lắm! Mi toàn nói chuyện vẩn vơ. Tha hồ cho mi muốn xoay cách
nào thì xoay cũng không lại được ta đâu.
Đoàn Dự trỏ phía sau Nam Hải Ngạc Thần mỉm cười nói:
– Một trong các vị sư phụ tôi đang đứng sau lưng ông đó.
Nam Hải Ngạc Thần tưởng sau lưng mình có người thật quay ngoắt lại.
Đoàn Dự thừa cơ tiến lên một bước, đưa tay thọc vào huyệt “đào đạo” giữa
lưng Nam Hải Ngạc Thần.
Phép điểm huyệt này tuy không đúng cách thức của con nhà võ nhưng “đào
đạo” là một trong các huyệt trọng yếu nhất của con người, Nam Hải Ngạc
Thần lại nghe lồng ngực mình đột nhiên dường như bị tắc nghẽn thì ra tay
trái Đoàn Dự đã nắm được sau lưng lão và ngón tay chàng bấm đúng vào
giữa huyệt “Y xá”.
Nam Hải Ngạc Thần giật mình vội vận nội công chống đỡ nhưng hai huyệt
trọng yếu đã bị kiềm chế, đồng thời nội lực dùng vào việc giải phóng hai
huyệt đạo này cũng bị kiềm chế luôn. Lão hết sức bình sinh đem nội lực ra
phản ứng lại một cái tức thì toàn thân nhũn ra như sứa.
Đoàn Dự chỉ có việc nhấc mình lão cao một chút cho đầu chúc xuống, chân
giơ lên rồi hất mạnh một cái là lão phải té nhào. Cái đầu nhẵn thín đập
xuống đất đánh “bịch” một tiếng. May mà nền nhà trải đệm nên lão không
đến nỗi bị thương. Có điều một tay võ công lừng lẫy tiếng tăm mà nay bị
thư sinh Đoàn Dự đẩy ngã khiến lão thẹn quá hoá giận. Lão liền dùng
miếng “Lý ngư đả đình” vụt dậy, giơ tay trái ra chụp xuống Đoàn Dự.
Những người ngồi trong Hoa sảnh đều là tay võ nghệ cao cường không ai
ngờ một gã thư sinh yếu ớt như Đoàn Dự làm cho Nam Hải Ngạc Thần phải
một phen điên đảo. Mọi người chưa hết kinh hãi, ngơ ngác về cái té của
Nam Hải Ngạc Thần bỗng thấy lão lại hùng hổ giơ tay ra chực nắm lấy
Đoàn Dự. Đoàn Chính Thuần toan ra tay phản ứng, đã thấy Đoàn Dự bước
trệch sang bên. Bộ pháp của chàng rất là kỳ cục, chỉ bước lờ vờ một cái mà
tránh khỏi bàn tay nhanh như chớp của Nam Hải Ngạc Thần, làm cho Đoàn
Chính Thuần buột miệng trầm trồ khen ngợi:
– Kỳ tuyệt! Thật là kỳ tuyệt!
Nam Hải Ngạc Thần lại đưa bàn tay ra chụp xuống. Đoàn Dự không chống
đỡ chi cả, bước tiến lên hai bước, thế là Nam Hải Ngạc Thần lại vồ hụt.
Nam Hải Ngạc Thần đánh hai đòn không trúng vừa ngạc nhiên vừa cáu
giận, lại thấy Đoàn Dự đứng lù lù trước mặt, cách mình không đầy ba thước
lão tức quá gầm lên một tiếng đưa cả hai bàn tay ra chụp thẳng vào bụng
Đoàn Dự.
Bảo Định Đế, Đoàn Chính Thuần, Dao Đoan Tiên Tử, Cao Thăng Thái thấy
thế đánh vô cùng hiểm ác đều la lên:
– Phải cẩn thận đấy!
Đó là miếng “Độc long trảo”, một thế võ tuyệt kỹ bí hiểm mà Nam Hải
Ngạc Thần khổ công rèn luyện trong mười năm trời với mục đích đánh bại
Diệp Nhị Nương để giành giật lấy ngôi thứ hai trong tứ ác về mình. Cũng
may mà trong lúc lão điên tiết, mất hết bình tĩnh nên chụp sểnh không thì
“con người tương lai của phái Nam Hải” đã vỡ bụng ra rồi.
Đoàn Dự bước sang bên phải một bước rồi lại bước sang bên trái một bước,
đoạn lẹ làng chuyển qua phía sau Nam Hải Ngạc Thần, giơ tay lên đập vào
cái đầu hói của lão.
Nam Hải Ngạc Thần thấy đối phương giơ bàn tay thần xuất quỷ một lên
đánh thì chẳng còn hồn vía nào nữa, buột miệng kêu lên: “Mạng ta nguy
mất”. Nhưng khi tay chàng đập xuống đến đầu lão, lão cảm thấy tay chàng
không có chút nội lực nào cả. Lão đưa tay trái lên đỡ mạnh quá, đánh “roạc”
một cái. Mu bàn tay Đoàn Dự bị năm ngón tay lão cào trúng, rõ năm vết
toạc da rướm máu. Chàng vội rụt tay về, đà tay lão hãy còn sức mạnh sớt
thẳng xuống làm cho chính cổ lão cũng toạc ra năm vệt chảy máu.
Kể ra thì Đoàn Dự đã tránh xong ba đòn của Nam Hải Ngạc Thần và thế là
đã thắng cuộc rồi. Nhưng chàng quên rằng mình chẳng có chút nội công
nào, da dĩ máu nóng của tuổi trẻ bốc lên ngùn ngụt nên mới giơ tay đánh
xuống đầu lão. Cái đòn vô lực của chàng chẳng những không làm gì được
lão mà xuýt nữa còn bị lão túm được tay mình. Chàng đâm ra hoảng sợ chân
bước loạng choạng chạy đến núp vào sau lưng phụ thân, mặt cắt không còn
hột máu.
Dao Đoan Tiên Tử đa mắt nguýt chàng, tự nói một mình: “Thằng nhỏ này
gớm thật, dám dối cả ta nữa. Bá phụ và gia gia mi đã luyện cho mi những
công trình kỳ diệu đến thế mà mi cứ giả vờ như không biết tý gì”.
Mộc Uyển Thanh la lên:
– Nhạc lão tam! Ngươi đánh ba đòn không hạ được chàng, trái lại ngươi bị
té nhào. Còn chờ gì mà ngươi chưa dập đầu nhận chàng làm sư phụ?
Nam Hải Ngạc Thần vò đầu bứt tai, thẹn quá, mặt đỏ như gấc chín, ấp úng:
– Chưa phải là chuyện ra tay thực sự, chỗ đó bỏ đi không kể.
Mộc Uyển Thanh đưa ngón tay lên chọc chọc vào má mình bêu bêu:
– Thế mà không biết nhục! Ngươi không lạy chàng nhận làm sư phụ tức là
ngươi tự nhận là quân chó đẻ hay sao?
Nam Hải Ngạc Thần đáp:
– Ta không chịu nhận cả hai thứ.
Đoàn Chính Thuần thấy bộ pháp của con mình ảo diệu dị thường, chính ông
không hiểu về bộ pháp này nhưng cũng khẽ bảo con:
– Con đừng có động thủ đánh lão, chỉ nhè huyệt đạo mà điểm vào thôi!
Đoàn Dự rỉ tai đáp:
– Con cảm thấy kinh hãi lắm rồi, e rằng không làm nổi nữa.
Đoàn Chính Thuần khẽ bảo:
– Việc gì mà phải sợ? Đã có gia gia đây liệu tiếp tay cho.
Đoàn Dự được cha hứa nâng đỡ, mất hết sợ hãi, đường hoàng bước ra nói:
– Nam Hải Ngạc Thần! Ngươi đánh ba đòn không hạ nổi ta! Thôi lạy xuống
mà nhận làm sư phụ đi!
Nam Hải Ngạc Thần hét lên một tiếng rồi đánh ra một chưởng. Đoàn Dự
rón chân một bước qua mé đông bắc, tránh khỏi một cách dễ dàng. Điện lực
ở tay lão phóng ra làm đổ gãy các kỷ trà. Đoàn Dự vẫn bình tĩnh, miệng
lâm râm đọc chú: “Sơn địa bác, hoả địa tấn, tiến vô vọng, chuyển trung phu,
hoả thuỷ kỳ tế, địa hoả minh di, thoái tổn vị, tà quy đại tráng…”. Những
đòn Nam Hải Ngạc Thần đánh tới, chàng vẫn điềm nhiên như không thấy,
chỉ nhìn nhận phương hướng, theo đúng bộ pháp, khi tiến chếch lên, khi lui
thẳng xuống. Nam Hải Ngạc Thần chưởng pháp đánh ra vun vút mỗi lúc
một mau, nội lực mỗi lúc một mạnh thêm như vũ bão làm cho bàn ghế bay
tứ tung, bình cốc vỡ loảng xoảng. Rút cục vẫn không đánh trúng Đoàn Dự
được phát nào. Chớp mắt đã đánh đến ba mươi mấy đòn. Hai anh em Bảo
Định Đế Đoàn Chính Minh và Trấn Nam Vơng Đoàn Chính Thuần nhìn rõ
bộ pháp của Đoàn Dự chỉ hời hợt, không có lấy một chút sức mạnh mà vẫn
chưa biết vị cao nhân nào đã truyền thụ cho chàng lối bộ pháp cực kỳ thần
diệu này. Phép bước chân theo 64 quẻ của vua Phục Hy đời xa. Cách tiến
thoái không ai có thể lường được. Nếu cứ lấy thực lực mà đấu với Nam Hải
Ngạc Thần thì chỉ nửa đòn chàng đã mất mạng với địch thủ rồi. Nhưng Nam
Hải Ngạc Thần đánh thế nào cũng mặc, chàng cứ lên lui theo đúng bộ pháp
của mình thôi, nên địch dù mạnh đến đâu cũng không tài nào đánh trúng.
Hai anh em Bảo Định Đế xem Nam Hải Ngạc Thần đánh đến 48 đòn, sắc
mặt thoáng lộ vẻ lo lắng, nghĩ thầm: “Giả tỷ Nam Hải Ngạc Thần cứ nhắm
mắt đánh bừa, đừng nhìn nhận phương hướng Đoàn Dự né tránh thì sau thế
nào cũng có phát trúng”. Nhưng vẫn thấy Nam Hải Ngạc Thần sắc mặt mỗi
lúc một vàng nhạt, mắt mở mỗi lúc một to thêm. Đòn nào cũng nhằm Đoàn
Dự đánh tới. Một bên Đoàn Dự cứ theo đúng phương pháp bước tiến, bước
lui thành ra lão muốn đánh nhanh đến đâu cũng không trúng được.
Nếu cuộc đấu cứ như vậy kéo dài mãi thì dù cho Đoàn Dự có dữ cho khỏi bị
tổn thương đã là may rồi còn muốn đánh ngã đối phương thì đừng hòng.
Bảo Định Đế coi một lát nữa, cất tiếng bảo Đoàn Dự:
– Dự con! Con bước thong thả lại một chút, nhằm đường huyệt đạo trước
ngực bên địch mà nắm lấy!
Đoàn Dự thưa:
– Xin vâng!
Rồi tuân lời bá phụ chàng bước chầm chậm lại, lúc đến gần phía trước Nam
Hải Ngạc Thần chàng nhìn chằm chặp vào mặt lão, thấy nét mặt hung dữ,
vàng ửng, đôi mắt như nẩy lửa mà chàng bở vía, chân bước loạng choạng,
trệch ra ngoài phương vị, bị tay Nam Hải Ngạc Thần chụp trúng vào tai bên
trái, máu chảy đầm đìa, giả tỷ chàng bị chụp xích vào trong một tấc nữa thì
phải chết lăn quay ra đất. Bị đau Đoàn Dự càng hoảng hốt, phải chạy mau
lại ẩn vào sau lưng Đoàn Chính Thuần, gượng cời thưa lại Bảo Định Đế:
– Bá phụ ơi! Không xong rồi!
Đoàn Chính Thuần cả giận quát:
– Xưa nay con cháu họ Đoàn nước Đại Lý lâm trận đối địch có chạy trốn
bao giờ? Mi phải ra đấu nữa đi! Lời bá phụ dạy chí phải đó!
Dao Đoan Tiên Tử thương con nói xen vào:
– Con nó đã chống nhau với lão dư 60 đòn. Họ Đoàn có được đứa con gan
dạ như thế còn chưa đủ hay sao? Dự con! Thế là thắng cuộc rồi, đừng ra
đánh nữa!
Đoàn Chính Thuần tức mình nói:
– Nó là con tôi, mình bất tất phải quan tâm? Đã có tôi bảo đảm sinh mạng
cho nó.
Dao Đoan Tiên Tử thương con đau lòng, nước mắt chảy quanh, muốn nhảy
xổ ra. Đoàn Dự thấy tình cảnh mẫu thân như vậy, trong lòng không nỡ,
hùng khí bừng bừng trỗi dậy, rảo bước chạy ra, quát to lên rằng:
– Ta lại đấu với ngươi lúc nữa!
Lần này chàng tỏ ra gan dạ hơn, lên lui đĩnh đạc, xoay chuyển ung dung,
đến lúc giáp Nam Hải Ngạc Thần chàng không nhìn vào mặt lão nữa, đưa
hai tay chụp xuống ngực địch thủ. Nam Hải Ngạc Thần thấy tay Đoàn Dự
chụp thong thả mà yếu ớt, lão cười ha hả, né đi một chút, rồi cứ giơ tay
chụp xuống vai chàng. Không ngờ bước chân Đoàn Dự biến hoá khôn
lường, hai người cùng xoay mình đổi phương vị thế nào lại đụng vào nhau.
Ngực Nam Hải Ngạc Thần chạm vào ngón tay trỏ Đoàn Dự. Không bỏ lỡ cơ
hội, chàng nhằm đúng phương vị đường huyệt đạo, tay trái giữ lấy huyệt
“Đản Trung”, tay phải giữ huyệt “khí hộ”. Chàng túm được hai yếu huyệt
này nhưng chẳng có chút nội lực nào. Giả tỷ Nam Hải Ngạc Thần cứ để
mặc kệ cho chàng giữ thế nào thì giữ, không thèm để ý tới, đừng vận nội
công giải thoát thì rồi chàng cũng đến từ từ buông ra chứ chẳng làm gì được
lão. Đằng này Nam Hải Ngạc Thần thấy yếu huyệt bị kiềm chế, đâm ra
hoảng sợ, giơ luôn hai tay lên, chụp xuống trước mặt chàng. Miếng đánh
vào mắt địch này nhà võ gọi là “thế đánh bắt buộc bên địch phải hồi thủ tự
cứu”, khiến cho đối phương tự nhiên phải bỏ yếu huyệt để rụt tay về chống
đỡ. Đó là một miếng hiểm hóc, những tay cao thủ thường để giải cứu lúc
lâm nguy. Cũng may mà Đoàn Dự chẳng hiểu tý gì về phương pháp đánh đỡ
trong nghề võ. Những đòn của Nam Hải Ngạc Thần ác liệt là thế, chàng
cũng mặc kệ, hai tay cứ giữ khư khư lấy hai yếu huyệt của lão chứ không
rút về để che chở cho mình. Hai tay Nam Hải Ngạc Thần đang chụp xuống
mắt chàng, chỉ còn cách độ gang tay thì khí huyết trong mình lão bị trở trệ,
chân tay cử động tựa hồ vướng víu, không đáp ứng theo đúng ý chí, không
chụp xuống đúng mắt chàng. Lão hít một hơi chân khí rồi lại vận nội
công… cũng vì lão gắng vận nội công làm cho khí huyết đi ngược chiều.
Hai luồng khí lực trong mình tự va chạm nhau, xung đột nhau làm cho lão
hoa mắt lên. Đoàn Dự đang giữ chịt hai huyệt đạo Nam Hải Ngạc Thần
bỗng thấy một luồng nhiệt khí làm cho bàn tay chàng nóng bỏng lên rồi cả
thân chàng cũng run rẩy, chân không đứng vững. Chàng biết rằng bỏ tay ra
lúc này tất phải chết ngay với địch thủ nên dù trong mình khó chịu đến mức
độ nào cũng phải cố gắng chịu đựng.
Đoàn Chính Thuần đứng gần đó thấy mặt con mỗi lúc một đỏ bừng lên liền
thò một ngón tay, dí vào huyệt “Đại truy” sau lưng chàng. Đó là phép điểm
huyệt Nhất Dương Chỉ lừng danh thiên hạ của họ Đoàn nước Đại Lý. Phép
điểm huyệt này kỳ tuyệt ở chỗ làm cho một luồng khí dung hoà thấm vào
trong mình, đồng thời truyền nội lực mạnh mẽ vào người Đoàn Dự. Chỉ
trong giây lát, toàn thân Nam Hải Ngạc Thần run lên bần bật rồi mềm ra
như bún lăn quay xuống đất. Đoàn Chính Thuần truyền thêm khí lực cho
chàng. Đoàn Dự dần dần hồi phục lại như thường nhưng hồi lâu không nói
được lên tiếng.
Đoàn Chính Thuần đem phép Nhất Dương Chỉ ám trợ cho Đoàn Dự. Thế là
cả hai cha con hợp lực mới chế phục nổi Nam Hải Ngạc Thần. Mọi người
ngồi trong Hoa sảnh đều hiểu như vậy nhưng cứ trông bề ngoài thì ai chả
bảo Nam Hải Ngạc Thần bị Đoàn Dự hạ, không còn cãi vào đâu được.
Con người như Nam Hải Ngạc Thần quả là ghê gớm, Đoàn Dự vừa buông
tay ra, lão chỉ vận khí sơ sơ, tức thì đứng dậy được ngay. Hai mắt lão nhìn
Đoàn Dự chằm chặp. Trên bộ mặt cổ quái của lão lộ vẻ kinh dị, thương tâm
lẫn với vẻ căm hờn.
Mộc Uyển Thanh la lên:
– Nhạc lão tam! Ta xem ngươi cố tình không chịu thi lễ nhận thầy, vậy ra
ngươi cam tâm làm quân chó đẻ mất rồi.
Nam Hải Ngạc Thần hậm hực nói:
– Mi hiểu ta thế nào được? Lậy y làm thầy thì lậy chứ sao? Đời nào ta chịu
tiếng xấu làm quân chó đẻ?
Nói xong lão quỳ ngay xuống lạy Đoàn Dự bốn lạy, đầu dập “binh binh”
bốn lần xuống đất rồi kêu lên:
– Thưa sư phụ! Đệ tử là Nhạc lão tam kính bái sư phụ.
Đoàn Dự đứng ngây người ra mà nhìn, chưa kịp trả lời thì Nam Hải Ngạc
Thần đã vụt dậy, nhảy vọt lên nóc nhà bỏ đi.
Bỗng một tiếng kêu “ối” thê thảm nổi lên, rồi từ trên nóc nhà lăn xuống
đánh “huỵch” một tiếng. Mọi người nhìn ra thì là tên vệ sĩ trong phủ Trấn
Nam Vơng, trước ngực máu chảy đầm đìa. Tim gan gã đã bị Nam Hải
Ngạc Thần móc đem đi mất, chân tay gã giãy giụa mấy cái rồi nằm chết
thẳng cẳng. Sự việc xảy ra thần tốc kinh người. Tên vệ sĩ này võ công tuy
còn kém bốn gã Ngưu, Tiều, Canh, Độc nhưng cũng vào hạng khá, vậy mà
Nam Hải Ngạc Thần chỉ giơ tay ra một cái móc mất tim gan. Đoàn Chính
Thuần, Cao Thăng Thái cũng ở gần đó nhưng không cứu kịp. Mọi người
nhìn nhau cả kinh thất sắc.
Mộc Uyển Thanh tức giận nói:
– Lang quân! Chàng thu được tên đồ đệ hung ác, hỗn láo đến thế là cùng. ở
nhà thầy ra mà dám giết cả người nhà thầy. Lần sau lang quân có gặp hắn
phải trừng trị hắn cách nào mới được chứ?
Đoàn Dự đáp:
– Tôi may mà thắng cuộc là toàn nhờ ở gia gia ám trợ. Sau này gặp lão, tôi e
rằng đến trái tim sư phụ này vị tất còn giữ nổi với lão nói chi đến chuyện
nghiêm trị lão hung đồ đó?
Trong lúc đang trò chuyện Tiêu Đốc Thành cùng Lăng Thiên Lý khiêng
thân thể gã vệ sĩ ra ngoài. Đoàn Chính Thuần sai đem đi an táng và cấp đỡ
rất hậu cho gia đình kẻ bị nạn.
Hoắc tiên sinh mười phần ba tỉnh, bảy say vâng dạ luôn mồm từ từ lui ra.
Bảo Định Đế hỏi Đoàn Dự:
– Dự con! Bộ pháp đó con đã được bậc cao minh nào truyền thụ cho? Theo
đúng phương vị 64 quẻ của vua Phục Hy đời xưa.
Đoàn Dự đáp:
– Bộ pháp đó con tự luyện quấy quá một mình trong sơn động chả hiểu có
đúng không? Xin bá phụ chỉ giáo cho!
Bảo Định Đế lại hỏi:
– Con tự luyện lấy ở trong sơn động đầu đuôi thế nào? Nói rõ cho ta nghe!
Nguyên hôm đó ở trên đỉnh núi, Mộc Uyển Thanh bị Nam Hải Ngạc Thần
cớp đem đi, Đoàn Dự cuống quít chạy theo. Mới đi được vài bước, loạng
choạng thế nào chân giẫm lên mình một con trăn lớn tròn trùng trục mà trơn
như mỡ, chàng trợt chân ngã, mình cứ tuột dần dần xuống khe núi. Trong
cơn nguy cấp thập tử nhất sinh, chàng đưa hai tay ra kều cào thì may sao vớ
được một cành cây. Chàng liền níu lấy, đưa cả hai chân ra sờ soạng, chợt
đặt được lên một mỏm đá sườn núi nhô ra. Bên tai nghe tiếng sóng vỗ bì
bòm, nước sông chảy cuồn cuộn kêu ầm ầm nh sấm rền ở phía dưới chân.
Chàng định thần nhìn khắp xung quang, sườn núi cao chót vót và dựng đứng
như bức tường thành không còn cách nào trèo lên được nữa, đi xuống lại bị
lăn vào dòng sông nước chảy xiết cũng chết mất mạng. Chỉ còn cách theo
mé tả bò đi thì còn có chỗ đặt chân, chẳng hiểu bước đường trước mắt ra
sao, chàng dùng cả chân lẫn tay lần mò, sờ soạng trong lòng nơm nớp lo sợ.
Chàng bò đi có lúc mệt quá phải ngồi nghỉ, gặp chỗ hiểm trở phải cố gắng
lắm mới bò qua được. Dò lần cho đến lúc trời đã hoàng hôn, trước mặt hiện
ra vô số tảng đá lởm chởm, không sao tìm ra được lối đi phẳng phiu một
chút. Sau mấy hồi cực kỳ gian lao, vất vả chàng chợt thấy cảnh tượng quen
quen hiện ra. Dường như có lần chàng đã qua quãng đường này rồi thì phải?
chàng định thần cố nhớ lại, hết nhìn non xanh lại ngắm nước đục, bất giác
buột miệng kêu lên:
– A ha! Phải rồi! Đúng là bữa trước ta ở trong thạch động ra đã qua chỗ này
rồi, cảnh vật hãy còn y nguyên như cũ.
Đoàn Dự nhận ra rồi trong lòng hớn hở vui mừng, tự nói một mình: “từ chỗ
này đi qua mấy chân trái núi cao và vượt qua mấy khe vực nữa thì ra đến
một con đường ven núi, chừng mười bảy mười tám dặm nữa là đến cầu
“Thiện nhân độ”. Nhưng chàng lại sực nhớ đến pho tương ngọc mỹ nhân tư
dung tuyệt thế. Chân chàng muốn đi nhưng dạ không đành, chàng tặc lưỡi
lẩm bẩm: “Âu là ta hãy vào thăm ngọc tượng, dù có suốt đời bị giam cầm
trong hang động, ta cũng cam tâm”. Thế là chẳng đắn đo gì nữa, chàng lần
theo lỗi cũ, chỉ hơn mười trượng đã đến cửa hang nhỏ. Chàng chui ngay
vào, rồi cứ theo đường hầm vào tới thạch thất.
Lúc đó trời đã hoàng hôn nhưng bốn mặt tường đều có giát những hạt minh
châu toả ra một thứ ánh sáng huyền ảo. Đoàn Dự run run đứng ngắm pho
tượng ngọc nhủ thầm: cũng may đây chỉ là pho tượng bằng ngọc chứ không
phải người thật. Giả tỷ trên thế gian có cô gái mỹ lệ nhường này thì Đoàn
mỗ có phải vì nàng mà tan nát thân danh hay phải chết nửa đời nửa đoạn
cũng chẳng chút chi hối hận! Bất luận nàng ra lệnh cho làm gì, dù là việc
đại nghịch vô đạo hay việc gian ác hiểm độc đến đâu đi chăng nữa, mình há
dám từ nan? Đoàn Dự hỡi Đoàn Dự! Trên đời không có người này tưởng
cũng là cái may lớn trong những cái không may đó.
Đoàn Dự đứng trước người ngọc đã chồn gối run chân mà không biết mỏi
mệt là gì. Nào đâu Nam Hải Ngạc Thần? Nào đâu Mộc Uyển Thanh?
Chàng bỏ rơi vào cõi hư vô hết, chẳng còn lo còn nghĩ gì tới nữa. Hồi lâu
quay về thực tại, chàng cảm thấy mỏi quá, không tài nào đứng được nữa liền
nằm quay ra chân pho tượng ngọc ngủ thiếp đi.
Trong lúc mơ màng, Đoàn Dự thấy pho tượng quả nhiên cử động, cầm một
thanh bảo đao đưa cho và sai chàng đi giết 36 người vô tội, bất luận nam
hay nữ. Chàng chẳng ngần ngừ chút nào, khẳng khái vâng lời cầm đao ra đi,
bất cứ gặp ai cũng giết. Chém giết một hồi đến bảy tám mươi người, đầu lâu
lăn long lóc ngổn ngang trên mặt đất, chàng hăm hở trở vào phục mệnh.
Tượng ngọc mỉm cười, trầm trồ khen giỏi rồi bảo chàng:
– Ngươi hãy về nhà lấy đầu phụ thân đi!
Chàng nhất quyết không dám tuân mệnh. Tượng ngọc chau mày nói:
– Ngươi không tuân lệnh ta thì lập tức ra ngoài kia tự chặt đầu ngươi đem
vào đây ra mắt ta.
Đoàn Dự không do dự chút nào, cầm đao tự đâm vào bụng, kêu to lên một
tiếng, giật mình tỉnh dậy, mồ hôi toát ra như tắm. Chưa hết kinh sợ, trống
ngực đánh thình thình. Bỗng chàng thấy ánh dương quang chiếu vào, nhớ lại
chuyện vừa xong thì ra suốt đêm rồi mình đã trải qua một cơn ác mộng.
Chàng nhỏm dậy nhìn pho tượng, nghĩ vẩn nghĩ vơ một hồi, sực nhớ ra điều
gì tự hỏi: “Đây là một toà thạch thất sâu dưới đáy hồ từ đâu mà ánh dương
quang lại chiếu vào được?”. Đoạn nhìn theo phía có ánh sáng để tìm cho ra
lẽ thì thấy trên nóc nhà có treo một tấm gương đồng, ánh sáng do tấm
gương này phản chiếu xuống. Chàng chú ý nhìn kỹ tấm gương hồi lâu, nhận
ra có những chữ tròn trĩnh. Chàng bỗng giật mình tự hỏi tiếp: “Khắp trong
toà thạch thất này chỗ nào cũng để gương đồng, hay là có điều chi kỳ dị ở
đó?”.
Nghĩ vậy tiện tay chàng với ra góc nhà bên phải nhặt lấy một tấm, lau hết
bụi bặm cùng rỉ xanh đi để xem. Quả nhiên trên có khắc những đường
ngang vạch dọc. Cạnh những nét này có chua “một bước”, “hai bước”, “nửa
bước”. Ngoài đầu những nét vạch có ghi bằng chữ nhỏ: “đồng nhân”, “đại
hữu”, “quy muội”, “khiêm”….
Đoàn Dự biết ngay những chữ nh “đồng nhân”, “đại hữu” v.v. là tên những
quẻ trong 64 quẻ tuỳ theo phương vị ở kinh dịch. Chàng lật mặt dưới tấm
kính lên thấy đề bằng lối chữ triện bốn chữ “LĂNG BA VI Bộ”. Dó đó
chàng liền nhớ lại lõm bõm được ít câu trong bài Lạc Thần Phủ tả điệu lăng
ba:
Lăng ba nhón gót,
Chẳng nhiễm bụi trần.
Chuyển mình lấp loáng,
Mặt tựa hoa xuân,
Miệng cười chúm chím,
Lặng lẽ xuất thần,
Nhìn người yểu điệu,
Quên ngủ quên ăn
Đoàn Dự cầm trong tay tấm gương đồng lật lên lật xuống, xem đi xem lại,
ngồi thừ ra một lúc lại nhớ đến những dòng chữ khắc trên tấm gương đồng
đặt dưới chân pho tượng mà mình đã xem bữa trước: “Ngươi đã lạy đủ ngàn
lạy, vậy ta nhận ngươi làm đệ tử. Từ đây sắp tới ngươi còn gặp nhiều tai nạn
thê thảm, nói không xiết được, cũng đừng hối hận. Võ công hơn đời của
phái ta ở khắp nơi trong thạch thất này. Mong rằng ngươi ráng lĩnh tâm
nghiên cứu cho ra”. Rồi chàng nhớ lại bữa đó, trong lúc từ biệt pho tượng,
chàng đã nói: “Thần tiên nương tử ơi! Tôi chả làm đồ đệ nương tử mà cũng
chẳng học cái võ công hơn đời của nương tử đâu”. Nhưng hôm nay chàng
ngó pho tượng thần mấy hồi nữa thì tâm hồn như ngây như dại, chẳng còn
tự chủ được nữa. Rồi chàng tự nhủ: “Thần tiên nương tử bảo ta học tập võ
nghệ thì không thể không học được rồi. Nhưng câu võ công hơn đời của
phái ta ở khắp nơi trong tòa thạch thất này, sao ta xem khắp cả có thấy gì
đâu? Phải chăng võ công ghi trên tấm gương đồng ta vừa coi xong?”. Nghĩ
vậy chàng lật đi lật lại để xem cho kỹ phương vị 64 quẻ trong kinh dịch rồi
bắt đầu tập bước thử.
Ban đầu chàng chỉ chiếu theo phương hướng, độ số bước cho đúng cách,
chưa lĩnh hội gì đến phần ảo diệu bên trong. Nhưng đến chỗ khó khăn, kỳ
cục, nếu cứ theo chữ khắc trên tấm gương thì đi bước trước xong không biết
làm thế nào để bước tiếp cho đúng. Sau chàng phải xoay mình chân không
chấm đất mới bước vào đúng khuôn phép, cũng có lúc phải nhón gót vọt lên
hay co chân nhảy lùi lại mới hợp với phương vị, độ số trong chỉ thị.
Mỗi khi gặp vấn đề nan giải, Đoàn Dự cố gắng nghiên cứu, tìm được lối
giải quyết chàng cảm thấy khoan khoái vô cùng và công nhận học võ cũng
nhiều chỗ thích thú chẳng kém gì đọc sách. Có lúc chàng hối hận: “trước kia
mình không hiểu, chỉ quan niệm võ nghệ là môn học để hại người, giết
người nên không chịu học. Giờ xem bộ pháp này chẳng hại đến ai mà lại
tránh được kẻ hung ác muốn đánh giết mình, như thế chẳng những không
hại mà còn có ích nữa. Bất luận môn võ nào dùng để cứu người hay tự vệ
đâu có phải việc dở”. Kết luận như vậy chàng lại càng cần cù hăng hái luyện
tập.
Tập suốt một ngày, mười phần Đoàn Dự đã học được hai, ba. Tối đến,
chàng đói quá bèn mở nắp hộp ngọc để đôi mãng cổ chu cáp kêu lên mấy
tiếng cho rắn kéo đến nằm phục trước mặt. Chàng lựa giết mấy con rồi ra bờ
sông nhặt củi đốt lên nướng ăn. Mấy ngày liền chỉ trừ những lúc ngủ đi hay
lúc giết rắn làm bữa còn bao nhiêu thì giờ chàng để hết vào việc nghiên cứu
và luyện tập “Lăng Ba Vi Bộ”, không chểnh mảng một phút nào. Có lúc
chán nản, chàng ngẩng đầu lên nhìn pho tượng ngọc thì lạ thay: Thần nương
tiên tử tựa hồ có vẻ buồn bực thống trách chàng không chịu gắng sức hết
lòng, thì chàng sợ hãi vô cùng, đứng bật dậy như chiếc lò xo, hăm hở đem
hết tâm trí vào việc rèn tập “Lăng Ba Vi Bộ”. Đến giữa trưa hôm thứ tư,
Đoàn Dự đã thuộc lòng toàn bộ môn lăng ba ghi trên gương đồng và cách
bước lên, lui xuống, diễn tập lại được một cách rất thuần thục. Chàng sực
nhớ đến chuyện Mộc Uyển Thanh bị Nam Hải Ngạc Thần bắt trong một
thời gian khá lâu rồi, chàng cần trở về để cứu mạng cho nàng. Nhưng lúc
diễn tập xong, chàng vào ra mắt Thần tiên nương tử thì chẳng khác gì kẻ bị
ma làm, tâm hồn như ngây như dại, chẳng nghĩ gì đến chỗ nguy khốn của
Mộc Uyển Thanh nữa. Có lúc chàng quyết tâm “ta phải về cứu Mộc cô
nơng rồi sẽ trở lại đây cũng chưa muộn gì”. Chàng liền đặt tấm gương
đồng vào chỗ cũ, chợt ngó đến một tấm gương khác loang lổ, sặc sỡ, trên
khắc vô số chữ nghĩa. Chàng biết rằng nếu rèn luyện thêm món này nữa thì
ít ra cũng mất mấy ngày, vội nhủ thầm: “Đoàn Dự hỡi Đoàn Dự! Mộc cô
nơng bị ác nhân giam giữ, một ngày xem bằng ba thu. Nếu mi không kịp
trở lại cứu nàng thì còn mặt mũi nào trông thấy ai nữa?”. Tuy chàng lẩm
bẩm như vậy nhưng lại bị một ý nghĩ khác đả phá: “mình ở đây bên con
ngời ngọc vui thú biết là chừng nào, huống chi mình chẳng có lấy một chút
bản lãnh thì làm sao mà đánh lại được Nam Hải Ngạc Thần, chỉ có cách là
thờ lão làm thầy. Như thế thì thà chịu chết còn hơn”. Hai luồng tư tưởng
xung đột nhau dữ dội trong đầu óc chàng. Phân vân hồi lâu rồi chàng nhất
quyết: “dù sao bỏ mặc Mộc Uyển Thanh cũng là một điều địa bất nghĩa,
đâu phải tư cách của bậc đại trượng phu? Đừng có mình ở vào trường hợp bị
giam cầm hoặc trường hợp bất khả kháng nào khác không trở về được chả
nói làm chi”.
Quyết định nh vậy, chàng lại trước mặt pho tượng ngọc mỹ nhân, lạy xụp
xuống đất khấn rằng:
– Thần tiên nương tử ơi! Nếu nhờ được phép Lăng Ba Vi Bộ mầu nhiệm của
nương tử vừa truyền cho mà tôi thoát khỏi tay Nam Hải Ngạc Thần thì sau
này mỗi năm tôi tình nguyện đến ở đây với nương tử nửa năm.
Khấn xong, chân trái chàng đạp bước “Trung phu”, chuyển sang bước “Kỷ
tế” rồi toan tiếp tục theo phép Lăng Ba Vi Bộ chạy ra khỏi động. Nhưng vừa
bước sang vị “thái”, chàng xoay mình một cái, chân phải bước đến vị “cổ”,
đột nhiên một luồng hơi nóng ở huyệt “đan điền” bốc lên cao độ khiến cho
toàn thân tê nhức, không thể chịu nổi rồi lăn kềnh ra đất nằm cứng đơ
người.
Đoàn Dự thất kinh, toan chống tay xuống đất để nhỏm dậy nhưng tứ chi
cũng như các bộ phận khác không chịu phục tùng ý chí của mình nữa. Đừng
nói muốn ngồi lên mà ngay muốn cử động một đầu ngón tay cũng không
thể được. Chàng chịu nằm trơ như phỗng đá, càng nóng nẩy lại càng không
nhúc nhích được tý nào.
Nguyên phép Lăng Ba Vi Bộ khắc trên tấm gương đồng là một môn võ để
cho những người đã có bản lĩnh vào hạng thượng thừa rèn luyện. Đoàn Dự
tuyệt không có một chút căn bản võ công nào, lúc tập chàng tiến lên một
bước rồi dừng lại suy nghĩ, hoặc lùi xuống một bước lại nghỉ giây lát, huyết
mạch trong người chu lưu một cách bình thường nên không việc gì. Đằng
này chàng vừa thuộc hết bài, đột nhiên toan dông thẳng một lèo, các mạch
máu trong người không thể luân lưu từ từ như thường mà chạy ngược lên
một cách cấp bách nên toàn thân bị tê liệt, thiếu chút nữa biến thành cái xác
không hồn. May mà chàng mới đi có mấy bước, vả không đi mau lắm nên
chưa đến nỗi đứt mạch máu.
Lâm vào tình trạng sống dở chết dở, Đoàn Dự cuống cuồng, cố sức vận
động nhưng chàng càng cố gắng bao nhiêu ruột gan càng cồn cào bấy
nhiêu, tựa như người buồn nôn mà không nôn ra được. Chàng nghĩ thầm:
“tấm đồng đặt dưới chân nương tử đã khắc rõ ràng từ đây sắp tới ngươi còn
gặp nhiều tai nạn thê thảm, nói không xiết được cũng đừng hối hận”. Bây
giờ mình nằm ỳ ra đây để mà chịu chết đói, há chẳng là một cảnh tượng thê
thảm nói không xiết được ?
ánh dương quang buổi chiều chênh chếch chiếu xuống. Vào khoảng giờ
thìn, ánh sáng soi vào giữa tấm gương đồng và phản chiếu xuống mặt Đoàn
Dự. Chàng thấy chói mắt, muốn quay đầu ra phía khác nhưng cổ cứng đơ
không sao quay đi được. Chàng nhìn tấm gương thấy có khắc những chữ “Vị
tế”, “Tiểu quá”, “chấn”, “truân”. Không còn cách nào quay đi chỗ khác,
chàng chăm chú nhìn vào những chữ trong gương rồi đâm ra suy nghĩ,
nghiên cứu, tính toán thì ra tấm gương thứ nhất chàng đã luyện xong mới
được có 32 trong 64 quẻ, còn 32 quẻ nữa ở tấm gương này, lại vừa khéo
hiện ra đúng lúc trước mặt chàng. Tuy chân không bước được nhưng chàng
vẫn nằm ngẫm nghĩ, tính toán các bước chân, tưởng tượng ra bộ số, phương
hướng. Chàng cứ lẩm nhẩm tính toán như vậy đến chiều thì được hơn mười
bước, tâm hồn đã thấy được cởi mở và dễ chịu hơn trước nhiều.
Trưa hôm sau Đoàn Dự nhập tâm được nốt 32 quẻ, chàng nằm ôn lại cả 32
quẻ học trước hợp lại với 32 quẻ mới. Khi đầu từ “Minh di” rồi tuần tự sang
“bí”, “kỳ tế”, “gia nhân”. Bưước theo độ số, chuyển theo phương vị cho đủ 64
quẻ thì về đến vòng tròn “Vô vọng” là xong.
Đoàn Dự mừng quá, vỗ tay reo rồi vùng dậy la lên:
– Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu!
Dứt lời chàng mới biết rằng mình đã cử động lại được như thường, thì ra hơi
thở và kinh mạch trong người cũng chuyển vận theo tâm niệm. Tâm niệm
đến vòng tròn, chỗ để nối các kinh mạch cởi mở trở về cương vị bình
thường. Đoàn Dự mừng rỡ khôn xiết, nhưng còn lo lỡ ra quên mất thì nguy,
chàng ôn đi ôn lại nhiều lần cho nhớ thật kỹ. Lúc bắt đầu diễn lại chàng
bước rất thong thả, cẩn thận cho khỏi sai trật. Đi xong 64 quẻ chàng cảm
thấy tinh thần phấn chấn, khí lực dồi dào. Tuy đã mấy ngày chẳng được ăn
uống gì mà trong bụng vẫn không thấy đói lắm.
Chàng vào vái ngọc tượng nói:
– Đa tạ Thần Tiên Nương Tử!
Rồi trở gót đi ra khỏi toà thạch động, tìm theo đường cũ qua cầu “Thiện
nhân độ”, lên núi Vô Lượng, tìm đến chỗ Mộc Uyển Thanh.
Đoàn Dự đem chuyện luyện Lăng Ba Vi Bộ trong sơn động thuật lại đầu
đuôi cho Bảo Định Đế nghe. Nhưng chàng dấu nhẹm việc pho tượng ngọc
mỹ nhân không đả động gì đến vì chàng biết rằng trước mặt bao nhiêu
người mà đem chuyện mình say mê một pho tượng ngọc nữ thì thật là một
điều lố bịch, lại khiến cho Mộc Uyển Thanh phải nổi trận tam bành.
Nghe Đoàn Dự kể xong Bảo Định Đế nói:
– Bộ pháp 64 quẻ này dường như ở trong có ẩn hiện một căn bản nội công
vào hạng thượng thừa. Con thử diễn lại từ đầu đến cuối cho ta coi!
Đoàn Dự vâng lời, nhẩm lại một lúc rồi bước ra biểu diễn. Bảo Định Đế,
Đoàn Chính Thuần, Cao Thăng Thái đều là những tay bản lĩnh cao siêu về
phần nội công thế mà những chỗ tuyệt diệu về nội công trong bộ pháp này
cũng chỉ nhìn nhận ra được vài phần mà thôi.
Đoàn Dự diễn xong 64 quẻ, cuối cùng quanh một vòng tròn rồi trở về
nguyên vị. Bảo Định Đế cả mừng nói:
– Bộ pháp “Lăng Ba Vi Bộ” này ảo diệu vô cùng, trên đời có một không hai,
con ta phải có phúc phân thế nào mới được gặp đó. Nay má con mới lại
trùng phùng, thôi ta về để mẹ con hàn huyên với nhau.
Đoạn nhà Vua quay sang bảo Hoàng hậu:
– Ta về thôi!
Vua cùng Hoàng hậu đứng dậy lên kiệu về Hoàng cung. Bọn Đoàn Chính
Thuần tiễn đa ra khỏi cổng lớn rồi mới trở vào Vương phủ truyền mở tiệc
ăn mừng. Vợ chồng Trấn Nam Vương cùng Đoàn Dự và Mộc Uyển Thanh
ngồi một bàn có đến mười mấy tên thị nữ đứng bên hầu hạ.
Mộc Uyển Thanh từ nhỏ đến lớn có bao giờ được dự bữa tiệc vinh hoa phú
quý như hôm nay. Những món trân tu nàng chẳng những chưa từng thấy mà
cũng chưa nghe ai nói đến bao giờ. Nàng được vợ chồng Trấn Nam Vương
coi như người nhà thế là nghiễm nhiên thành hai cặp vợ chồng, cặp già, cặp
trẻ ngồi chung trò chuyện vui vẻ nàng đã mừng thầm.
Đoàn Dự thấy mẹ chàng đối với cha vẫn ra chiều lãnh đạm, đã không uống
rượu lại chẳng ăn ngon, chỉ dùng mấy món rau đậu nhạt nhẽo, liền đứng lên
rót một chung rượu nâng đến trước mặt mẹ mời:
– Thưa mẫu thân! Con xin kính mời mẫu thân một chung rượu này.
Dao Đoan Tiên Tử vội gạt đi:
– Má có uống rượu đâu?
Đoàn Dự lại rót một chung, đưa mắt ra hiệu cho Mộc Uyển Thanh, rồi nói:
– Tôi xin mừng Mộc cô nương một ly.
Mộc Uyển Thanh cầm ly rượu đứng lên đưa đến trước mặt tiên tử. Dao
Đoan Tiên Tử nghĩ thầm: “Đối với Mộc Uyển Thanh ta chẳng nên tỏ ra quá
thờ ơ với nàng”, liền mỉm cười nói:
– Mộc cô nương! Thằng nhỏ nhà này có tính lông bông lắm đấy. Ba má giữ
y không được, cô nương phải giúp ta cai quản y mới xong.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Nếu bảo không nghe con sẽ đánh cho mấy cái bạt tai.
Dao Đoan Tiên Tử phì cười đưa mắt nhìn chồng. Đoàn Chính Thuần nói:
– Phải thế mới được.
Dao Đoan Tiên Tử đứng dậy đón lấy chén rượu ở tay Mộc Uyển Thanh.
Dưới ánh đèn sáng, nàng trông rõ bàn tay bà nhỏ nhắn, trắng như tuyết,
trong như ngọc nhưng trên mu bàn tay, chỗ gần cổ tay có miếng chàm đỏ
tươi. Bất giác nàng rùng mình, run run hỏi:
– Phải chăng bà… bà là Thư Bạch Phụng?
Dao Đoan Tiên Tử cười đáp:
– Sao cô lại biết tên của ta?
Vẫn một giọng run run Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Bà đúng là Thư Bạch Phụng, trước nay bà vẫn sử cây nhuyễn tiên làm binh
khí phải không?
Dao Đoan Tiên Tử thấy nàng biến sắc nhưng không ngờ gì nàng có ý định
ám toán, vẫn tươi cười đáp:
– Thằng Dự đối với cô thật tình lắm nhỉ, y đem cả nhu danh ta nói với cô.
Mộc Uyển Thanh kêu lên:
– Ơn thầy đã nặng, lời thầy dám sai?
Nàng vẫy tay phải một cái, hai mũi tên độc bắn ra, nhằm giữa bụng Dao
Đoan Tiên Tử phóng tới.
Bốn người ngồi bàn tiệc đang truyện trò vui vẻ, thân mật trong bầu không
khí gia đình, ai ngờ Mộc Uyển Thanh đột nhiên giở quẻ. Dao Đoan Tiên Tử
tuy võ công hơn Mộc Uyển Thanh nhiều nhưng ngồi gần nàng quá, lại trong
khi bất ngờ không kịp đề phòng, bà thấy rõ không còn cách nào tránh được
nữa. Đoàn Chính Thuần lanh mắt trông thấy, vội đưa ngón tay trỏ theo cách
điểm huyệt “Nhất Dơng Chỉ” để khống chế Mộc Uyển Thanh nhưng cũng
chậm mất rồi.
Đoàn Dự đã mấy lần thấy nàng đang cười bỗng phóng tên giết người nhanh
như chớp, đầu mũi tên đều có tẩm thuốc độc cực kỳ lợi hại. Giờ vừa thấy
nàng phất tay áo đã biết ngay là nguy đến nơi rồi. Chàng đang đứng bên
cạnh mẫu thân khốn nỗi chẳng có chút công nào để cản trở Mộc Uyển
Thanh đành theo phép Lăng Ba Vi Bộ bước chân chéo đi, chuyển mình che
đỡ cho Dao Đoan Tiên Tử. “Phập phập” hai tiếng, hai mũi tên cắm vào ngực
chàng. Đồng thời Mộc Uyển Thanh thấy sau lưng mình đánh nhốt một cái,
nàng đau quá nằm gục xuống bàn, không sao nhúc nhích được nữa.
Đoàn Chính Thuần ứng biến cực kỳ mau lẹ, đưa ngón tay ra điểm hết 8
đường huyệt đạo chung quanh vết thương cho máu độc khỏi chảy vào tim.
Ông lật tay lại, đẩy lưng Mộc Uyển Thanh lên để điểm vào huyệt khớp
xương tay phải, khiến tay nàng tê liệt không phóng ám tiến được nữa. Đoạn
lớn tiếng gọi:
– Lấy thuốc giải độc cho mau!
Mộc Uyển Thanh vẫn run run nói:
– Tôi chỉ cần giết Thư Bạch Phụng, quyết không hại Đoàn lang.
Tay phải nàng đau quá, nàng phải cố nhịn đau thò tay trái vào bọc móc ra
hai bình thuốc giải nói:
– Lấy thuốc đỏ cho uống còn thuốc trắng thoa vào vết thương. Mau lên! Chỉ
chậm một phút là không còn tài nào cứu chữa được nữa.
Dao Đoan Tiên Tử nhìn nàng trừng trừng, thấy nàng thực lòng tha thiết với
Đoàn Dự thì bà đã đoán ra mọi sự. Bà vội lấy hai viên thuốc đỏ nhét vào
miệng con, rồi lấy thuốc tán trong bình trắng rịt vào vết thương, sau khi đã
nhẹ nhàng nhổ hai mũi tên ra.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Cảm tạ trời phật. Tánh mạng chàng không còn gì đáng ngại nữa, nếu
không thì… thì tôi… hoá ra…
Đoàn Dự trúng tên rồi mê man không biết gì nữa, ngã lăn vào lòng mẹ, ngất
lịm đi. Vợ chồng Đoàn Chính Thuần mắt không rời vết thương ở ngực con,
lúc đầu thấy máu đen chảy ra, sau biến ra sắc tím rồi dần dần chuyển thành
sắc đỏ, bấy giờ mới thở phào một cái nhẹ nhõm, biết rằng con mình thoát
chết rồi.
Dao Đoan Tiên Tử ẵm Đoàn Dự lên đưa vào buồng nằm, đắp chăn cho con
rồi cầm mạch xem. Tuy mạch chạy yếu nhưng đã điều hoà bà yên dạ trở ra.
Đoàn Chính Thuần hỏi:
– Không có gì đáng ngại chứ?
Dao Đoan Tiên Tử không đáp, nhìn Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Cô bảo với Tu la đao Hồng Tần Miên…
Đoàn Chính Thuần nghe đến sáu chữ “Tu la đao Hồng Tần Miên” biến sắc
ngắt lời bảo vợ:
– Mình… mình…
Dao Đoan Tiên Tử không thèm để ý đến lời chồng, tiếp tục nói với Mộc
Uyển Thanh:
– Cô bảo với bà ấy rằng: nếu muốn giết ta thì cứ đường hoàng ra tay, hà tất
phải dùng cách lén lút thế này? Không sợ người ta cười cho ?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi không biết Tu la đao Tần Hồng Miên là ai.
Dao Đoan Tiên Tử hỏi:
– Thế ai sai cô đến giết ta?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Đó là sư phụ tôi. Sư phụ tôi sai tôi giết hai mạng, bà là một. Người chỉ bảo
trên tay bà có miếng chàm đỏ và tên là Thư Bạch Phụng, dong nhan rất mỹ
lệ, sử cây nhuyễn tiên. Người không nói gì đến bà đã thành một vị đạo cô.
Tôi thấy bà dùng cây phất trần làm khí giới lại mang danh Dao Đoan Tiên
Tử, có ngờ đâu lại chính là bà? Khổ hơn nữa lại chính là mẫu thân Đoàn
lang.
Nói xong hai hàng châu lệ trào ra.
Dao Đoan Tiên Tử Thư Bạch Phụng hỏi:
– Có phải sư phụ cô là một bà nhan sắc kiều diễm, khuyết mất ba đốt ngón
tay bên phải?
Mộc Uyển Thanh lấy làm kỳ hỏi lại:
– Đúng lắm! Nhưng sao bà lại biết? Sư phụ tôi họ Khang.
Thư Bạch Phụng hai hàng châu lệ đầm đìa chảy xuống má nói:
– Chính Thuần! Thôi mình ở lại trông nom cho Đoàn Dự!
Đoàn Chính Thuần nói:
– Thư Bạch Phụng mình ơi! Những điều oan nghiệt dĩ vãng mình để tâm làm
chi?
Thư Bạch Phụng nét mặt rầu rầu nói:
– Mình không để tâm nhưng tôi để tâm và người ta vẫn để tâm thì làm sao?
Dứt lời bà đứng phắt dậy, nhảy qua cửa sổ ra ngoài. Đoàn Chính Thuần nắm
lấy áo vợ. Thư Bạch Phụng quay lại tát vào mặt chồng. Đoàn Chính Thuần
vội nghiêng đầu né tránh.

Hết Chương 15

Hết Hồi 15

=============================================================

Chương 16   Hồi 16

Bể ái nổi phong ba

    Đoàn Chính Thuần nghiêng đầu tránh cái tát của Dao Đoan Tiên Tử, bỗng
nghe “roạc” một tiếng, tay áo Thư Bạch Phụng đứt mất một nửa, Th Bạch
Phụng cả giận quay đầu lại hỏi:
– Ngươi muốn giở võ với ta chăng?
Đoàn Chính Thuần nói:
– Thư Bạch Phụng mình…
Thư Bạch Phụng không đáp, lẹ làng nhảy vọt lên nóc nhà phía trước, rồi
thấy bóng bà nhô lên hạ xuống mười lần, đã đi đến hơn mười trợng.
Xa xa nghe rõ tiếng Lăng Thiên Lý quát hỏi:
– Ai?
Thư Bạch Phụng đáp:
– Ta!
Lăng Thiên Lý nói:
– Ôi Vương phi!
Rồi không thấy gì nữa. Thư Bạch Phụng đã đi xa, lẩn vào trong bóng tối.
Đoàn Chính Thuần đứng ngay cán tàn nhìn theo hồi lâu rồi trở vào. Mộc
Uyển Thanh sắc mặt lợt lạt, nàng vẫn ngồi yên, không lẩn trốn đi đâu cả.
Đoàn Chính Thuần lại bên, cầm hai tay nàng giật đánh “rắc” một tiếng,
khớp xuơng tay lại in như cũ. Nàng nghĩ thầm: mình đã phóng ám tiến bắn
vợ con ông này, không biết ông sẽ hành tội cách nào đây?
Bỗng thấy Đoàn Chính Thuần nét mặt thiểu não, uể oải ngồi xuống ghế,
nghiêng bình từ từ rót rượu, rồi uống ồng ộc một hơi cạn cốc, mắt vẫn trân
trân nhìn ra phía cửa sổ từ đó Thư Bạch Phụng đã nhảy ra ngoài, tâm trí
nghĩ tận đâu đâu. Ông ngồi lầm lì, lâu lâu lại rót cốc rượu khác, nốc ừng ực
một hơi hết sạch. Rồi cứ rót rồi lại uống, uống rồi lại rót liên hồi đến mười
mấy cốc. Bình này hết rượu ông lấy bình khác ra. Mộc Uyển Thanh thấy
kiểu uống rượu của ông kỳ ở chỗ rót cực chậm mà uống lại rất nhanh. Nàng
cảm thấy trong dạ mỗi lúc một bồn chồn thêm, sau nàng không nhịn được
nữa la lên:
– Chắc ông đang nghĩ cách gì cực kỳ thảm độc để hành hạ tôi, xin hạ thủ
ngay đi!
Đoàn Chính Thuần quay lại nhìn nàng hồi lâu, rồi tự nói dường nh để mình
nghe:
– Giống quá! Giống quá! Lúc mới trông mình đã nhận ra ngay. Dáng điệu
ấy, tính nết ấy!
Mộc Uyển Thanh nghe lõm bõm không hiểu, hỏi lại:
– Ông nói lảm nhảm gì vậy?
Đoàn Chính Thuần không đáp, đột ngột đứng dậy, giơ bàn tay trái ra, quạt
lật về phía sau, chênh chếch sang bên, tiếng gió nhẹ nhàng vi vu nổi lên,
thổi tắt phụt một cây đèn nến ở sau lưng. Ông tiếp tục quạt tay phải chệch
sang mé bên kia về phía sau, một ngọn đèn thứ hai lại tắt. Cứ kiểu ấy ông
quạt một lúc tắt luôn năm ngọn đèn. Mắt ông vẫn hướng về phía trước, bàn
tay đưa ra rút về nhẹ nhàng như nước chảy mây trôi, có vẻ ung dung lắm.
Mộc Uyển Thanh giật mình hỏi:
– Đây là… là phép “ngũ la khinh yên chưởng”? tại sao ông biết?
Đoàn Chính Thuần vẻ mặt thiểu não, gượng cười hỏi lại:
– Sư phụ đã dạy cô phép này chưa?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Sư phụ tôi bảo tôi chưa đủ căn bản học phép này. Người còn biểu chưởng
pháp đó người sống để bụng, chết đem đi chứ nhất quyết không truyền cho
ai.
Đoàn Chính Thuần hỏi:
– ồ! Người bảo sống để bụng, chết đem đi chứ nhất quyết không truyền cho
ai hả?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Vâng! Sư phụ tôi chỉ luyện tập lúc vắng tôi mà thôi. Tôi phải trộm ngó
đấy chứ.
Đoàn Chính Thuần hỏi lại:
– Cô thường thấy bà ta lúc nào có một mình mới luyện thôi hả?
Mộc Uyển Thanh gật đầu đáp:
– Mỗi khi sư phụ tôi luyện chưởng pháp này là hay lên ruột lắm. Trấn Nam
Vơng hình như ông còn giỏi hơn sư phụ tôi về môn này.
Đoàn Chính Thuần thở dài đáp:
– Phép “Ngũ la khinh thiên chưởng” này chính ta dạy cho sư phụ cô đó.
Mộc Uyển Thanh giật mình, không thể không tin được vì nàng thấy sư phụ
nàng phải quạt hai ba chưởng đèn mới tắt, chứ một chưởng không xong, đâu
có được như Đoàn Chính Thuần, quạt một cách dễ như không. Nàng lắp bắp
hỏi:
– Thế thì ông còn là thầy sư phụ tôi… tức tổ sư tôi rồi.
Đoàn Chính Thuần lắc đầu nói:
– Không phải thế.
Ông lấy tay chống cằm tự nói một mình:
– Mỗi khi nàng luyện chưởng là một lần lên ruột, nàng còn bảo chưởng pháp
này sống để bụng, chết mang theo…
Mộc Uyển Thanh lại hỏi:
– Thế thì ông…
Đoàn Chính Thuần lắc đầu ngắt lời bảo nàng đừng hỏi nữa. Một lúc sau ông
đột ngột hỏi:
– Năm nay cô 18 tuổi rồi nhỉ. Có phải cô sinh vào khoảng tháng 9 không?
Mộc Uyển Thanh lấy làm kỳ, giật mình đánh thót một cái hỏi lại:
– Ô hay! Sao chuyện gì của tôi ông cũng biết? Ông là thế nào với sư phụ
tôi?
Đoàn Chính Thuần tỏ vẻ đau khổ vô cùng, ngập ngừng nói:
– Uyển… Uyển con ơi! Ta… nghĩ mà thẹn với sư phụ và con lắm!
Mộc Uyển Thanh nói:
– Sao vậy ông? Tôi coi ông là người rất hoà nhã, rất tử tế mà!
Đoàn Chính Thuần hỏi:
– Sư phụ con không nói tên cho con biết ?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Người chỉ biểu là “Vô danh khách”, còn tên chi họ gì tôi cũng không biết.
Đoàn Chính Thuần hỏi:
– Bấy lâu nay sư phụ con ở đâu? Tình trạng thế nào?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Tôi ở với sư phụ mé sau một trái núi cao chót vót, không ai biết tới. Từ
nhỏ đến lớn tôi vẫn thấy người ở đó.
Đoàn Chính Thuần hỏi:
– Ba má con là ai? Có thấy sư phụ nói tới không?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Sư phụ tôi chỉ biểu tôi là một đứa côi cút, ba má bỏ rơi, người thấy ở bên
đường, nhặt về nuôi cho đến lúc khôn lớn.
Đoàn Chính Thuần hỏi:
– Thế con có giận ba má con không?
Mộc Uyển Thanh quay đi không đáp, đưa ngón tay út lên miệng nhấm
nhấm. Cử chỉ ngây thơ này khiến Đoàn Chính Thuần trông thấy luống
những đau lòng, nước mắt chảy quanh, tuôn rơi xuống má hai giọt. Mộc
Uyển Thanh rất lấy làm kỳ hỏi:
– Sao ông lại khóc?
Đoàn Chính Thuần quay ra đằng sau, lau ráo nước mắt rồi gượng cười đáp:
– Ta khóc đâu? Hôm nay uống nhiều rượu quá, rượu bốc hơi lên đấy chứ!
Mộc Uyển Thanh cãi:
– Rõ ràng tôi trông thấy ông khóc mà! Chỉ có đàn bà con gái mới khóc chứ!
Đàn ông như ông cũng biết khóc nhỉ! Tôi chưa từng thấy đàn ông khóc bao
giờ, trừ phi là con nít.
Đoàn Chính Thuần thấy Mộc Uyển Thanh ngây ngô, không hiểu việc đời lại
càng xót dạ nói:
– Uyển con ơi! Ta sẽ đối đãi với con hết lòng từ ái để bù lại những điều lầm
lỗi trước. Con muốn điều chi, cứ nói cho ta nghe, ta sẽ ráng làm cho con
được vừa lòng.
Từ lúc bắn Đoàn phu nhân, Mộc Uyển Thanh lo lắng vô cùng, giờ nghe
Đoàn Chính Thuần ôn tồn nói vậy, nàng mừng quýnh hỏi:
– Tôi vừa phóng ám tiến, định sát hại phu nhân mà ông không thù ?
Đoàn Chính Thuần đáp:
– Ta cũng nghĩ như con: “Ơn thầy đã nặng, lời thầy dám sai”. Những chuyện
xích mích giữa đám người trên không can gì đến con. Ta không giận con
đâu, có điều từ đây sắp tới con đừng vô lễ với phu nhân nữa nhé!.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Thế nhng rồi sư phụ hỏi đến biết nói làm sao?
Đoàn Chính Thuần nói:
– Con dẫn ta về ra mắt sư phụ, để ta giải thích giùm con.
Mộc Uyển Thanh vỗ tay reo:
– Hay quá! Thế thì hay quá!
Rồi nàng lại chau mày nói:
– Nhưng sư phụ thường bảo tôi rằng phái nam trên đời toàn là phường bạc
bẽo, người cấm cửa không tiếp kiến gã đàn ông nào.
Trên mặt Đoàn Chính Thuần thoáng qua vẻ ngạc nhiên hỏi:
– Sư phụ con không tiếp đàn ông ?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Đúng thế! Sư phụ tôi vẫn cậy Lý á bà mua muối gạo giùm. Một hôm, mụ
đau bảo con trai đi mua thay đem đến. Sư phụ tôi giận lắm để tận cổng
ngoài chứ không cho vào nhà.
Đoàn Chính Thuần thở dài nói:
– Tần Hồng Miên nàng ơi! Sao nàng khổ hạnh giữ gìn đến như vậy?
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Ông lại nói đến Tần Hồng Miên rồi. Tần Hồng Miên là ai vậy?
Đoàn Chính Thuần lưỡng lự một lúc rồi nói:
– Việc này không thể giấu con mãi được. Sư phụ con chính tên là Tần Hồng
Miên, ngoại hiệu là Tu la đao đó.
Mộc Uyển Thanh gật đầu nói:
– Hừ thảo nào phu nhân lúc thấy tôi vẫy tay phóng tên, cứ ngơ ngác hỏi tôi
hoài: “Tần Hồng Miên đối với cô là thế nào?”. Lúc đó thực tình tôi chưa
biết, chứ có phải tôi nói dối phu nhân đâu? Thế ra sư phụ tôi là Tần Hồng
Miên, cái tên hay quá nhỉ. Sao sư phụ lại không cho tôi hay?
Đoàn Chính Thuần không trả lời hỏi lại:
– Vừa nãy ta điểm huyệt vào tay con, bây giờ còn đau không?
Mộc Uyển Thanh nhìn mặt Đoàn Chính Thuần đầy vẻ nhu mì từ ái mỉm
cười đáp:
– Khá nhiều rồi ông ạ! Bây giờ ta thử vào xem chàng đã đỡ chưa? Tôi e rằng
chất thuốc độc này không thể một lúc khỏi ngay được.
Đoàn Chính Thuần nói:
– ừ thì vào!
Hai người đứng lên Đoàn Chính Thuần lại nhắc Mộc Uyển Thanh:
– Con muốn điều gì bảo ta nhé!
Mộc Uyển Thanh mặt đỏ như gấc, thẹn thò hạ thấp giọng:
– Tôi chỉ sợ… đã bắn phu nhân, người… người căm hờn tôi…
Đoàn Chính Thuần nói:
– Thong thả rồi sẽ xin lỗi người, sau này chắc người cũng bỏ qua đi.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi không chịu xin lỗi ai bao giờ cả, nhưng nay vì Đoàn lang tôi đành phải
xin lỗi cũng không sao.
Đột nhiên nàng đánh bạo nói tiếp:
– Trấn Nam Vương ơi! Có thật… ông nhất định thoả mãn nguyện vọng của
tôi?
Đoàn Chính Thuần nói:
– Điều gì sức ta có thể làm cho con vừa lòng được thì ta nhất định không từ
chối.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Ông giữ đúng lời hứa chứ?
Đoàn Chính Thuần mỉm cười, lại gần bên vuốt tóc nàng tia mắt tràn trề vẻ
từ ái nói:
– Ta không nói dối con đâu.
Mộc Uyển Thanh nói rất nhanh:
– Việc hôn nhân của chàng với tôi xin ông tác chủ cho, đừng để chàng phụ
bạc nhé!
Nàng nói xong mặt nóng bừng bừng. Sắc mặt Đoàn Chính Thuần mỗi lúc
một tái đi, từ từ rời Mộc Uyển Thanh, uể oải ngồi xuống ghế lâu lắm không
nói nên lời. Mộc Uyển Thanh thấy tình thế có vẻ xoay chiều, ngập ngừng
hỏi:
– Ông… ông không bằng lòng ?
Đoàn Chính Thuần nghẹn ngào nhưng nói có vẻ quả quyết:
– Con không thể kết hôn cùng thằng Dự được đâu!
Mộc Uyển Thanh như bị một gáo nưước lạnh dội vào người run run hỏi:
– Sao vậy ông? Chàng… chàng đã hứa hôn với tôi rồi mà.
Đoàn Chính Thuần lẩm bẩm:
– Oan nghiệt! Oan nghiệt!
Mộc Uyển Thanh tiếp:
– Nếu chàng không chịu tôi… tôi… sẽ giết chàng rồi tự sát. Tôi… tôi đã lập
trọng thệ với sư phụ rồi.
Đoàn Chính Thuần uể oải lắc đầu nói:
– Không được.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi vào hỏi chàng vì sao mà không lấy tôi?
Đoàn Chính Thuần nói:
– Y cũng không hiểu đâu.
Nói xong ông nhìn nét Mộc Uyển Thanh thấy nàng vô cùng đau khổ giống
hệt Tần Hồng Miên hồi được tin buồn 18 năm về trước, ông cầm lòng
không đậu buột mồm nói:
– Con không thể kết hôn cùng thằng Dự mà cũng không thể giết y được.
Mộc Uyển Thanh ngơ ngác hỏi:
– Sao thế ông?
Đoàn Chính Thuần nói:
– Vì… vì Đoàn Dự là… là… thân huynh con.
Mộc Uyển Thanh tưởng mình nghe không rõ, hãi hùng giương mắt lên nhìn
Đoàn Chính Thuần run run hỏi:
– Sao? Ông nói sao? Đoàn lang là thân huynh tôi?
Đoàn Chính Thuần buồn rầu nói:
– Uyển con ơi! Con có biết sư phụ con là ai không? Người là mẹ ruột con
đó. Ta… ta đây là cha ruột con.
Mộc Uyển Thanh vừa kinh khủng vừa oán hận, sắc mặt tái mét lắp bắp:
– Tôi… tôi không… không thể tin được.
Bất thình lình, ngoài cửa sổ có tiếng thở dài sườn sượt kế đến giọng ảm đạm
của người đàn bà nói vọng vào:
– Uyển con ơi! Về thôi!
Mộc Uyển Thanh quay phắt ra gọi:
– Sư phụ!
Một tiếng kẹt, cánh cửa sổ mở ra, một người đàn bà đứng tuổi đứng bên
ngoài, mặt trái xoan, lông mày dài, nhan sắc cực kỳ khả ái, mắt loé lên
những tia sáng hung dữ, bướng bỉnh…
Đoàn Chính Thuần thấy tình nhân cũ là Tu la đao Tần Hồng Miên xuất hiện
đột ngột, phần thì ngạc nhiên, phần lại hoan hỉ lên tiếng gọi:
– Hồng Miên! Hồng Miên nàng ơi! Mười mấy năm nay tôi chắc nàng đau
khổ lắm.
Tần Hồng Miên không đáp lời Đoàn Chính Thuần gọi con:
– Uyển Thanh con! Ra đây mau! Đừng ở trong nhà con người bạc hãnh ấy
một phút nào nữa!
Mộc Uyển Thanh thấy tình trạng giữa Đoàn Chính Thuần cùng sư phụ nàng
mà lòng nguội lạnh nàng nói:
– Sư phụ ơi! Ông… ông này thì gạt con bảo sư phụ là má còn ông ta là gia
gia con đó.
Tần Hồng Miên nói:
– Má con mất sớm mà gia gia con cũng chết rồi.
Đoàn Chính Thuần chạy ra cửa sổ ôn tồn nói:
– Hồng Miên nàng ơi! Nàng hãy vào đây để tôi được nhìn mặt nàng một lúc
đã. Từ đây nàng đừng đi đâu nữa, đôi ta vĩnh viễn sống bên nhau.
Trên mắt Tần Hồng Miên chợt thoáng qua một tia mừng hỏi:
– Ông nói thật chăng?
Đoàn Chính Thuần đáp:
– Tôi nói thật đấy! Tần Hồng Miên nàng ơi! Không một ngày nào là tôi
không tưởng nhớ nàng.
Tần Hồng Miên lại hỏi:
– Nhưng ông có bỏ được Thư Bạch Phụng không đã?
Đoàn Chính Thuần ngần ngừ không đáp, vẻ mặt đăm chiêu. Tần Hồng Miên
lại tiếp:
– Nếu ông còn thương tới con nhỏ này thì hãy đi với tôi. Vĩnh viễn không
được nghĩ đến Thư Bạch Phụng và suốt đời không trở về đây nữa.
Mộc Uyển Thanh nghe cuộc đối thoại cầm lòng không đậu, cúi gầm xuống
nước mắt chảy quanh, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn sư phụ rồi nhìn Đoàn
Chính Thuần. Vẻ mặt hai người cùng ngẩn ngơ, dường như đang theo đuổi
một viễn tưởng riêng. Nàng biết hai người ở trước mặt chính là cha sanh, mẹ
đẻ mình. Mấy hôm nay nàng mang nặng mối tình với Đoàn lang thì chàng
lại là người anh cùng cha khác mẹ với mình. Nào đâu thú uyên ương liền
cánh, nào đâu cảnh bách niên giai lão, mới trong giây phút đã biến thành
mây bay khói tỏa.
Bỗng nghe Đoàn Chính Thuần đáp:
– Tôi ở vào đại vị Trấn Nam Vương nước Đại Lý, một tay nắm cả thiên chốt
mọi cơ quan văn võ trong nước, dễ gì một chốc bỏ ra đi ngay được?
Tần Hồng Miên lớn tiếng hỏi:
– Trước đây 18 năm, ông đã nói với tôi thế nào mà bây giờ ông lại đổi
giọng? Đoàn Chính Thuần! Chẳng qua ông chỉ là kẻ bạc hãnh vô nghi.
Tôi… tôi uất hận vô cùng!
Bất thình lình trên nóc nhà phía đông vang lên ba tiếng vỗ tay, rồi bên nóc
nhà mé tây có tiếng vỗ tay đáp lại. Đồng thời có tiếng Cao Thăng Thái và
Lăng Thiên Lý hô:
– Có thích khách! Có thích khách! Các anh em ai nấy phải trấn giữ nguyên
bản vị mình, không được vọng động!
Tần Hồng Miên gọi con:
– Uyển Thanh! Con còn đợi gì chưa ra?
Mộc Uyển Thanh vâng một tiếng, phi thân nhảy vọt ra ngoài cửa sổ vào
lòng người vừa là ân sư vừa là từ mẫu nàng. Đoàn Chính Thuần gọi với:
– Tần Hồng Miên! Nàng bỏ tôi đi đấy ?
Ông trông ra thì trên nóc nhà bốn mặt đều có người đang phục sẵn. Số là
trong phủ Trấn Nam Vương rất nhiều khách, thu phục được vô số dũng sĩ võ
nghệ cao cường do Thiện Xiển Hầu Cao Thăng Thái cùng Ngư, Tiều, Canh,
Độc tiếp đãi và điều động. Động khi có việc ai nấy đều ra sức trổ tài.
Tần Hồng Miên bèn đổi sang giọng ỏn thót bảo Đoàn Chính Thuần:
– Chính Thuần chàng ơi! Chàng ở vào địa vị Vương gia mười mấy năm trời
còn chưa đủ hay sao? Chàng đi theo tôi thì từ đây chàng bảo sao tôi nghe
vậy, quyết không mắng chàng nửa câu hay đánh chàng nửa đòn đâu mà
ngại. Còn con nhỏ rất khả ái của chúng ta kia, chẳng lẽ chàng không thương
tiếc nó ?
Đoàn Chính Thuần cảm động buột miệng nói:
– Phải đó tôi đi với nàng.
Tần Hồng Miên cả mừng, đưa tay phải cho Đoàn Chính Thuần nắm lấy. Bất
thình lình phía sau có tiếng người đàn bà lanh lảnh vang lên:
– Tỷ… tỷ nương, tỷ nương lại bị gạt đó! Y chỉ đi theo tỷ nương được mấy
bữa rồi lại trở về với chức tước Vương giả.
Đoàn Chính Thuần run lên nói:
– A Bảo nàng ơi! nàng đấy ? Nàng đến từ lúc nào vậy?
Mộc Uyển Thanh nghiêng đầu nhìn xem thì người đàn bà đang nói đó mặc
áo lụa xanh, rõ ràng là Chung phu nhân trong hang Vạn Kiếp. Đằng sau bà
còn ba người nữa thì một người là Diệp Nhị Nương, một người là Vân
Trung Hạc và người thứ ba chính là Nam Hải Ngạc Thần mới ra đi lúc nãy
bây giờ lộn trở lại. Nàng giật mình kinh hãi, sợ thay cho Đoàn Dự, bèn cất
tiếng gọi:
– Đoàn lang! Đoàn lang! Chàng đã tỉnh chưa?
Đoàn Dự bị thương nằm trên giường, còn đang mơ màng thì Nam Hải Ngạc
Thần sấn vào phòng ôm lấy đem ra. Tuy bây giờ chàng sợ Ngạc Thần mới
giật mình tỉnh hẳn nhưng từ lúc trước chàng đã nghe ba người: phụ thân
chàng, Mộc Uyển Thanh và Tần Hồng Miên nói chuyện với nhau bên ngoài
cửa sổ. Mười phần câu chuyện chàng đã hiểu đến tám chín. Bây giờ chàng
thấy Mộc Uyển Thanh vẫn gọi mình bằng Đoàn lang thì trong lòng chua xót
đáp:
– Muội nương ơi! Từ đây trở đi, anh em ta tương thân tương ái, trong tình
ruột thịt cũng vẫn đằm thắm như trước.
Mộc Uyển Thanh bực mình nói:
– Không! Không được! Chàng là gã trai đã nhìn thấy mặt thiếp trước tiên
rồi!
Nói vậy thì nói nhưng nàng biết rằng mình cùng chàng đều là con ruột một
nhà Đoàn Chính, anh em ruột làm sao mà lấy nhau được? Giả tỷ trên đời có
bàn tay người lũng đoạn việc hôn nhân của nàng thì bất luận là ai, nàng
cũng dám phóng ám tiến để giết kẻ đó. Nhưng đằng này không phải người
xen vào ngăn cản hôn sự của nàng mà là tạo hoá đành hanh, thì dù nàng bản
lãnh tuyệt vời hay quyền thế đến đâu chăng nữa cũng không thể nào vãn hồi
lại được. Nàng càng nghĩ càng chán ngán, lòng lạnh như tro tàn. Bỗng nàng
giẫm chân mạnh một cái rồi nhìn về phía tây lặng lẽ ra đi.
Tần Hồng Miên gọi giật giọng:
– Uyển! Uyển con ơi! Con đi đâu đấy?
Mộc Uyển Thanh chẳng thèm đoái hoài đến cả sư phụ hay mẫu thân nữa,
chỉ buông thõng một câu:
– Bà làm khổ cả đời tôi rồi! Bây giờ để mặc tôi!
Nàng đi thẳng một lèo không quay đầu lại nữa. Nàng đang đi lanh, một tên
vệ sĩ giang tay ra ngăn lại hỏi:
– Ai?
Mộc Uyển Thanh không thèm đáp lại, phóng ngay một mũi tên trúng yết
hầu, gã té nhào lăn từ trên nóc nhà xuống đất. Nàng vẫn không dừng chân,
thoáng một cái bóng nàng đã chìm vào trong đêm tối.
Đoàn Chính Thuần thấy con trai mình đang bị Nam Hải Ngạc Thần cướp,
đành bỏ mặc con gái đi đâu thì đi, vội đưa ngón tay ra toan điểm huyệt Nam
Hải Ngạc Thần, Diệp Nhị Nương thấy vậy, phóng bàn tay mềm mại ra chặn
ngang cổ tay Đoàn Chính Thuần. Đoàn Chính Thuần xoay tay lại, móc lấy
tay mụ. Mụ cười khanh khách, phóng ngón tay giữa đẩy văng tay Đoàn ra.
Thế là chớp mắt đã trọi nhau ba miếng. Đoàn Chính Thuần cả kinh nghĩ
thầm: Mụ này gớm thật.
Tần Hồng Miên thừa cơ thò tay ra nắm đầu Đoàn Dự, lớn tiếng hỏi:
– Đoàn Chính Thuần! Chàng muốn cho thằng con này sống hay chết?
Đoàn Chính Thuần đành phải dừng tay vì biết tính Tần Hồng Miên hung
hãn vô cùng, hơn nữa nàng đang căm hận thấu xương người vợ chính thức
mình là Thư Bạch Phụng. Nàng chỉ vận chưởng một cái là Đoàn Dự phải
chết nên vội đấu dịu:
– Hồng Miên nàng ơi! Thằng nhỏ này vừa bị con gái nàng phóng trúng tên
độc, bị thương nặng lắm đó!
Tần Hồng Miên nói:
– Nó đã uống thuốc giải độc rồi, không chết đâu. Tôi tạm đem nó đi, thử
xem chàng còn coi cái chức tước Vơng giả hơn được con chàng nữa
không?
Nam Hải Ngạc Thần cười ha hả nói:
– Thằng nhỏ này không thờ ta làm thầy không xong.
Đoàn Chính Thuần nói:
– Nàng buông con tôi ra, rồi bảo sao tôi nghe vậy.
Tần Hồng Miên tuy đã xa cách Đoàn Chính Thuần mười mấy năm nhưng
mối tình không vì thế mà phai lạt nên nghe Đoàn Chính Thuần nói vậy thì
lòng nàng mềm nhũn ra, hỏi lại:
– Chàng nói thật chăng? Tôi bảo gì chàng cũng nghe nhé!
Đoàn Chính Thuần đáp:
– Tôi nói thật đấy!
Chung phu nhân xen vào:
– Tỷ nương ơi! Tỷ nương tin lời con người phụ bạc đó ? Nhạc tam tiên
sinh! Chúng ta về thôi!
Nam Hải Ngạc Thần ẵm Đoàn Dự nhảy vọt lên mái nhà phía trước mặt.
Tiếp theo là tiếng “huỳnh huỵch”, Diệp Nhị Nương và Vân Trung Hạc đã
đánh hai tên vệ sĩ ngã lăn xuống đất.
Chung phu nhân trêu chọc:
– Đoàn Chính Thuần! Hôm nay sao không choảng nhau một mẻ?
Đoàn Chính Thuần tuy nhận thấy lực lượng trong Vương phủ hùng hậu vị
tất đã không hạ nổi đối phương nhưng con mình bị chúng bắt, lâm vào tình
thế “ném chuột sợ vỡ đồ” khó bề đem võ lực ra để thủ thắng. Huống chi hai
người đàn bà này lại có mối quan hệ lớn với mình nên ông ôn tồn bảo
Chung phu nhân:
– A Bảo! Cả nàng cũng làm khó dễ ta nữa ?
Chung phu nhân đáp:
– Nay tôi đã là vợ Chung Vạn Cừu, ông đừng gọi lăng nhăng như thế được
không?
Đoàn Chính Thuần tiếp:
– A Bảo nàng có biết bấy lâu nay ta vẫn tưởng nhớ nàng không?
Chung phu nhân lại thấy mềm lòng, mắt đỏ lên nói:
– Hôm tiểu công tử đến nhà tôi, tôi nhận ngay ra con chàng.
Tần Hồng Miên bảo Chung phu nhân:
– Sư muội ơi! Sư muội lại nghe lời đường mật của con người ấy ?
Chung phu nhân cầm tay Tần Hồng Miên nói:
– Phải đó! Chúng ta đi thôi!
Đoạn quay lại bảo Đoàn Chính Thuần:
– Ông bưng thủ cấp Thư Bạch Phụng, nhất bộ nhất bái đến hang Vạn Kiếp,
bọn tôi sẽ trao trả thằng con cho ông.
Đoàn Chính Thuần lẩm nhẩm ba chữ: “Hang Vạn Kiếp”.Nam Hải Ngạc
Thần ôm Đoàn Dự chạy mỗi lúc một xa. Bọn Cao Thăng Thái, Lăng Thiên
Lý bốn mặt đổ ra ngăn cản. Đoàn Chính Thuần cất tiếng gọi to:
– Cao hiền đệ! Để bọn chúng đi thôi!
Cao Thăng Thái nói:
– Nhưng tiểu Vương gia bị chúng bắt đem đi.
Đoàn Chính Thuần đáp:
– Thủng thẳng rồi sẽ tính.
Vừa nói vừa nhảy vọt đến bên Cao Thăng Thái ra lệnh:
– Thích khách đi rồi! Ai nấy ở nguyên vị nghe.
Thoáng một cái, Đoàn Chính Thuần đã lẹ làng lướt tới bên Chung phu nhân
dịu giọng hỏi:
– A Bảo! Mấy năm nay nàng bình yên đấy chứ?
Chung phu nhân buông thõng:
– Làm gì mà chẳng bình yên?
Đoàn Chính Thuần xoay tay lại, đưa một ngón điểm vào huyệt Đản Trung
trước ngực bà một cách rất êm thấm. Chung phu nhân bất ngờ, không kịp
phòng bị, người nàng mềm ra như sứa, lảo đảo suýt ngã. Đoàn Chính Thuần
đưa tay trái ra đỡ lấy rồi giả vờ kinh ngạc hỏi:
– A Bảo! Nàng làm sao thế?
Tần Hồng Miên không biết ông ta đánh lừa cũng chạy lại hỏi:
– Sư muội! Sư muội làm sao vậy?
Đoàn Chính Thuần lại dùng phép Nhất Dương Chỉ nhanh như gió điểm vào
huyệt Kiên Trinh Tần Hồng Miên.
Cả hai nàng đều bị điểm vào huyệt quan trọng, không cựa quậy được nữa.
Đoàn Chính Thuần hai tay giữ hai nàng. Hai nàng chẳng ai bảo ai đều trừng
mắt lộ vẻ căm giận Đoàn Chính Thuần và đều tự trách mình: “Sao mình lại
hồ đồ thế được? Đã bị lừa một lần, bây giờ đến đối đầu với y mà không biết
đề phòng”.
Đoàn Chính Thuần quay ra bảo Cao Thăng Thái và Lăng Thiên Lý:
– Cao hiền đệ! Hiền đệ bị thương chưa khỏi về nghỉ đi thôi! Còn Lăng Thiên
Lý ngươi điều động anh em bốn bề phòng vệ cho nghiêm mật!
Cao Thăng Thái và Lăng Thiên Lý cúi đầu vâng mệnh. Đoàn Chính Thuần
cắp hai nàng vào trong nhà, rồi truyền cho thị tỳ lại bày bàn tiệc. Khi gia
nhân lui ra cả rồi, Đoàn Chính Thuần lại điểm huyệt chân hai nàng để hai
nàng không đi được nữa, đoạn giải phóng hai huyệt trọng yếu.
Tần Hồng Miên cả giận la lên:
– Bữa nay ngươi lại lừa dối, miệt thị hai chị em ta.
Đoàn Chính Thuần quay lại vừa xá dài hai nàng một cái vừa nói:
– Tôi tự biết mình có lỗi vậy xin tạ tội.
Tần Hồng Miên vẫn bực mình nói:
– Ai cần ngươi tạ tội? Buông tha chúng ta ngay!
Đoàn Chính Thuần giở giọng tán:
– Ba chúng ta xa nhau mười mấy năm trời nay mới lại được trùng phùng còn
muôn ngàn điều muốn nối lại chuyện xa. Hồng Miên nàng ơi! Sao nàng
vẫn giữ nguyên tính nóng? A Bảo nàng hỡi! Nàng càng lớn tuổi càng xinh.
Tôi chẳng thấy nàng già đi chút nào.
Chung phu nhân chưa đáp, Tần Hồng Miên ghen tức nói:
– Ngươi buông ta ra ngay! A Bảo càng lớn tuổi càng xinh đẹp còn ta đây
càng lớn tuổi càng già càng xấu. Ngươi nhìn mặt con già này làm chi?
Đoàn Chính Thuần nhăn nhở nói:
– Hồng Miên nàng ơi! Nàng soi gương mà coi, nếu nàng mà già mà xấu thì
những câu văn dùng để tả những bậc tuyệt thế giai nhân phải đổi lại thế này:
“Tư dung cá lặn chim sa, dáng dấp bà già xấu xí”.
Tần Hồng Miên đang giận mà không nín được phải phì cười. Nàng muốn
giậm chân kêu lên, nhưng chân đã bị điểm huyệt không nhúc nhích được.
Nàng bực quá nói:
– Ai thèm giễu cợt với ngươi? Vương gia gì mà ăn nói rặt giọng con tườu.
Dưới ánh đèn, Đoàn Chính Thuần thấy nàng chau đôi mày liễu, nét mặt
giận dỗi càng thêm vẻ khả ái thì nhớ lại cái đêm hoan lạc ngày xa, cầm
lòng không đậu, lửa lòng bốc lên ngùn ngụt, bước lại đặt lên má nàng một
cái hôn cháy miệng. Nửa người trên còn cử động được, nàng giơ tay trái lên
tát thật mạnh đánh “bốp” một cái vào mặt Đoàn Chính Thuần. Đoàn Chính
Thuần muốn tránh cái tát đó cũng chẳng khó gì, nhưng ông ta cố ý nhận cái
tát, ghé vào tai nàng nói khẽ:
– Đao tu la chém chết, làm quỷ cũng oai phong.
Toàn thân Tần Hồng Miên run lên, nước mắt trào ra, khóc rưng rức nói:
– Sao chàng… chàng còn nhắc lại câu đó?
Nguyên trước kia Tần Hồng Miên sử cặp đao tu la vũng vẫy giang hồ mà có
cái ngoại hiệu “Tu la đao”. Lúc nàng bị thất thân cùng Đoàn Chính Thuần
cũng tát Đoàn Chính Thuần một cái nổ đom đóm mắt ra. Bị tát Đoàn Chính
Thuần đã nói câu “Đao tu la chém chết, làm quỷ cũng oai phong”. Nay
nàng lại được nghe câu đó ở miệng Đoàn Chính Thuần, thật là một lời
đường mật, nó làm cho tâm can nàng phải mềm nhũn, bao nhiêu cảm giác
đê mê lại kéo đến…
Chung phu nhân khẽ bảo nàng:
– Sư tỷ ơi! Thằng cha này lại đem lời đường mật ra nhử, cốt để thoả thú
tính, sư tỷ đừng có tin lời y!
Tần Hồng Miên nói:
– Phải đó! Sư muội nói phải đó! Đoàn Chính Thuần! Ta không tin miệng
lỡi ngươi nữa đâu!
Đoàn Chính Thuần lại nhăn nhở đến bên Chung phu nhân tán:
– A Bảo! Tôi hôn mình một cái, mình có cho phép không?
Chung phu nhân nghiêm nét mặt đáp:
– Ta là gái có chồng, nhất định không để thương tổn đến thanh danh chàng.
Ngươi ức hiếp ta, ta quyết tự tử ngay trước mặt ngươi.
Đoàn Chính Thuần thấy lời nàng như dao chém đá, không dám trêu cợt nữa,
hỏi:
– A Bảo! Sao nàng lại có thể lấy con người đó làm chồng được?
Chung phu nhân đáp:
– Tuy lang quân ta xấu xa là thế, gàn dở cục xúc là thế, võ công không bằng
ngươi, nhân phẩm kém ngươi, vinh hoa phú quý so với ngươi càng không
được phần nào nhưng chàng thuỷ chung với ta, lẽ nào ta lại phụ chàng? Nếu
ta ăn ở theo lối mặt người dạ thú, tất bị trời tru đất diệt, muôn kiếp không
đợc siêu sinh.
Đoàn Chính Thuần bất giác đem lòng kính cẩn, không dám đả động gì đến
mối tình cũ kỹ nữa, hỏi sang chuyện khác:
– Các người bắt con ta đi làm gì? A Bảo! Hang Vạn Kiếp ở đâu? Nói cho ta
hay!
Bất thình lình ngoài cửa có tiếng khàn khàn:
– Nàng đừng cho y biết!
Đoàn Chính Thuần giật mình nghĩ thầm: bọn Lăng Thiên Lý ở ngoài phòng
vệ cẩn mật là thế, sao lại có người lạ vào được?
Chung phu nhân nét mặt rầu rầu hỏi vọng ra:
– Vết thương chàng chưa lành, đã đến đây làm chi?
Bỗng lại thấy có tiếng một người đàn bà trong trẻo giục:
– Chung tiên sinh! Vào đi!
Đoàn Chính Thuần lại giật mình, cả thẹn, mặt đỏ như gấc. Bỗng thấy tấm
cửa vén lên, Dao Đoan Tiên Tử nhảy vào trước, theo sau là một người đàn
ông rất xấu, mặt như mặt ngựa…
Người xấu trai đó chính là Chung Vạn Cừu. Đoàn Chính Thuần, Chung phu
nhân đột nhiên thấy Chung Vạn Cừu cùng đến với Thư Bạch Phụng rất lấy
làm kỳ.
Số là từ lúc Tần Hồng Miên cho Mộc Uyển Thanh xuống núi, vẫn không
yên dạ, liền đến chỗ sư muội ở hang Vạn Kiếp tìm kiếm thì được Chung
phu nhân cho biết đầu đuôi, rồi hai chị em cùng đi dò la. Giữa đường hai bà
gặp Diệp Nhị Nương, Nam Hải Ngạc Thần cùng Vân Trung Hạc. Tần Hồng
Miên là chỗ bạn học cũ với Diệp Nhị Nương, tuy hai người cùng học một
thầy nhưng mỗi người một ngả, không đi lại với nhau bao giờ. Nay được tin
Mộc Uyển Thanh bị hãm ở phủ Trấn Nam Vương liền cùng nhau kéo đến.
Chung Vạn Cừu coi vợ quý hơn cả mạng mình, lại có máu ghen, sau khi vợ
ra đi y ngồi đứng không yên, nghĩ quanh, nghĩ quẩn, lòng nóng như lửa đốt,
chẳng kể gì đến vết thương chưa lành cùng là đang trá tử ẩn lánh trong hang
sâu núi hiểm, nửa đêm lật đật ra đi tìm vợ. Đến ngoài phủ Trấn Nam Vương
thì vừa gặp Thư Bạch Phụng đang hậm hực đi ra. Hai người chẳng nói câu
nào, động thủ đánh liền. Đánh nhau đang hăng, bỗng thấy bóng người áo
đen lướt qua, bưng mặt thổn thức chính là Hương Dược Xoa Mộc Uyển
Thanh. Hai người cùng lên tiếng gọi giật lại, Mộc Uyển Thanh chẳng nói
chẳng rằng, cắm đầu đi thẳng. Chung Vạn Cừu bảo Đoàn phu nhân:
– Ta vội đi kiếm vợ ta có thì giờ đâu mà đánh nhau với ngươi?
Thư Bạch Phụng hỏi:
– Ngươi đi đâu kiếm vợ?
Chung Vạn Cừu đáp:
– Đến nhà thằng chó chết Đoàn Chính Thuần chứ đi đâu. Vợ ta mà để y thấy
mặt thì hỏng bét.
Th Bạch Phụng hỏi:
– Sao lại hỏng bét?
Chung Vạn Cừu đáp:
– Thằng đểu này khéo nói lắm, y quen lời đường mật lừa bao nhiêu phụ nữ
vào cạm bẫy. Lão gia không giết tên tiểu yêu mặt trắng này không xong.
Thư Bạch Phụng tự hỏi: Đoàn Chính Thuần đã ngoài bốn chục, mặt mũi râu
ria là thế sao thằng cha mặt ngựa này còn gọi y là tiểu yêu mặt trắng? Chắc
là tại y vẫn giữ nét trăng hoa đây, ta không thể không theo dõi được. Nghĩ
vậy bà liền hỏi lại gã mặt ngựa xem vợ hắn là ai, lai lịch thế nào? Khi bà ta
đã biết vợ hắn là nhân tình cũ của chồng mình thì máu ghen lại sôi lên, lập
tức cùng Chung Vạn Cừu trở lại Vương phủ. Vì thế mà bốn mặt canh gác
cực kỳ nghiêm ngặt, nhưng vệ sĩ trông thấy Vương phi còn ai dám ngăn
cản, nên hai người mới lọt vào một cách êm thấm, vì không ai báo động vào
trong.
Đoàn Chính Thuần đang cười nói, chớt nhả cùng Tần Hồng Miên và Chung
phu nhân, hai người đứng ngoài cửa sổ đã nghe hết. Thư Bạch Phụng khí
tức xông lên tận cổ, còn Chung Vạn Cừu nghe được lời vợ mình kiên quyết
thuỷ chung thì trong lòng khoan khoái vô cùng.
Chung Vạn Cừu vào đến bên vợ, phần thì thương yêu, phần lại hãnh diện có
vợ kiên trinh, gã đi đi lại lại tung tăng trước mặt phu nhân, tự đắc nói:
– Nếu hắn lấn áp, xâm phạm vào mình nàng, tôi quyết liều mạng với hắn.
Chung phu nhân nói:
– Đoàn Vương gia! Quý công tử bị Nam Hải Ngạc Thần bắt đi, lang quân
tôi xin cho lão chưa chắc đã chịu buông tha. Vương gia để tôi cùng sư tỷ
đây về tìm phương giải cứu. Nếu không lấy ra được thì ít nhất cũng giữ cho
công tử đặng bình yên.
Đoàn Chính Thuần lắc đầu nói:
– Tôi tin thế nào được các người? Chung tiên sinh! ông hãy quay về đem
con tôi đến đây đánh đổi tôi sẽ thả phu nhân về.
Chung Vạn Cừu cả giận to tiếng:
– Phủ Trấn Nam Vương của ngươi nổi tiếng là chỗ hoang dâm, càn rỡ, vợ ta
để đây sao được?
Đoàn Chính Thuần thẹn đỏ mặt quát lớn:
– Nếu ngươi còn có một câu vô lễ nữa thì đừng trách Đoàn mỗ không biết
điều.
Thư Bạch Phụng từ lúc vào nhà chưa nói nửa lời, bây giờ mới cất tiếng:
– Ông định giữ hai người đàn bà lại là có ý gì? Có phải vì thằng Dự mà ông
giữ họ lại để làm con tin hay ông giữ để thoả mãn cho ông?
Đoàn Chính Thuần than rằng:
– Đến cả mình cũng không tin tôi nữa rồi!
Đoạn xoay tay một cái, điểm huyệt giải phóng Tần Hồng Miên, rồi lại đến
gần Chung phu nhân, giơ tay ra phía sau…
Chung Vạn Cừu vội đứng chắn ngang trước mặt vợ, khoát tay nói:
– Ngươi là một gã lẳng lỡ, đã xâm phạm bao nhiêu vợ con người ta rồi, còn
vợ ta đây quyết không cho ngươi đụng chạm tới.
Đoàn Chính Thuần nhăn mặt đáp:
– Phép điểm huyệt của tiểu Vương tuy thô sơ nhưng người ngoài không giải
cứu được, để lâu lúc nữa hai chân tôn phu nhân sẽ thành cố tật.
Chung Vạn Cừu căm giận nói:
– Vợ tôi là một trang sắc nước hương trời, hoa nhường nguyệt thẹn, nếu vì
thằng giặc mà bị què quặt thì ta quyết đem con thằng giặc ra phân thây
muôn đoạn.
Đoàn Chính Thuần cười nói:
– Tôi muốn giải huyệt cho tôn phu nhân nhng tiên sinh lại không cho tôi
mó vào người bà thì biết làm thế nào?
Chung Vạn Cừu không biết trả lời ra sao, bỗng nhiên y nổi giận đùng đùng,
quát to:
– Ai bảo mi điểm huyệt vợ ta? A thôi chết rồi, lúc điểm huyệt mi đã mó vào
mình vợ ta rồi. Bây giờ ta cũng sờ vào vợ ngươi để trả miếng.
Chung phu nhân nguýt chồng nói:
– Lại ăn nói càn rỡ rồi. Không sợ người ta cười cho ?
Chung Vạn Cừu đáp:
– Cười gì mà cời? Chẳng lẽ tôi chịu thua hắn sao?
Đang lúc cãi nhau huyên náo, chợt thấy tấm rèm vén lên, một người ung
dung bước vào, mình mặc áo hoàng bào, mày thanh mắt sáng, ba chòm râu
dài. Đó chính là Bảo Định Đế tên gọi Đoàn Chính Minh.
Đoàn Chính Thuần cất tiếng chào:
– Hoàng huynh!
Bảo Định Đế gật đầu, hơi nghiêng mình một chút, giơ một ngón tay lên trên
không, nhằm vào phía ngực Chung phu nhân điểm huyệt. Bỗng thoát ra một
làn hơi trắng, chẳng khác gì tiết đông cực lạnh, khí nóng trong miệng thở
ra. Chung phu nhân thấy thượng bộ huyệt “Đan điền” nóng ran, hai luồng
nhiệt khí dẫn xuống chân, tức thì huyết mạch lu thông, mình không tự chủ
đợc, tự nhiên đứng bật dậy như chiếc lò xo. Chung Vạn Cừu thấy phép giải
huyệt không gian thì kinh dị vô cùng, há hốc miệng ra mà nhìn, không nói
lên được câu nào. Nếu mắt không trông thấy, chỉ nghe nói thì ai mà tin
được?
Đoàn Chính Thuần nói:
– Hoàng huynh ơi! Thằng Dự bị chúng cướp đem đi mất rồi.
Bảo Định Đế gật đầu nói:
– Thiện Xiển hầu đã trình ta hay rồi. Thuần Đệ! Con cháu họ Đoàn ta bị lọt
vào tay người, thì cha mẹ chú bác nhà ấy phải đi cứu lấy đem về, không có
lệ giữ người làm con tin.
Mấy câu của Bảo Định Đế thật quang minh lỗi lạc, rõ ra phẩm giá một vị
siêu phàm. ý Bảo Định Đế nói: nếu mình giữ người để toan đánh đổi chẳng
hoá ra bọn mình đường đường Hoàng tộc nước Đại Lý cũng mang ra mặc cả
với phường dân dã, thế là làm giảm thanh danh con cháu của vị chúa tể cả
nước.
Ngừng lại dây lát, Bảo Định Đế nhìn Chung Vạn Cừu bảo:
– Bây giờ các vị được tuỳ tiện ra về. Trong ba ngày họ Đoàn sẽ có người đến
đòi công tử đó.
Chung Vạn Cừu nói:
– Hang Vạn Kiếp chúng tôi rất bí hiểm khó tìm, tôi xin vạch rõ đường lối.
Giả tỷ ai hỏi đến đường lối vào hang Vạn Kiếp thì y không chịu nói, đằng
này y lại gạ Bảo Định Đế hỏi đến nhưng Bảo Định Đế không thèm hỏi gì
nữa, phất tay áo một cái nói: “xin kiếu”, rồi về cung.
Gã Chung Vạn Cừu ngoại hiệu là “Kiến nhân tựu sát”, có tính nóng nẩy lạ
thờng. Lúc y chưa vào hang ẩn lánh, khách giang hồ tầm thường nghe
tiếng y còn ở ngoài trăm dặm đã hoảng hồn, ngồi đứng không yên. Tỷ như
Thần Nông bang chúa Tư Không Huyền thấy Chung Linh là con gái y đã sợ
mất mật. Thế mà nay đứng trước mặt Bảo Định Đế nét mặt ôn hoà, con quỷ
hung hãn cũng phải sợ hãi, chân tay luống cuống vừa nghe Đế nói hai tiếng
“xin kiếu” đáp ngay:
– Vâng chúng tôi về đây. Bình nhật Chung mỗ không ưa gì người họ Đoàn
vì cả họ này chẳng có một ai là người tử tế.
Y dắt vợ nét mặt hằm hằm đi ra. Chung phu nhân cũng kéo áo Tần Hồng
Miên nói:
– Chúng ta về thôi!
Tần Hồng Miên đưa mắt nhìn Đoàn Chính Thuần, nhưng chẳng thấy ông
này nói gì thì lòng nàng tê tái, hai mắt đỏ ngầu. Nàng lại trừng mắt hung dữ
nhìn Thư Bạch Phụng rồi cúi đầu đi ra. Ba người nhảy vọt lên nóc nhà.
Thiện Xiển Hầu, Cao Thăng Thái đứng trên thềm hành lang khẽ nghiêng
mình chào:
– Xin tiễn quý khách lên đường.
Chung Vạn Cừu đứng trên mái nhà, nhổ nước miếng đánh toẹt một cái, hằn
học nói:
– Phường hôi tanh kia! Các ngươi đều là những quân đạo đức giả, chẳng có
đứa nào tử tế hết.
Nói xong, y đề khí nhảy từ nóc nhà này qua nóc nhà kia, chớp mắt đã qua
hết các toà nhà trong Vương phủ. Gần đến bức tường bao quanh, gã vận nội
công để nhảy sang thì đột nhiên phía trước xuất hiện một người, áo dài đai
rộng đứng ngay phía trước. Tưởng ai té ra là Cao Thăng Thái.
Nguyên Cao Thăng Thái từ lúc đưa khách vẫn đi sau bọn Chung Vạn Cừu.
Vậy mà ông ta vọt lên trước lúc nào chẳng ai hay thế mới thần tình. Hơn
nữa ông ta đứng trúng giữa chỗ Chung Vạn Cừu từ trên nóc nhẩy xuống tất
phải đặt chân vào không trệch một ly. Chung Vạn Cừu theo đà, đang lơ lửng
từ trên không nhảy xuống dĩ nhiên không thể lùi lại mà muốn chuyển hướng
nhảy ra chỗ khác cũng không được liền quát lên:
– Tránh ra!
Đồng thời y phóng cả hai bàn tay ra nhằm Cao Thăng Thái đánh tới, y đinh
ninh chưởng lực của mình đập xuống đá còn vỡ tan, thì nếu đối phương cứ
đứng nguyên chỗ kháng cự sẽ bị hất xuống chân tường. Dù đối phương có
ngang sức mình chăng nữa thì mượn sức từ trên giáng xuống cũng đủ lực để
chèn đối phương, đứng xuống mặt tường. Mắt y nhằm đúng ngực Cao
Thăng Thái đánh tới, bỗng thấy Cao Thăng Thái ngửa người về phía sau
theo thế “Thiết bản kiều”, chỉ có hai chân vẫn dính vào tường, còn toàn thân
uốn cong chơi vơi ra ngoài như chiếc cầu lơ lửng không gian, để tránh đòn
hai bàn tay Chung Vạn Cừu phóng tới.

Hết Chương 16

Hết Hồi 16

=============================================================

Chương 17   Hồi 17

Một nhân vật quái dị

    Chung Vạn Cừu đánh không trúng than thầm: “Thôi chết rồi”. Người y trợt
qua Cao Thăng Thái, chỉ sai dịch nửa phân. Kể ra thì võ công Chung Vạn
Cừu chưa chắc đã kém Cao Thăng Thái nhưng vì thất cơ một chút thành ra
ngực bụng trống trải để bên địch muốn làm gì thì làm. May mà Cao Thăng
Thái không thèm hạ thủ. Chung Vạn Cừu vận nội công đứng được xuống
đất, đi theo Tần Hồng Miên và Chung phu nhân. Lúc đó hai người đã vượt
tường ra ngoài rồi.
Cao Thăng Thái đứng thẳng người trên mặt tường, quay ra xá khách, hai tay
áo rộng lùng thùng bay phất phới coi rất ung dung. Ông vừa xá vừa nói:
– Tôi không thể tiễn chân xa được, xin quý vị miễn thứ.
Chung Vạn Cừu đằng hắng một tiếng, suýt nữa tụt quần, y đưa tay ra nắm
vội lại được, không thì dơ quá. Bấy giờ y mới biết dây lưng đứt mất rồi. Thì
ra lúc đánh sểnh, người y trườn qua phía trên Cao Thăng Thái, đã bị Cao
đưa ngón tay lên bấm đứt dây lưng. ấy là Cao Thăng Thái không muốn
tuyệt tình, nếu ông giơ một ngón tay lên chẹn huyệt “Đan điền” thì Chung
Vạn Cừu đã biến thành cái xác không hồn, lăn quay xuống đất.
Lại nói đến Hương dược xoa Mộc Uyển Thanh, bàng hoàng vừa ra khỏi phủ
Trấn Nam Vương thì gặp Thư Bạch Phụng cùng Chung Vạn Cừu. Hai người
cùng lên tiếng gọi nhưng nàng lờ đi không đáp, cứ cắm đầu chạy một mạch.
Nàng cũng không biết là mình chạy đi đâu. Đoái trông dặm rừng bát ngát,
không có chỗ nào tạm trú nghỉ chân. Nàng cứ chạy hoài, không biết đã qua
bao nhiêu quãng rừng núi hoang vu. Chạy cho đến lúc trời rạng đông thì
người nàng mệt nhoài, hai chân bủn rủn, không chịu được nữa, đành phải
dừng bước, tựa vào gốc cây than rằng: “Ta chết quách đi cho rồi!”. Trong
lòng nàng chứa chất bao nhiêu nỗi oán hờn mà chẳng biết trút lên đầu ai
cho phải. Nàng tự hỏi:
– Oán Đoàn lang chăng?
– Không được! Chàng có phụ bạc gì ta đâu? Vì chàng là anh em cùng cha
khác mẹ với ta, nên nỗi trai duyên lỡ kiếp.
– Oán sư phụ ta chăng?
– Vô lý người là mẹ ruột ta, mười mấy năm trời phải chịu bao nhiêu nỗi cay
đắng để nuôi nấng cho ta trưởng thành. Ơn đức trời biển cha đền, đâu dám
oán hận?
– Đến Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần thì lại là phụ thân ta. Dù người
đối với mẫu thân ta có điều oán hối nhưng biết đâu bên trong còn bao nhiêu
nỗi uẩn khúc mà mình chưa hiểu? Người đối với ta vẻ mặt ôn hoà, đầy lòng
từ ái, hỏi ta muốn điều gì sẽ hết sức làm cho được như nguyện để đền bù
mười mấy năm qua đã không săn sóc tới. Thế nhưng cái chí nguyện của ta
là đặng kết hôn cùng Đoàn lang thì người không thể làm được. Mẫu thân ta
không được cùng người vui đạo, xướng tuỳ chẳng qua chỉ vì mình Thư Bạch
Phụng mà ra nên sai ta giết Thư Bạch Phụng. Nàng suy bụng ta ra bụng
người: “giả tỷ ta cùng Đoàn lang vẹn mối lương duyên, hồ dễ ta chịu để yên
cho một người đàn bà thứ hai nào đến tranh cướp hạnh phúc của đời ta?
Huống chi bà đã bỏ nhà đi tu thì hẳn trong lòng cũng uất hận phụ thân ghê
gớm và bà cũng đau khổ vô cùng rồi. Ta phóng hai mũi tên, làm cho đứa
con cưng độc nhất của bà bị trọng thương, thế mà bà không thù oán ta thì bà
đâu có phải là người độc ác?”.
Nàng nghĩ nhiều lắm, càng nghĩ càng tê tái lòng rồi tự nhủ: “Ta phải quên
hẳn Đoàn Dự, từ đây không nghĩ gì đến chàng nữa”. Nói vậy thì nói chứ đâu
phải chuyện dễ dàng? Muốn quên chàng trong giây phút cũng không xong.
Mỗi lúc tưởng đến hình ảnh khôi ngô tuấn tú của Đoàn lang lòng nàng lại
đau nhói lên như bị đánh một quyền vào giữa ngực. Sau nàng tìm lời giải
thích rồi tự an ủi: “Thôi từ đây ta nhìn nhận chàng là người anh ruột rất thân
ái là xong. Trước ta tủi phận mồ côi, không cha không mẹ, nay được đủ cả
cha lẫn mẹ lại thêm người anh cả rất tử tế, đời ta đâu đến nỗi cô đơn, vậy
mà ta còn mua não chuốc sầu thì thật là một đứa điên rồ”. Khốn nỗi con
người đã mắc lưới tình, tơ tình tuy mỏng manh mà càng rút càng chặt. Khi ở
trên núi Vô Lượng ròng rã bảy đêm ngày, nàng trông ngóng Đoàn Dự đã
mòn con mắt, phương trời đăm đăm, rễ tình đã ăn sâu vào tâm khảm, không
thể nào nhổ lên được nữa.
Mộc Uyển Thanh đang nghĩ ngợi liên miên thì vẳng bên tai bì bòm sóng vỗ,
ầm ầm nước reo, nàng càng đi vào chỗ tuyệt vọng, chí muốn tự tử đã bắt
đầu nẩy nở. Nàng đi về phía có tiếng sóng vỗ nước chảy phát ra, quanh hết
một trái núi thì sông Lan Thương mông mênh hiện ra trước mắt. Nàng dừng
chân lẩm bẩm: “Ta chỉ nhẩy xuống đây một cái là hết mọi điều phiền não”.
Nàng bèn men theo sườn núi xuống tới bờ sông.
Mặt trời vừa lên, ánh triều dương chiếu xuống mặt sông rực rỡ như vạn con
kim xà đang nhảy múa, cảnh sắc trước mặt cực kỳ tráng lệ. Nghĩ đến
chuyện nhảy xuống sông nàng cảm thấy tiêng tiếc không còn được nhìn bức
phong tuyệt mỹ của tạo vật. Nàng đang đứng trơ như phỗng, làn sóng tư
tưởng nổi lên cuồn cuộn, thì mắt nàng chợt trông thấy một người ngồi trên
phiến đá cách đó chừng vài chục trượng. Người này ngồi như pho tượng,
không nhúc nhích, mình mặc áo bào màu xanh thẳm lẫn với mầu đá núi. Vì
thế mà người đó đã đến ngồi từ bao giờ nàng không hay biết. Mộc Uyển
Thanh nhìn hồi lâu, trong bụng kinh nghi tự hỏi: “Dường như là một cái tử
thi”. Từng giết người như ngoé nên đối với xác chết, nàng chẳng chút ghê
rợn. Tính hiếu kỳ thúc đẩy nàng lại gần xem thì ra một ông già, râu chùng
đến giốn, sợi nào cũng đen nhánh, mắt mở thao láo, chăm chú nhìn dòng
nước. Mộc Uyển Thanh buột miệng nói: “A không phải xác chết”. Nàng
nhìn một lúc nữa, thấy cả con người lão vẫn trơ trơ, mắt vẫn đờ ra như
không có hào quang, rõ ràng không phải người sống. Nàng lại tự hỏi: “Hay
đúng là xác chết?”. Nhìn lại thấy mắt tử thi dường như có chút tinh thần, sắc
mặt còn hơi tươi. Nàng để tay lên mũi không rõ ra người đã tắt thở mà cũng
không thấy hơi thở. Nàng lại sờ vào mặt vào cổ, thấy lúc lạnh lúc ấm, để tay
lên ngực thấy trái tim như ngừng đập. Mộc Uyển Thanh rất lấy làm kỳ lẩm
bẩm: “Con người này thật là quái dị, bảo y là xác chết thì dường như y còn
sống, bảo y là người sống thì lại hình như là kẻ chết rồi.
Bất thình lình có tiếng người nói:
– Ta vẫn sống đây mà.
Mộc Uyển Thanh giật mình quay đầu nhìn lại phía sau thì chẳng thấy ai.
Bãi sông bát ngát toàn sỏi đá, không có chỗ nào ẩn núp được. Nàng vẫn
chăm chú nhìn người kỳ quái đó cho đến lúc có tiếng vọng lên, cũng chẳng
thấy y há miệng, nhếch môi. Nàng lớn tiếng hỏi:
– Kẻ nào dám cả gan trêu trọc cô nương đó? Mi không sống yên lành được
đâu.
Nàng vừa nói vừa bước giật lùi lại, quay lưng ra phía dòng sông, đảo mắt
nhìn ba mặt bỗng nghe có tiếng đáp:
– Thế mà ta vẫn yên lành đấy!
Mộc Uyển Thanh càng kinh ngạc vì chẳng thấy bóng một ai, ngoài con
người quái dị ngồi đó. Nhưng người này mồm miệng ngậm chặt mà sao vẫn
có tiếng người? Nàng quát hỏi:
– Ai nói đó?
Vẫn có tiếng đáp lại:
– Mi nói đó chứ ai?
Nàng tức quá, hỏi gay gắt:
– Nhưng kẻ nói với ta là người nào?
Có tiếng đáp:
– Chả có người nào nói với mi hết.
Nàng xoay mình rất nhanh mà trông tuyệt không thấy bóng người nào cả thì
biết chính là lão mặc áo bào xanh ngồi đó tác quái, liền mạnh dạn tiến lại,
vừa lấy tay sờ môi lão vừa hỏi:
– Phải chăng ngươi đã nói với ta vừa rồi?
Vẫn có tiếng đáp:
– Không phải!
Mộc Uyển Thanh tay vẫn sờ miệng lão mà chẳng thấy máy môi chi hết,
nàng lại hỏi:
– Rõ ràng có tiếng đáp lời ta, sao lại bảo không có?
Tiếng nói đó đáp:
– Ta không phải là người, ta cũng chẳng phải là ta. Trên đời này không có ta
nữa.
Bấy giờ thì quả Mộc Uyển Thanh sợ lắm, mình sởn gai ốc. Nàng tự nghĩ:
“chẳng lẽ ma quỷ trêu mình?”, rồi nàng hỏi:
– Mi… mi là ma quỷ phải không?
Đáp:
– Mi đã không muốn sống nữa thì rồi sẽ thành ma quỷ, sao còn sợ ma quỷ?
Mộc Uyển Thanh làm già:
– Ai bảo mi ta sợ quỷ? Này ta bảo: đến trời đất ta còn không sợ nữa là…
Đáp:
– Thế mà mi đang sợ một điều.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Hừ! Ta đây còn sợ cái gì bao giờ?
Đáp:
– Mi đang sợ… lang quân mi biến thành ca ca mi.
Câu đó chẳng khác gì nhát búa bổ xuống đầu nàng. Hai chân mềm nhũn,
nàng ngồi bệt xuống đất, miệng há hốc ra lẩm bẩm:
– Mi là quỷ, rõ ràng có quỷ!
Đáp:
– Ta có phép biến, biến ca ca mi không phải là anh mi nữa mà biến thành ra
chồng mi.
Mộc Uyển Thanh run run nói:
– Mi… mi đừng bịp ta nữa! Đó là việc trời định, biến thế nào thì biến… chứ
biến làm sao đợc anh ruột ra chồng?
Đáp:
– Lão trời đáng đánh chết, hay sinh chuyện rắc rối. Ta không lý gì đến lão
nữa. Ta thực có phép mầu, làm cho anh mi biến thành ra chồng mi được, mi
có muốn thế không?
Mộc Uyển Thanh đang lúc tuyệt vọng, lòng lạnh nh tro tàn, nghe nói câu
đó chẳng khác chi trời ban chiếu chỉ. Dù nàng vẫn bán tín bán nghi nhng
cũng đáp ngay:
– Tôi mong được như vậy! Tôi mong như vậy lắm!
Có tiếng hỏi:
– Ta làm được việc đó cho mi thì mi lấy gì tạ ơn ta?
Mộc Uyển Thanh buồn rầu đáp:
– Tôi biết lấy gì tạ ông? Vì tôi chẳng có chi hết.
Có tiếng nói tiếp:
– Hiện giờ mi chưa có, rồi sau mi sẽ có chứ!
Mộc Uyển Thanh nói:
– Ông muốn cái gì tôi lấy cái đó tạ ơn ông.
Hỏi:
– Nhưng đến lúc bấy giờ mi lại chối thì sao?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Tôi quyết không nói hai lời.
Nàng nghĩ rằng: “trên đời có cái gì quý cho bằng Đoàn lang trở nên chồng
mình? Dù mình có làm đến Hoàng đế là cùng thì tiếc gì cái ngôi Hoàng đế,
đem nhường cho con người quái dị này cũng được chứ sao?”.
Hỏi:
– Lời đàn bà con gái ai mà tin được? Bây giờ mi nói thế rồi sau mi cãi thì
sao?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Ông đã thần thông ghê gớm như vậy nếu tôi cãi lời thì ông vặn cổ tôi đi,
tôi chẳng oán thán gì hết.
Có tiếng nói:
– Nếu sau này ta đòi điều gì mà mi không chịu, ta không giết mi đâu nhưng
ta sẽ giết chồng mi đó.
Mộc Uyển Thanh nghĩ thầm: “Ta quyết một lòng chung thuỷ cùng Đoàn
lang, không còn cải giá lấy ai. Nếu quả Đoàn lang biến hoá không phải là
anh ta nữa mà là chồng ta thì bất luận sự vật gì ta cũng bỏ được hết, không
có lý nào ta còn chối cãi nữa”, bèn trả lời:
– Tôi xin y lời ông.
Có tiếng nói:
– Đến lúc đó ta cấm mi không được năn nỉ khóc lóc nhé. Ta đây đệ nhất
ghét là đàn bà con gái khóc nhè đó.
Mộc Uyển Thanh nói:
– Có bao giờ tôi chịu van xin năn nỉ ai? Nhưng ông là ai cho tôi coi mặt
được không?
Đáp:
– Mi nhìn ta mãi từ nãy đến giờ chưa đủ hay sao?
Tiếng nói cứ đều đều một làn, không lên cao, xuống thấp, hay tiếng to tiếng
nhỏ.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Ông… ông là… người ngồi đó sao?
Đáp:
– Ta cũng không biết ta có phải là ta nữa không?
Sau có tiếng thở dài thườn thượt tỏ ra trong lòng có điều chi đau đớn, uất ức
vô cùng. Mộc Uyển Thanh không ngờ gì nữa, đúng là ông già mặc áo xanh
ngồi ngay trước mặt liền hỏi:
– Ông nói mà sao tôi không thấy môi mấp máy?
Đáp:
– Ta là người chết rồi mà còn sống, môi mép cứng đờ không cử động được
nữa, tiếng nói chỉ ở trong bụng phát ra mà thôi.
Mộc Uyển Thanh hãy còn tính trẻ con, nàng vừa mới thảm sầu là thế, giờ
thất lão bảo lão nói không mở miệng, máy môi nàng lấy làm thú vị hỏi:
– Nói bằng bụng được kỳ quá ông nhỉ!
Ông già áo xanh nói:
– Mi sờ vào bụng ta xem thì biết.
Mộc Uyển Thanh đa tay sờ vào bụng lão, lão hỏi:
– Ta đang nói đây, mi có thấy bụng ta chuyển động không?
Mộc Uyển Thanh thấy da bụng lão động đậy dới lòng bàn tay nàng thì
buồn cười hỏi:
– Ha ha thật là cổ quái.
Nguyên lão áo xanh luyện được môn Phúc ngữ thuật. Đời nay ta xem bọn
làm trò quỷ thuật thì môn này rất thường, nhưng thời bấy giờ đã biết và
luyện được đến mức độ tinh vi nh lão áo xanh thì trừ phi tay tuyệt giỏi nội
công không ai học được.
Mộc Uyển Thanh đi vòng quanh người lão xem kỹ rồi hỏi:
– Mồm miệng ông không cử động được thì ông ăn uống bằng cách nào?
Lão đưa hai tay ra, một tay vạch môi trên, một tay giữ môi dưới cho miệng
há ra, đoạn để hai ngón tay trái chống lên, còn tay phải cầm không rõ
miếng gì đút vào miệng, nghiến đánh “ráu” một tiếng rồi nuốt xuống. Lão
nói:
– Ta ăn nh vậy đó.
Mộc Uyển Thanh phàn nàn:
– Ôi thực đáng buồn cho ông, ăn nh vậy thì còn biết mùi vị gì nữa?
Bây giờ nàng mới hiểu rằng: da thịt trong người lão cứng đờ nên mắt không
nhắm, miệng không mở được. Thất tình không biến đổi sắc mặt nên lúc mới
trông tưởng lão là cái xác chết.
Tuy nàng cũng sợ lão đấy nhng nghĩ rằng chính mình lão còn có bao nhiêu
nỗi cay đắng, lão giải quyết cho lão cha xong còn nói chi đến chuyện phản
lại lề luật tạo hoá để biến anh ruột thành chồng mình được? Những câu lão
vừa nói chẳng qua là chuyện bâng quơ mà thôi. Nàng lưỡng lự một lúc rồi
nói:
– Tôi muốn đi thôi.
Lão áo xanh hỏi:
– Đi đâu?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Tôi cũng chẳng biết nữa.
Lão áo xanh nói:
– Ta sắp biến Đoàn Dự thành chồng mi, mi còn đi đâu?
Mộc Uyển Thanh cời lạt rồi cứ đi về phía tây. Đợc vài bớc nàng dừng lại
hỏi:
– Tôi với ông cha từng quen biết, sao ông lại hiểu rõ tâm sự tôi? Ông… ông
đã biết Đoàn lang cha?
Lão đáp:
– Tâm sự mi tự nhiên ta biết hết, quay lại đây mau!
Lão giơ tay trái lên một cái thì lạ thay: Mộc Uyển Thanh cảm thấy có một
sức mạnh vô hình đẩy nàng trở lại, không tài nào kháng cự được. Nàng
chệch choạc bước mấy bước đến trước mặt lão. Mộc Uyển Thanh cả kinh,
thất sắc, giọng nói run run:
– Môn võ của ông có phải là… “Cầm long túng hạc” không?
Lão đáp:
– Con nhãi này thế mà kiến văn quảng bác đấy. Đây không phải là môn
“Cầm long túng hạc”, chỉ có công dụng của nó là giống như môn “Cầm long
túng hạc” mà thôi, còn phép luyện thì khác hẳn.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Thế môn này gọi là gì?
Lão đáp:
– Gọi là “Quy khứ lai hề”
Mộc Uyển Thanh cời nói:
– Cái tên “Quy khứ lai hề” nghe còn hay hơn là “Cầm long túng hạc”. Giả tỷ
Đoàn lang nghe thấy, chàng… chàng…
Nghĩ tới Đoàn Dự, lòng nàng lại quặn đau, không buồn nói nữa. Lão áo
xanh rút trong mình ra hai cây gậy trúc đen lánh nói:
– Ta đi thôi.
Tay trái lão cầm gậy trúc chỉ vào phiến đá, tung mình lên một cái đã ra xa
đến hơn một trượng. Mộc Uyển Thanh thấy hai chân lão vọt lên trên không
mà vẫn giữ nguyên kiểu người ngồi. Cây gậy nhỏ bé như vậy, một đầu chỏ
xuống đất mà lão ngồi trên có vẻ rất vững chắc. Nàng lấy làm kỳ nói:
– Cặp giò của ông…
Lão ngắt lời:
– Hai chân ta bị tàn phế đã lâu. Thôi nhé! Từ giờ trở đi ta cấm ngươi không
được hỏi câu gì nữa nghe không?
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi còn hỏi nữa.
Nàng vừa nói thì đột nhiên thấy chân mình mềm nhũn, té lăn xuống đất. Vì
tay áo lão phất ra một luồng gió cực mạnh, gậy trúc nơi tay phải lão điểm
vào đầu gối nàng, còn một gậy đánh xuống. Hai chân bị đau đến xương tuỷ
nàng lại la to lên một tiếng “ối”.
Lão áo xanh lại cầm gậy trúc điểm luôn mấy cái để giải phóng huyệt đạo
nàng. Mộc Uyển Thanh nhẩy bật lên một cái cả giận nói:
– Lão này vô lễ thật!
Nàng vẩy tay toan phóng ám tiến ra. Lão áo xanh nói:
– Mi bắn ta một phát ta đánh mi một đòn, bắn mười phát đánh mười đòn. Mi
không tin bắn thử coi.
Mộc Uyển Thanh nghĩ bụng: ta chỉ phóng một phát mà trúng là lão chết tử
rồi còn đâu mà đánh? Nhưng xem ra lão này thần thông quảng đại, so với
Nam Hải Ngạc Thần còn có phần hơn, khó lòng bắn trúng được lão. Còn
lão nói sao là làm được thế, ta tất bị lão đánh nhừ tử.
Còn đang nghĩ ngợi lão áo xanh lại nói:
– Mi đã không dám bắn ta thì phải ngoan ngoãn tuân theo lời ta, không được
trái lệnh.
Mộc Uyển Thanh vẫn bớng:
– Ta không ngoan ngoãn tuân theo lời lão đã sao?
Tuy miệng nói thế nhng buông tay xuống không phóng tên nữa. Lão áo
xanh dùng hai gậy trúc thay thế cho hai cặp giò ra đi. Mộc Uyển Thanh
thấy hai cây gậy trúc cứng nh gang thép, chống đỡ lấy cả ngời lão một
cách rất vững vàng, thẳng thắn. Mỗi cây gậy dài độ bảy tám thước nên bước
lão dài gấp đôi, gấp ba người thường. Mộc Uyển Thanh phải vận hết nội
công, gắng gợng mới theo kịp.
Lão áo xanh vượt qua những đỉnh núi cao chẳng khác gì đi trên đất bằng.
Lão không theo nhữmg đường lối có sẵn cứ nhằm thẳng phía trước mà đi,
bất luận những chỗ đá núi ngổn ngang hay chông gai đầy rẫy lão cũng bước
tràn vì có hai cây gậy trúc dưới chân. Chỉ khổ cho Mộc Uyển Thanh, quần
áo vướng vào cây cối rách tướp. Nhưng bản tính quật cường, nàng không
thèm mở miệng ca thán để tỏ ta con người khiếp nhược.
Hai người vợt qua mấy trái núi, xa xa đã trông thấy bãi tha ma, mồ mả lô
nhô. Mộc Uyển Thanh lẩm bẩm: đến hang Vạn Kiếp rồi đây. Quả nhiên lão
áo xanh tiến đến trước tấm bia đá khắc chữ “Phần mộ Vạn cừu Đoàn”, rồi
cầm gậy đập vào chữ Đoàn.
Mộc Uyển Thanh đã ra vào hang Vạn Kiếp mấy lần, mỗi lần vào hang là
phải đập mấy cái vào chữ Đoàn nhưng lần này nàng rất có cảm tình với chữ
Đoàn, liền hỏi lão:
– Vào hang Vạn Kiếp làm chi?
Lão áo xanh quay phắt lại, cầm gậy trúc đập vào chân nàng hỏi:
– Mi còn hỏi nữa thôi?
Mộc Uyển Thanh vốn tính ngang ngạnh, dù đối với tay địch bản lãnh hơn
mình, nàng vẫn không chịu để người lấn áp. Nhưng giờ nàng nghĩ rằng
không những lão này bản lãnh hơn mình mà còn giúp mình đạt ý nguyện
nên nàng chỉ nói bướng một câu:
– Cô nương không sợ đâu nhé, bây giờ tạm ẩn nhẫn mà thôi.
Lão áo xanh giục:
– Vào!
Chờ Mộc Uyển Thanh bước vào trước rồi lão mới bước vào sau. Đường lối
trong hang Vạn Kiếp lão đã thuộc làu. Mấy lần Mộc Uyển Thanh toan hỏi
nhung sợ lão đánh lại thôi. Nàng theo lão lúc rẽ bên phải, lúc vòng bên trái,
đi ra phía sau động.
Mộc Uyển Thanh từ khi rời sư phụ đến kiếm sư thúc là Chung phu nhân ở
hang Vạn Kiếp, tuy hai người không hợp tính nhau, ngay hôm đầu đã cùng
nhau gây lộn nhưng nàng cũng ở đó mấy hôm. Thế mà bữa nay lão áo xanh
đưa nàng qua những nơi mà nàng chưa biết tới, không ngờ hang Vạn Kiếp
lại nhiều chỗ hoang lương tịch mịch đến thế.
Đi mấy dặm nữa thì vào đến một khu rừng già, bốn bề toàn cổ thụ ngất trời.
Giữa ban ngày mà ánh dơng quang rực rỡ cũng không len lỏi vào được,
trong rừng âm u chẳng khác gì trời lúc hoàng hôn. Càng vào sâu cây càng
dầy, sau phải lách mình mới đi đợc. Đi thêm vài mơi trợng thì đến trớc
đám cổ thụ mọc dầy liền khít nhau nh một bức tờng không thể lách qua
đợc. Lão áo xanh cắm gậy trúc xuống đất để chống vào nách đứng, chĩa
hai bàn tay đặt vào khe hai cây lớn rồi vận nội lực đẩy hai cây từ từ rẽ ra hai
bên để hở ra một lối đi rộng hơn thước. Lão quát bảo Mộc Uyển Thanh:
– Qua đi!
Mộc Uyển Thanh không kịp đắn đo gì nữa, lách mình một cái đã sang bên
kia. Một bãi rộng hình tròn hiện ra trơức mặt nàng. Giữa bãi nổi lên một toà
thạch thất trơ trọi. Cách kiến tạo toà thạch thất này thật là ngộ nghĩnh.
Người ta lấy những phiến đá lớn nặng tới mấy ngàn cân xếp lên, chỗ lồi chỗ
lõm trông rõ ra một hòn non bộ có để hở ra một chỗ làm cửa.
Lão áo xanh lại quát:
– Vào đi!
Mộc Uyển Thanh nhìn vào chỉ thấy tối om, không hiểu trong có những quái
vật gì. Nàng lưỡng lự không dám tiến vào thì một bàn tay đặt lên sau lng
nàng. Nàng toan né tránh thì lão áo xanh vận chưởng lực đẩy mạnh một cái.
Mộc Uyển Thanh không thể tự chủ được bị hất văng vào trong. Nàng đa
tay sử thế “Hiển phong phất liễu” che mặt đề phòng va chạm vào vật gì
chăng thì nghe đánh sầm một tiếng, cửa thạch thất đã bị một vật cực nặng
đóng sập xuống. Mộc Uyển Thanh cả kinh, chạy lại đẩy cửa, đặt bàn tay
vào thấy ráp lởm chởm mới biết là một tảng đá hoa cơng rất lớn. Nàng vận
hết nội công đẩy cũng không nhúc nhích. Nghỉ một lát rồi lại cố đẩy lần
nữa nhng chẳng khác gì chuồn chuồn lay cột đá. Mộc Uyển Thanh hốt
hoảng vội lớn tiếng hỏi:
– Mi giam ta vào đây làm gì?
Bỗng nghe tiếng lão áo xanh đáp:
– Mi cầu khẩn ta việc gì mi quên rồi sao?
Sơ dĩ lão đứng bên ngoài nói mà nàng nghe rõ là vì tảng đá lấp cửa có đục
một lỗ thông suốt. Mộc Uyển Thanh định thần nhìn lại thấy phía trên tảng
đá có nhiều kẽ hở, chỗ nhỏ bằng sợi dây, chỗ lớn đút lọt cánh tay nhưng
người chui thì không lọt. Nàng la lên:
– Buông thả ta ra! Buông thả ta ra!
Ngoài thạch thất không có tiếng đáp lại, chợt nghe cành cây chạm nhau lắc
cắc thì biết là lão áo xanh đã ra khỏi “bức tường cây” đi rồi.
Mộc Uyển Thanh nhìn qua những lỗ hổng ra ngoài nhưng chẳng thấy chi trừ
những lá cây rơi lác đác, bay phất phới. Nàng quay vào giơng mắt nhìn
khắp nhà, chợt thấy trong góc có đặt một cái giường, trên giường có một
người ngồi. Nàng giật mình hỏi:
– Ngươi… ngươi…
Ngời đó hỏi lại:
– Thanh muội! Em cũng vào đây ?
Giọng nói lộ vẻ sửng sốt và vui mừng, nghe biết ngay là Đoàn Dự. Mộc
Uyển Thanh đang lâm vào hoàn cảnh tuyệt vọng, bỗng nhiên gặp Đoàn Dự
nàng mừng quá, trái tim cơ hồ ngừng đập. Nàng nhảy tót ngồi vào lòng
chàng.
Trong nhà ánh sáng chỉ hơi lờ mờ. Đoàn Dự thấy mặt nàng nhợt nhạt, hai
dòng lệ như muốn trào ra, trong lòng xiết bao thương cảm ôm chặt lấy
nàng. Nhìn đôi môi mấp máy chàng không thể nhịn được, cúi đầu xuống
hôn. Hai cặp môi vừa đặt lên nhau thì đồng thời cùng nghĩ đến đã là tình
anh em ruột thịt sao lại có những hành động loạn luân? Rồi cùng buông
nhau ra lùi lại phía sau. Hai người ngồi tựa lưng vào vách đá, run run nhìn
nhau. Mộc Uyển Thanh bật lên tiếng khóc nức nở. Đoàn Dự dịu giọng an ủi
nàng:
– Thanh muội ơi! Đó là do tạo hoá an bài, hiền muội đừng buồn phiền nữa.
Anh được có em gái như hiền muội cũng đủ vui mừng lắm rồi.
Mộc Uyển Thanh giậm chân, vừa khóc vừa nói:
– Nhưng tôi không thể không buồn phiền để mà hoan hỉ cho được. Tôi đau
khổ mà chàng vẫn vui mừng thì thật là loài bất nhân.
Đoàn Dự than rằng:
– Anh chẳng có cách nào làm cho em vui lòng. Thế này thì thà chẳng được
gặp em nữa là hơn.
Mộc Uyển Thanh giằn dỗi:
– Tôi cũng chẳng muốn gặp chàng làm gì. Ai bảo chàng đến tìm tôi đêm
hôm ấy? Chàng chẳng trở lại báo tin tôi cũng chẳng chết về tay bọn ấy.
Chàng làm chết mất con Hắc Mai Côi của tôi, làm cho tôi đau đớn ê chề,
làm cho sư phụ tôi hoá ra má tôi, làm cho phụ thân chàng hoá ra phụ thân
tôi, tôi chẳng mong gì nữa. Giờ tôi bị vít vào đây cũng bởi tại chàng. Tôi
chỉ cần ra khỏi nơi này.
Đoàn Dự nói:
– Thanh muội ơi! Trăm điều ngang ngửa vì anh, em đừng giận anh nữa. Anh
em ta thủng thẳng tìm cách trốn ra.
Mộc Uyển Thanh vẫn một giọng hờn dỗi:
– Tôi không trốn đi đâu nữa. Tôi đành chết ở chốn này. Chết ở đây hay ở
ngoài cũng thế thôi. Tôi không ra nữa.
Thấy nàng vừa đòi ra lại giở giọng không ra nữa Đoàn Dự biết rằng lòng
nàng đang xốn xang quá đỗi, không thể lấy lời lẽ ngọt ngào mà dỗ nàng
được nên không nói gì nữa.
Mộc Uyển Thanh đang buông cơn giận cho nổi lên thấy Đoàn Dự không nói
sao lại càng lộn ruột hỏi:
– Sao chàng lại ngồi ỳ ra không nói?
Đoàn Dự hỏi lại:
– Thế em muốn anh nói gì bây giờ?
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Chàng ở đây làm gì?
Đoàn Dự đáp:
– Đồ đệ anh bắt anh giam vào đây.
Mộc Uyển Thanh ngơ ngác:
– Đồ đệ chàng…
Nhưng nàng nhớ ra ngay, đang sì sụt nước mắt nước mũi bất giác phá lên
cời:
– à phải rồi! Nam Hải Ngạc Thần. Phải chăng lão bắt chàng vít vào đây?
Đoàn Dự đáp:
– Chính lão!
Mộc Uyển Thanh vẫn cời:
– Thế sao chàng không lên nước “sư phụ” bảo lão phải buông tha ra?
Đoàn Dự đáp:
– Anh bảo lão mấy lần rồi nhưng lão cứ khăng khăng một mực đòi anh thờ
lão làm thầy lão mới chịu buông tha.
Mộc Uyển Thanh vừa cười vừa nói:
– Thế là thầy không dạy nổi trò rồi!
Đoàn Dự than rằng:
– Có lẽ đúng đấy! Còn em, ai bắt em vào đây?
Mộc Uyển Thanh đem chuyện mình gặp thanh bào khách kể lại một lợt
nhng dấu đoạn lão bảo biến anh ruột ra chồng, không nói đến.
Đoàn Dự thấy chuyện ăn không cử động môi miệng, nói từ bụng nói ra,
chân tay tàn phế mà chạy nhanh như bay thì lấy làm kỳ thú, hỏi cặn kẽ các
chi tiết và tấm tắc khen là kỳ dị.
Hai người ngồi nói chuyện hàng giờ, chợt bên ngoài có người đằng hắng rồi
thấy một đĩa luồn qua lỗ hổng đưa vào, kế đến có tiếng người gọi bảo:
– Bữa ăn của các ngươi đây.
Đoàn Dự đưa tay đón lấy thì là một đĩa thịt quay thơm phức, tiếp theo là bát
canh rau và đĩa bánh tiêu, chàng đặt cả lên bàn rồi hỏi Mộc Uyển Thanh:
– Em liệu những món này có thuốc độc không?
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Bọn họ muốn giết mình thì chỉ giơ tay lên một cái là xong, hà tất phải
dùng đến thuốc độc.
Đoàn Dự cho là phải và bụng đói quá rồi liền bảo:
– Ta ăn thôi chứ!
Hai người lấy thịt quay đặt vào trong bánh bắt đầu ăn, bên ngoài có tiếng
người dặn:
– ăn xong rồi cứ đặt bát chén ra lỗ hổng sẽ có người lại lấy.
Người đó nói xong đi ngay. Mộc Uyển Thanh lắng tai nghe y vịn cành trèo
lên cây rồi nhảy qua bên kia “bức tường cây”.
Nàng nghĩ thầm: gã đưa cơm này võ nghệ tầm thường thôi. Rồi nàng uể oải
cầm lấy bánh ăn. Đoàn Dự vừa ăn vừa nói:
– Hiền muội! Em đừng sợ chi! Thế nào gia gia cùng bá phụ cũng đến cứu
chúng ta ra. Bọn Nam Hải Ngạc Thần, Diệp Nhị Nương tuy là những tay lợi
hại nhnưg vị tất đã địch nổi gia gia. Nếu chính bá phụ thân hành tới đây thì
quét hết cả bọn chúng dễ như chơi. Chúng sẽ hết đường tháo thân.
Mộc Uyển Thanh hãy còn bực mình lên giọng nhạo báng:
– Chà! Bá phụ chàng bất quá là Hoàng đế cái nước Đại Lý cỏn con này, bản
lãnh đối với người ngoài đã vào đâu? Tôi không tin ông có thể địch nổi
“thanh bào khách”. Chắc lại mang mấy ngàn quân thiết giáp đến vây đánh
chứ gì?
Đoàn Dự lắc đầu lia lịa cãi:
– Không phải! Không phải! Tổ tiên họ Đoàn là phái võ gốc tích ở Trung
Nguyên. Dù có dựng ra nước Đại Lý, xưng vương, xưng đế nhưng nhất định
không quên lề lối võ lâm. Nếu cậy thế lấn áp hay dựa vào số nhiều để thủ
thắng thì cái họ Đoàn nước Đại Lý chẳng lẽ để các bậc anh hùng trong thiên
hạ chê cười ru?
Mộc Uyển Thanh vẫn một giọng chế diễu:
– úi chà! Chàng còn khoe họ hàng nhà chàng tuy làm vua làm chúa vẫn
không bỏ tư cách của khách giang hồ ?
Đoàn Dự nói:
– Bá phụ cùng gia gia thường nói rằng: đã làm người thì không nên quên
gốc.
Mộc Uyển Thanh bĩu môi, mạt sát dữ hơn:
– Chà! Miệng nói toàn nhân nghĩa đạo đức mà làm toàn những sự bỉ ối xấu
xa. Tỷ như việc gia gia đã có má chàng rồi sao còn tằng tịu với sư phụ tôi?
Đoàn Dự tức run lên:
– Ô hay! Cô thoá mạ cả gia gia tôi nữa ? Gia gia tôi không phải là gia gia
cô hay sao? Hơn nữa các bậc vua chúa cùng hàng quý tộc khắp thiên hạ
được mấy người một vợ? Tám bà, mười bà là ít.
Thời bấy giờ vào đời Bắc Tống, Trung Hoa chia làm năm nước: khu giữa là
nước Tống, phía Bắc có rợ Khất Đan, mặt Tây Bắc có nước Nam Hạ, Tây
Nam có nước Thổ Phồn, miền Nam có nước Đại Lý. Vua chúa hay đại thần
đều có nhiều cung phi, hoặc mệnh phụ phu nhân đã thành một tập quán
truyền đời, và được coi là chuyện đương nhiên. Các bậc công khanh một vợ
thật là hiếm có.
Mộc Uyển Thanh vừa nghe Đoàn Dự nói xong, máu ghen sôi lên sùng sục,
lanh lẹ tát chàng đánh “bốp” một cái. Chàng đau quá, mắt mở thao láo,
miệng há hốc ra, miếng bánh đang cầm tay hất tung xuống đất. Chàng ấp
úng:
– Cô… cô…
Mộc Uyển Thanh mặt giận hầm hầm:
– Tôi không gọi ông ấy bằng gia gia nữa. Cớ sao đàn ông năm thê bảy thiếp
mà đàn bà riêng chịu thiệt thòi? Hễ ai ăn ở hai lòng là mang tiếng vô nghi là
nghĩa làm sao?
Đoàn Dự đa tay lên mặt sờ chỗ đau, xuýt xoa nói:
– Tôi là bậc huynh trưởng, cô là phận đàn em mà dám vô lễ thế?
Mộc Uyển Thanh vẫn cha nguôi giận, giơ tay tát nữa. Nhưng lần này Đoàn
Dự đã kịp phòng bị, bước chân theo phép Lăng Ba Vi Bộ, tránh qua phía
sau nàng. Mộc Uyển Thanh trở tay tát về phía sau, chàng cũng tránh khỏi.
Lòng nhà thạch thất này chỉ rộng chừng hơn một trượng vuông vậy mà phép
Lăng Ba Vi Bộ cực kỳ thần diệu khiến cho Mộc Uyển Thanh lẹ tay thế nào
cũng không đánh trúng. Mộc Uyển Thanh lại càng căm tức sực nghĩ ra một
kế, giả vờ kêu “ối chao”, ngã lăn xuống đất. Đoàn Dự thất kinh hỏi:
– Em làm sao thế?
Chàng cúi xuống, thò tay ra ôm nàng dậy. Tấm thân mềm mại Mộc Uyển
Thanh nằm gọn trong lòng chàng. Nàng đưa tay trái ra ôm cổ chàng, ghì
chặt lấy, vừa cười vừa hỏi: Còn trốn được nữa thôi? tay phải tát một cái vào
má chàng thật mạnh. Đoàn Dự nhịn đau chỉ kêu được một tiếng “trời ơi”, rồi
đột nhiên nhiệt khí ở huyệt đan điền làm nóng rực cả người, sóng tình nổi
lên cuồn cuồn, không thể dằn lòng được. Mộc Uyển Thanh đúng với ngoại
hiệu Hương dược xoa, tiết ra một mùi thơm làm cho người ngửi thấy phải
mê mẩn tâm thần. Lúc đó Đoàn Dự lại đang ôm nàng, tay chạm vào da thịt
êm dịu, gợi cho chàng một khoái cảm đê mê, da dẻ mùi hương đa lên từng
cơn càng làm cho trí khôn mê loạn, chàng cúi xuống hôn nàng thật đậm.
Cái hôn làm cho toàn thân Mộc Uyển Thanh rạo rực, mềm nhũn. Đoàn Dự
ôm nàng lại đặt lên giường, đa tay ra cởi khuy áo nàng.
Mộc Uyển Thanh khẽ nhắc:
– Chàng là anh ruột tôi.
Đoàn Dự tuy đang mê mẩn tâm thần nhưng câu nói của Mộc Uyển Thanh
chẳng khác tiếng sét nổ giữa lúc trời quang mây tạnh, chàng giật mình
buông nàng ra, hai tay vung lên tự tát hai bên má mình bôm bốp mấy cái.
Vừa tát vừa tự mắng “Đồ chó chết! Đồ chó chết!”.
Mộc Uyển Thanh nhìn thấy hai mắt Đoàn Dự đỏ như máu, loé ra những tia
sáng khác thường, da thịt trên mặt giật lên từng cơn, lỗ mũi mấp máy, cả
kinh nói:
– Nguy rồi! Đoàn lang ơi! Trong thức ăn quả có thuốc độc. Ta mắc lừa họ
rồi.
Toàn thân Đoàn Dự phát nhiệt chẳng khác gì ngồi trong lồng bốn bề đốt
lửa. Chợt nghe Mộc Uyển Thanh nói ăn phải thuốc độc, trong bụng lại
mừng lẩm bẩm: “ừ có thế chứ, ta bị thuốc độc làm loạn trí đến nỗi toan
cùng Thanh muội làm trò đồi bại thì uổng mất bao công trình đọc sách
thánh hiền, thiếu chút nữa chẳng khác chi loài cầm thú”. Mỗi lúc người
chàng một nóng thêm, không thể chịu được, chàng phải cởi bỏ hết quần áo
dài ra, chỉ để một chiếc quần đùi. Chàng tỉnh táo được một lát, rồi đâu lại
hoàn đấy, phải kiềm chế con lợn lòng một cách miễn cưỡng.
Mộc Uyển Thanh người cũng nóng ran, không thể nhịn được, cởi bỏ áo
xiêm ngoài ra. Đoàn Dự vội la lên:
– Thanh em! Đừng cởi thêm nữa! Ngồi dựa vào vách đã cho đỡ nóng.
Hai người ngồi tựa lưng vào vách đá nhưng chất thuốc độc mỗi lúc một kích
thích thêm. Sau lưng tuy mát được một chút nhung từ đầu, mặt, ngực, bụng,
chân tay chỗ nào cũng nóng như lửa đốt. Đoàn Dự thấy Mộc Uyển Thanh
hai má đỏ hồng, nhan sắc lại càng diễm lệ, đôi mắt quyến rũ ướt rượt như
muốn nhảy xổ vào lòng chàng. Chàng nghĩ thầm: lúc này mình còn quyết
tâm cố chống lại chất thuốc độc nhưng nhân lực có hạn, nếu rồi đây không
chống nổi nữa, gây ra hành vi dâm loạn, làm mất hết thanh danh họ Đoàn
thì tiếng xấu đó muôn đời không rửa sạch. Chàng bèn bảo Mộc Uyển
Thanh:
– Hiền muội cho anh một mũi tên độc.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Để làm gì?
Đáp:
– Để khi anh không chống nổi lại sức thuốc quá mãnh liệt thì anh tự tử đi
cho rồi, khỏi làm hại đến đời em.
Mộc Uyển Thanh đáp:
– Tôi không cho.
Đoàn Dự nói:
– Thanh em ơi! Anh cầu khẩn em một việc.
Mộc Uyển Thanh hỏi:
– Việc gì
Chàng đáp:
– Hễ anh đa tay ra sờ vào mình em thì em bắn chết anh nghe!
Mộc Uyển Thanh nói:
– Tôi không nghe.
Đoàn Dự năn nỉ:
– Anh cầu khẩn em việc này vì danh dự của họ Đoàn đã mấy trăm năm nay
không thể để anh một lúc phá tan. Nếu không thế thì sau này anh chết
xuống còn mặt mũi nào trông thấy tổ tiên nữa?
Bất thình lình bên ngoài thạch thất có tiếng người nói:
– Họ Đoàn nước Đại Lý chúng bay tử tế lắm đấy? Ngoài mồn nhân nghĩa,
trong bụng sài lang, còn tưởng danh giá lắm sao?
Đoàn Dự cả giận nói:
– Mi là ai mà dám nói láo?
Mộc Uyển Thanh khẽ bảo chàng: lão chính là “Thanh bào khách”.
Lại thấy Thanh bào khách nói tiếp:
– Mộc cô nương! Ta làm theo nguyện vọng của cô đó, cô bảo anh cô biến
thành chồng cô đi! Ta đã hứa là quyết tâm làm cho nên việc.
Mộc Uyển Thanh cả giận nói:
– Mi dùng thuốc độc hại người, có ăn thua gì đến điều ta yêu cầu mi đâu?
Thanh bào khách nói:
– Trong đĩa thịt quay ta trộn khá nhiều “Hoà hợp âm dương tán” vào đó.
Người nào ăn phải, nếu không cho âm dương hoà hợp với nhau, làm đôi vợ
chồng thì chất thuốc mỗi ngày một phát tác cực kỳ trầm trọng, chỉ trong
tám ngày là cùng da thịt sẽ nứt toác ra, thất khiếu sẽ chảy máu ra mà chết.
Dù các ngơưi có bản lãnh như Đại La Kim Tiên cũng không chống nổi đâu.
Đoàn Dự căm hờn nói:
– Ta với mi vốn không thù oán sao mi lại thi hành kế độc này hại ta? Mi
muốn cho Đoàn mỗ không còn mặt mũi nào trông thấy người đời nữa. Cùng
làm cho bá phụ và gia gia ta đem điều ô nhục chung thân ? Này này ta
bảo, không được đâu, dù ta phải chết khổ chết sở cũng đành, chẳng khi nào
ta chịu làm việc nhơ nhuốc đâu.
Thanh bào khách nói:
– Đã hay rằng riêng ta với mi không có thù oán gì nhưng tổ tông họ Đoàn
nhà mi với ta có một mối thù sâu tựa biển. Ta quyết làm cho hai gã tiểu tử
Đoàn Chính Minh và Đoàn Chính Thuần phải suốt đời ô nhục, không dám
nhìn mặt người đời nữa mới hả lòng căm phẫn của ta.
Lão nói có vẻ đắc chí lắm nhnưg vì môi miệng không cử động được, nên
không bật lên tiếng cười. Đoàn Dự muốn cùng lão tranh luận nữa nhưng vừa
liếc mắt nhìn thấy Mộc Uyển Thanh chẳng khác gì đoá phù dung mới nở
hay đoá hải đường đang say sưa trong trường xuân mộng, trái tim chàng
rung động rạo rực, tựa hồ muốn nhảy ra ngoài, trong đầu óc chàng suy tính
rất nhiều: “Mộc Uyển Thanh đã cùng ta đính ước duyên bài, nếu đôi ta
không được trở về nước Đại lý thì đâu có bật ra cái chuyện là anh em ruột
thịt. Đây chỉ là oan trái đời xa có liên quan gì đến mình?”. Nghĩ tới đây
chàng run run đứng dậy, bỗng thấy Mộc Uyển Thanh cũng vịn tường đang
từ từ đứng lên. Đột nhiên trong lòng chàng dường như có luồng điện chiếu
vào, chàng lại nghĩ: “Không được! Không được! Đoàn Dự hỡi Đoàn Dự,
điểm tối hậu của con người khác loài cầm thú là ở chỗ này. Nghĩ sai một ly,
sểnh chân một bước, không những thanh danh mình bị tan vỡ mà còn đẩy cả
bá phụ cùng gia gia vào vòng ô nhục suốt đời”. Nghĩ vậy chàng cất tiếng gọi
to:
– Uyển Thanh em ơi! Anh là đại ca, em là tiểu muội đó. Em có biết không,
em đã hiểu kinh Dịch chưa?
Mộc Uyển Thanh còn đang mơ mộng, nghe chàng hỏi, liền đáp:
– Tôi không hiểu kinh Dịch là gì hết.
Đoàn Dự nói:
– Nếu vậy để anh dậy cho. Kinh Dịch ý nghĩa xâu xa lắm, em phải lắng tai
nghe mới hiểu được.

Hết Chương 17

Hết Hồi 17

============================================================

Chương 18   Hồi 18

Ngự giá thân chinh

    Mộc Uyển Thanh hỏi:
-Em học cái đó làm chi?
Đoàn Dự đáp:
-Biết đâu chả được việc cho mình.Có khi nhờ đó mà ta thoát khỏi chốn lao
lung này cũng nên.
Nguyên Đoàn Dự thấy sóng dục đã nổi lên đến tột độ,thật khó mà giữ được
cho khỏi loài cầm thú,chẳng khác gì ngàn cân treo đầu sợi tóc.Nếøu Mộc
Uyển Thanh nhảy xổ vào quyến dũ thì không thể nào còn nín nhịn được
nữa.Nên Đoàn Dự bày ra trò dạy học để chuyên tâm tri ý vào việc
khác,không nghĩ đến tình dục nữa.Thế rồi chàng giảng thao thao bất tuyệt:
Nào Thái cực,nào Lưỡng Nghi,nào Tứ Tượng,nào Bát Quái.
Mộc Uyển Thanh nói:
-Em nghe chán tai lắm,chẳng hiểu gì hết.Đoàn Lang! Chàng lại đây! Em có
chuyện nói cùng chàng..
Đoàn Dự lại ngắt lời:
-Em quên rồi sao? Anh là anh kia mà!Phải gọi anh là đại ca,chớ kêu bằng
Đoàn lang là lỗi đạo.
Rồi chàng tiếp tục đem Bát Quái ra giảng: Cào tam liên,Khôn lục đoạn,Chín
ngướng vu,Cân phúc uyển.Ly trung hư,Khảm trung mão, Ton thượng
khuyết,Đoài hạ đoạn.
Mộc Uyển Thanh rất thông minh,nhẩm qua một lượt thuộc lòng ngay,song
nàng không hiểu gì,ngơ ngẩn hỏi chàng:
-Sao lại có cả bát cơm chén nước vào đây nghĩa là gì?
Đoàn Dự đáp:
-Chén ngửa,bát úp mới chỉ là tượng hình mấy quẻ mà thôi.Em nên nhớ rằng
8 quẻ này ý nghĩa rất sâu rộng,bao hàm cả trời đất muôn vật.Nếu lấy gia
đình mà nói thì quẻ Càn tượng trưng cho người cha.Quẻ Khôn tượng trưng
cho người mẹ.Quẻ Chấn là con trai cả,quẻ Tốn là con gái lớn.Như anh em ta
đay:anh thuộc quẻ Chấn,em thuộc quẻ Tốn.
Mộc Uyển Thanh vênh mặt ngắt lời:
-Không phải, chàng là quẻ Chấn,em là quẻ Khôn.Hai người kết nghĩa phu
thê ,sinh con đẻ cái..
Đoàn Dự thấy nàng ăn nói ra chiều chớt nhả thì giật mình kinh hãi nói:
-Uyển Thanh em!Đừng nghĩ vẩn vơ nữa!Hãy tiếp tục nghe lời anh dạy đây!
Mộc Uyển Thanh nói:
-Chàng, chàng ngồi xích lại bên em,em mới nghe được.
Bỗng bên ngoài có tiếng lão áo xanh reo lên:
-Hay lắm!Hay lắm!Nếu hai đứa mi nên vợ chồng,sinh con đẻ cái,ta sẽ
buông tha ra khỏi nhà tù này.Chẳng những buông tha mà thôi,ta còn dạy
cho vợ chồng mi những môn võ nghệ tuyệt luân để dọc ngang trời rộng vẫy
vùng biển khơi nữa.
Đoàn Dự cả giận lớn tiếng đáp vọng ra:
-Này này ta bảo!Nếu đến bước đường cùng ta sẽ đập đầu vào vách đá này tự
tử.Mi nên nhớ rằng:Dòng dõi họ Đoàn nước Đại Lý ta thà chết chớ không
chịu nhục.Mi đừng hòng hãm ta vào đường tội lỗi để mà rửa hận.
Lão áo xanh nói:
-Dù mi sống hay chết ta cũng mặc xác.Có điều bọn mi mà chết thì ta sẽ lột
trần như nhộng cả hai đứa rồi thích chữ vào mặt:”Đây là hai đứa con Đoàn
Chính Thuần đang thông gian bị người bắt gặp xấu hổ tự sát”Ta còn tìm
cách ướp xác chúng bay đem đi bêu tại các đô thị lớn như Biện Dương,Lạc
Dương,Hàng Châu,Quảng Châu.
Đoàn Dự căm tức đến cực điểm,thét lên:
-Họ Đoàn ta có điều chi tàn nhẫn với mi mà mi trả thù một cách hiểm
độc,dã man thế?
Lão áo xanh đáp:
-Công việc của ta hà tất phải nói cho thằng ranh con chưa ráo máu đầu như
mi nghe.
Dứt lời bên ngoài lại im lặng như tờ.Có lẽ lão lại vượt bức tường cây đi rồi.
Đoàn Dự biết rằng nếu chàng còn nói với Mộc Uyển Thanh nữa càng thêm
nguy hiểm, liền ngồi quay mặt vào tường ôn lại những điều phức tạp trong
phép Lăng Ba Vi Bộ. Chàng ngây ngất hồi lâu chợt nhớ đến pho tượng
Ngọc Mỹ Nhân trong thạch động, so với Mộc Uyển Thanh còn kiều diễm
hơn nhiều rồi tự nhủ:Nếu mình có lấy vợ phải kén người đẹp như “Thần tiên
nương tử” mới không uổng phí một đời.
Đang lúc mơ màng chàng quay đầu nhìn về phía Mộc Uyển Thanh thì hoa
mắt lên,từ dung nhan cho đến phục sức,nàng đã biến thành pho tượng bất
giác chàng la lên:
-Thần tiên nương tử ơi!Tôi đang đau khổ đến cùng cực, Nương tử cứu tôi
với!
Nói xong chàng quỳ mọp xuống đất,ôm lấy chân Mộc Uyển Thanh.Bỗng
bên ngoài có tiếng gọi:
-Đã đến giờ ăn tối rồi đấy.
Một cây nến đỏ thắp sẵn đưa qua lỗ hổng vào.Rồi lại thấy người đó vừa cười
vừa nói: “Mau ra mà đón lấy,nay là đêm động phòng hoa chúc của các
ngươi chẳng nhẽ lại không có đuốc hoa? ”
Đoàn Dự cả kinh đứng dậy.Dưới ánh sáng,chàng nhìn rõ Mộc Uyển Thanh
mắt gợn sóng tình,người đẹp lồ lộ,không bút nào tả xiết,liền tắt phụt cây
nến đi và quát to lên:
-Trong cơm có chất độc,ta không ăn đâu,mi đem về đi!
Người đó cười nói vọng vào:
-Đằng nào cô cậu cũng đã trúng độc,phân lạng đủ rồi.Nay còn cho thêm
làm gì?
Nói rồi y cứ đưa cơm vào,Đoàn Dự đón lấy để lên bàn,nhủ thầm: Con người
ta chết là hết chuyện.Chẳng bận tâm đến tiếng thị phi làm quái gì nữa!Song
chàng lại nghĩ: Song thân cùng bá phụ ta thương ta biết chừng nào?Lẽ nào
ta để tiếng xấu cho thiên hạ mĩa mai dòng họ Đoàn? Bỗng thấy Mộc Uyển
Thanh la lên:
Đoàn Lang ơi!Em đành dùng tên độc tự sát đẻ khỏi di hại cho chàng.
Đoàn Dự vội kêu lên:Hãy khoan!Đằng nào anh em mình cũng chết rồi. Con
người độc ác kia quyết không chịu buông tha nữa đâu.So với Diệp nhị
nương hút máu trẻ con,cùng Nam Hải Ngạc Thần ăn tim người,thì lão này
còn hiểm độc hơn nhiều.Nhưng không hiểu lão là ai? Bỗng thấy bên ngoài
lão áo xanh lên tiếng đáp lai:
-Thằng lỏi con nói phải đó!Lão phu đây đứng đầu bọn tứ ác.ác Quán Mãn
Doanh là ta đây.
Đây nhắc lại:trong phủ Trấn Nam Vương,Thiện Xiển Hầu, Cao Thăng Thái
trở vào báo: vợ chồng Chung Vạn Cừu cùng Tần Hồng Miên đã đi xa
rồi.Trấn Nam vuơng phi là Thư Bạch Phụng vì thương con nóng ruột hỏi
Bảo Định Đế:
-Tâu hoàng huynh,hang Vạn Kiếp ở tận đâu? Hoàng huynh có biết không?
Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh đáp:
-Hang Vạn Kiếp ? Cái tên này nay ta mới nghe là một.Nhưng chắc cách
nước Đại Lý ta chằng xa mấy.
Thư Bạch Phụng nói:
-Cứ như lời Chung Vạn Cừu thì dường như nơi này bí mật khó lòng tìm ra
được. Thằng Dự lọt vào tay chúng lâu tất..
Bảo Định Đế ngắt lời:
-Y trước nay chỉ được nuông chiều chưa hiểu lòng người độc ác,để y chịu
đựng gian nan cho trải mủi đời.Âu cũng là một dịp rèn luyện cho y,như thế
cũng hay.
Thư Bạch Phụng tuy trong dạ bồn chồn nhưng cũng không dám nói gì thêm
nữa.
Bảo Định Đế quay sang bảo Đoàn Chính Thuần:
-Hiền đệ đem rượu ra đây để khao thưởng anh em.
-Đoàn Chính Thuần vâng mệnh truyền xuống gia nhân.Lát sau một bữa tiệc
lớn bày ra. Bảo Định Đế cũng ngồi vào ăn uống.Tuy nhà vua là bậc chí
tôn,nhưng chỉ truyền cho quần thần thủ lễ ở triều đình mà thôi,còn ngoài ra
Ngài không câu nệ.Vì thế mà vợ chồng Đoàn Chính Thuần cùng Cao Thăng
Thái cũng ngồi chung bàn với nhà vua.
Trong khi ăn tiệc,nhà vua tuyệt nhiên không đá động gì đến chuyện gia
đình.Trời gần sáng,thị vệ vào báo:
-Có quan Tư không họ Ba xin vào bái kiến Hoàng Thượng.
Đoàn Chính Minh truyền cho vào.Bức rèm vừa vén lên,một người mặt đen
vừa thấp vừa lùn tiến vào cúi đầu trước Bảo Định Đế tâu:
-Thần khải tấu Hoàng Thượng.Đường đi sang qua cầu sắt Thiện nhân
độ,đến khu nghĩa địa chỗ có ngôi mộ lớn,đó là cửa vào động.
Thư Bạch Phụng cả mừng nói:
-Tôi biết trước,một khi Ba Tư Không đã ra đi thì sào huyệt bên địch ở đâu
mà tìm không ra?
Người mặt đen hơi nghiêng mình nói:
-Vương phi quá khen,Ba Thiên Thạch này thực lấy làm xấu hổ.
Người mặt đen là Ba Thiên Thạch,tuy hình thù cổ quái,nhưng là một nhân
vật rất tinh tế mẫn cán.Ông từng lập được nhiều công lao cho nhà vua,hiện
làm chức Tư không nước Đại Lý.
Trong triều lớn nhất có ba chức:Tư đồ,Tư mã và Tư không gọi là Tam
Công.Ba Thiên Thạch võ công trác tuyệt,đặc biệt nhất là môn khinh
công.Ba Thiên Thạch vâng mệnh Bảo Định Đế đi do thám trụ sở địch.Ba
ngầm theo chân họ,quả nhiên tìm được đến hang Vạn Kiếp.
Bảo Định Đế phán:
-Thiên Thạch,ngươi ngồi xuống ăn thật no đi,rồi chúng ra lên đường nghe.
Ba Thiên Thạch vốn biết tính nhà vua,không ưa người ta quỵ luỵ lạy lục.Đối
với thần tử Ngài rất thương yêu và xưng hô theo kiểu anh em bè bạn.Nếu
mình tỏ ra quá khúm núm thì làm cho ngài khó chịu,nên Ba chỉ “xin vâng”
một tiếng rồi bưng cơm ăn liền.Ba không uống rượu nhưng ăn khoẻ lắm,ăn
như rồng cuốn,chỉ loáng đã hết tám bát cơm lớn. Đoàn Chính Thuần,Cao
Thăng Thái chơi thân vói Ba đã lâu,nên không lấy thế làm lạ.
Ba Thiên Thạc ăn xong đứng lên,lấy tay áo lau miệng rồi tâu:
-Tiểu thần xin dẫn đường!
Dứt lời đi ra luôn,Bảo Định Đế,vợ chồng Đoàn Chính Thuần,Cao Thăng
Thái nối gót theo sau.Ra khỏi phủ Trấn Nam Vương,đã thấy bọn
Ngư,Tiều,Canh,Độc giắt ngựa chờ sẵn. Ngoài ra còn hơn mười tên tuỳ tòng
để mang khí giới cho nhà vua.
Nên biết rằng họ Đoàn nguyên là dòng dõi nhà đại gia trong phái Võ lâm ở
Trung Nguyên,sau lấy được nước Đại Lý,trải hơn trăm năm nay vẫn giữ nền
nếp tổ tiên. Anh em Đoàn Chính Minh,Đoàn Chính Thuần tuy giàu sang rất
mực,mà thường vẫn ăn bận theo kiểu bình dân ra ngoài.Đã là người trong võ
lâm thì bất luận là tìm đến báo thù hay đến thăm hỏi nhà vua cũng tiếp đãi
theo lề lối nhà võ,chớ không ỷ thế khinh người bao giờ. Nên bữa nay nhà
vua ngự giá thân chinh bọn tuỳ tòng,từ quan Tư không trở xuống,không ai
bị bận rộn hạch sách.
Thư Bạch Phụng thấy trong đám thủ hạ Ba Thiên Thạch có đến bảy tám tên
mang cuốc xẻng đi theo,thì bật cười hỏi:
-Chúng ta đi khai quật bảo tàng hay sao đây?
Ba Thiên Thạch đáp:
-Thưa Vương Phi!Bảo tàng thì không có,nhưng đi quật mồ mả.
Đoàn người cỡi ngựa tốt,chạy lẹ như gió,chưa đến trưa đã tới nghĩa địa
ngoài hang Vạn Kiếp,Ba Thiên Thạch quay về mé tả đi đến ngôi mộ thứ bảy
hô:
-Quật ngôi mộ này lên cho ta.
Bọn tuỳ tòng Ba đều là những tên lực lưỡng khoẻ mạnh,lập tức nào xẻng
nào cuốc bổ xuống.Bảo Định Đế trông thấy tấm mộ chỉ khắc rõ ” Vạn cừu
Đoàn chi mộ” bật cười nói:
-Chủ nhân hang Vạn kiếp thù oán nhà ta đến thế ?
Thái Tân Khách,Tiêu Đốc Thành vác búa đập “choảng choảng” phá tấm bia
vỡ tan tành chỉ để nguyên vẹn chữ Đoàn.Lúc đó các người khác cũng đã đào
hết nửa ngôi mộ,cửa hang đã lộ ra.Tiêu Đốc Thành chui vào trước,dùng búa
đập tan cỗ quan tài bên trong, bốn gã Ngư,Tiều ,Canh, Độc đi trước,rồi đến
Ba Thiên Thạch,Cao Thăng Thái,sau nữa là vợ chồng Trấn Nam Vương,
Bảo Định Đế đi sau cùng.
Đoàn người vào trong hang Vạn Kiếp chỉ thấy bốn bề im lặng như tờ,không
ai ra nghênh tiếp. Ba Thiên Thạch vẫn giữ lề lối khách giang hồ,tay cầm
danh thiếp của hai anh em Đoàn Chính Minh,Đoàn Chính Thuần ,rảo bước
đi thẳng vào trước nhà khách cất tiếng gọi :
“Có hai anh em họ Đoàn nước Đại Lý tới hội diện Chung Động chúa”
Tiếng hô vừa dứt từ trong bụi cây mé tả chạy vụt ra một bóng người cao lêu
nghêu,toan móc lấy danh thiếp ở trong tay Ba Thiên Thạch nhanh như chớp,
Ba Thiên Thạch ứng biến mau lẹ vô cùng,tránh qua bên phải ba bước quát
hỏi:
-Tôn giá là ai?
Người đó chính là Cùng Hung Cực ác Vân Trung Hạc,gã móc không trúng
lại nhảy xổ tới Ba Thiên Thạch. Ba Thiên Thạch khinh công tuyệt cao,muốn
thử thách xem tài nghệ của Vân đến mức nào,liền tiến về phía trước ba
bước.Vân Trung Hạc cũng rượt theo ba bước.
Thế rồi một người thấp lủn thủn,một gã cao lênh khênh đuổi nhau.Thoáng
một cái đã chạy ba vòng.Vân Trung Hạc bước dài chạy nhanh nhưng Ba
Thiên Thạch cũng nhảy lẹ dị thường.Hai người chạy vòng tròn chỉ cách
nhau có vài ba thước,khiến người xem không rõ là Vân Trung Hạc đuổi Ba
Thiên Thạch hay Ba Thiên Thạch đuổi Vân Trung Hạc.
Rút cục Vân Trung Hạc không đuổi theo kịp Ba Thiên Thạch mà Ba Thiên
Thạch cũng không thể thoát chạy được Vân Trung Hạc.Khing công của hai
người này thật là thiên hạ vô song.
Bỗng nghe một tiếng kẹt,cánh cửa mở toang,Chung Vạn Cừu ở trong nhà
chạy ra. Ba Thiên Thạch vẫn không dừng bớc,ngầm vận nội công,tay phải
tung ra một cái.Tấm danh thiếp bay thẳng tới trước mặt Chung Vạn Cừu.
Nên nhớ rằng tấm thiếp chỉ là mảnh giấy vừa nhẹ vừa mềm,ngay lúc bình
tĩnh ném ra cho trúng chổ cũng không phải là chuyện dễ.Vậy mà đang lúc
chạy nhanh như gió,nếu Ba Thiên Thạch không có nội lực phi thờng thì
không tài nào ném trúng được.
Chung Vạn Cừu giơ tay bắt tấm danh thiếp,cả giận hỏi:
-Họ Đoàn đã đến thăm bái ta,sao không giữ luật lệ giang hồ,dám phá huỷ
cơ quan ngoài cửa động của ta?
Phủ tiên Điếu Lăng Thiên Lý đáp:
-Hoàng thượng là ngôi chí tôn,có lý đâu lại chui qua chiếc quan tài của
ngươi mà vào.
Thư Bạch Phụng sốt ruột vì con,không nhịn được nữa hỏi ngay:
-Các ngươi giấu con ta đâu?
Một người đàn bà đứng sau Chung Vạn Cừu chạy vụt ra đáp:
-Mi đến trể một chút,bọn ta đã moi gan thằng lõi họ Đoàn cho chó ăn rồi.
Hai tay nàng cầm hai lưỡi dao nhỏ như lá liễu loé ra ánh sáng xanh lè,chính
là cặp Tu la đao đã làm cho bao nhiêu khách giang hồ phải khiếp vía.Hai
người đàn bà này trước đây mười tám năm đã vì ghen tuông mà kết mối
thâm thù.
Thư Bạch Phụng biết Tần Hồng Miên nói dối,tuy nhiên câu nói ác miệng đó
đối với đứa con yêu quý độc nhất của bà làm cho bà căm giận.Thù cũ hận
mới bốc lên khác nào lửa cháy đổ dầu thêm bốc lên ngùn ngụt,bà lạnh lùng
xỉ vả.
-Ta hỏi Chung động chúa,chưa ai thèm nói với quân đê tiện,sao mà không
biết nhục?
Tần Hông Miên nhanh nh chớp,giơ song đao lên,lăn xả vào chém liền theo
thế ” Thập Tự chước” một thế tuyệt kỹ của nàng,đã làm mất mạng bao
nhiêu giang hồ hảo hán.
Thư Bạch Phụng cũng tung cây phất trần gạt đi,đuôi phất trần nhắm phía
sau lưng Tần Hông Miên chụp xuống.
Đoàn Chính Thuần thấy vậy rất là buồn phiền,Một nàng là vợ chánh,một
bên là người tình cũ,hai bên đều dùng thế đánh trí mạng chọi nhau.Bất
luận bên nào bị hại ,ông cũng ân hận suốt đời,liền quát to lên để can ngăn:
-Hãy khoan đã nào!
Rồi ông xem vào giữa đưa trường kiếm gạt cả hai bên ra.
Chung Vạn Cừu vừa trông thấy Đoàn Chính Thuần,lửa giận bừng bừng ,tay
cầm đại hoàn đao bật lên tiéng “loảng xoảng” nhằm Đoàn Chính Thuần
chém tới.
Lăng Thiên Lý bước ra nói:
-Bất tất Vương gia phải ra tay,để tiểu nhân đối địch với hắn.
Gã tung cần câu ra vụt xuống đầu Chung Vạn Cừu
Chung Vạn Cừu cười nói:
-Ta biết mà!Họ Đoàn toàn là một lũ hư danh chỉ cậy nhiều người.
Đoàn Chính Thuần cũng cười nói:
-Thiên Lý tránh ra,ta muốn xem võ công của Chung động chúa.
Dứt lời hươi trường kiếm lên gạt cần câu Thiên Lý ra bên,thuận đà lia
xuống sống thanh đại hoàn đoai để hớt ngón tay Chung Vạn Cừu.Chung vạn
Cừu cả kinh lẩm bẩm:Kiếm pháp thằng cha họ Đoàn này ghê thật. Hắn phải
dẹp cơn phẫn nộ,cầm ngang thanh đao để giữ thế thủ.Tuy hắn tính nóng như
lửa,nhưng khi gặp địch thủ lợi hại hắn không dám nông nổi khinh xuất.
Bảo Định Đế giục Lăng Thiên Lý:
-Các ngươi đi lục tìm xem chúng giấu Đoàn Dự ở đâu?
Lăng Thiên Lý vâng mệnh,rồi cả bốn gã Ngư,Tiều,Canh,Độc đi thẳng vào
cửa trước.
Tiêu Đốc Thành vừa đặt chân trái lên ngưỡng cửa ,đột nhiên thấy trên đỉnh
đầu mát lạnh, rồi người bỗng giật lùi lại.Một lưỡi đao rất lớn và cực mỏng
chém tới trước mặt chỉ còn cách độ vài tấc,Tiêu Đốc Thành trên lưng toát
mồ hôi lạnh ngắt,nhìn kỹ xem người ngấm ngầm tập kích là ai,thì ra là một
thiếu phụ nhan sắc xinh tươi,chính là Vô ác Bất Tác Diệp Nhị Nương.
Thanh bảc đao của mụ trông rất kỳ dị,lưỡi nó thật lớn hình tròn và mỏng
dính,xung quanh đều sắc bén lạ thường.Mụ cầm chuôi bảo đao khẽ múa
vung lên,thì một luồng ánh sáng vòng tròn loé ra.Sau cơn giật mình,Tiêu
Đốc Thành định thần lại,quát to lên một tiếng rồi giơ búa lên bổ xuống lưỡi
bảo đao của Diệp Nhị Nương luân chuyển không ngừng,nhưng phải tránh
lưỡi búa trầm trọng không dám để bổ trúng vào đao.Tiêu Đốc Thanh sử
dụng đủ ba mươi sáu đường khai sơn phủ pháp vung lên bổ xuống.
Diệp Nhị Nương vận âm dương quái khí vào câu cười giọng nói. Chu Đan
Thần biết mụ âm hiểm khôn lường,đao pháp biến trá,sợ đánh dằng dai,Tiêu
Đốc Thành tất bị ám toán, liền uyển chuyển bước ra múa quạt trợ chiến.
Lúc đó Ba Thiên Thạch cùng Vân Trung Hạc đang đuổi nhau chạy quyện
vòng tròn.Môn khinh công của hai người không ai chịu kém ai,và cả hai
cùng cảm thấy rằng cuộc tranh đấu không chỉ trong chốc lát mà phân thắng
bại được.
Ba Thiên Thạch chạy hơn trăm vòng đã thấy rõ hạ bàn Vân Trung Hạc:về lẹ
làng thì có thừa,nhưng trầm trọng thì không đủ.Ba nghĩ thầm chi bằng ra
vừa chạy vừa tìm cơ hộ đánh ba bốn chưởng bất ngờ,tất hắn không đứng
vững được.Nhưng Ba lại tính đem khinh công ra để thử thách,không muốn
dùng quyền cước để thủ thắng.Rồi gia công chạy mãi.
Bỗng nghe tiếng ồm ồm quát mắng:
-Mấy thằng quỷ này làm gì mà ầm lên thế?Không để cho người ta ngủ
à?Những loài chuột chết ở đâu đến vậy?
Người đó chính là Nam Hải Ngạc Thần vừa quát tháo vừa cầm Ngạc chuỷ
tiễn hầm hầm chạy ra.
Điểm Thương Nông cũng quát mắng lại:
-Chính gia gia sư phụ mi đến đây chứ còn ai!
Nam Hải Ngạc Thần quát hỏi:
-Mi bảo ai là gia gia sư phụ ta?
Điểm Thương Nông trỏ Đoàn Chính Thuần nói:
-Trấn Nam vương đây là gia gia Đoàn công tử.Đoàn công tử đã là sư phụ
mi,mi không biết hay sao?
Nam Hải Ngạc Thần tuy là một kẻ độc ác đa đoan,nhưng cũng có chỗ khả
thủ là lão đã nói ra vẫn giữ đúng lời.Vừa nghe Điểm Thương Nông nói
vậy,mặt lão biến sắc,nhưng không dám phủ nhận,chỉ mắng lại:
-Ta thờ ai làm thầy mặc ta,việc gì đến mi?
Điểm Thương Nông bật cười nói:
-Sao ngươi dám buông lời xỉ mắng bọn ta?
Nam Hải Ngạc Thần lại chửi oang oang,vừa lúc lắc vừa giơ cây ngạc chuỷ
tiển lên đánh xuống.
Cây Ngạc chuỷ tiễn của Nam Hải Ngạc Thần cũng đầy những răng sắc
nhọn,chắng khác chi cây Lang nha bổng.Điểm Thương Nông đưa cây bồ
cào sắt mới đỡ được ba đòn,đã thấy hai tay tê buốt.
Phủ tiên Điếu Lăng Thiên Lý tung cần câu lên,ném dây câu ra,lưỡi câu
nhọn hoắt,nhằm móc mắt Nam Hải Ngạc Thần.
Nam Hải Ngạc Thần tức mình nói:
-Mi làm trò gì thế?
Lăng Thiên Lý cười đáp:
-Lão phụ ngoại hiệu Nam hải điếu đồ,chuyên nghề đi câu cá sấu.
(đây là Lăng Thiên Lý muốn nói xỏ Nam Hải Ngạc Thần,vì Ngạc thần
nghĩa là thần cá sấu)
Nam Hải Ngạc Thần nói:
-Mi dốt như bò.Có ai mà câu được cá sấu bao giờ?Nó chỉ đớp một cái là
lưỡi câu của mi gẫy nát.
Lăng Thiên Lý nói:
-Mi thử đớp ta coi.
Dây câu lại tung ra,nhằm miệng Nam Hải Ngạc Thần móc vào. Nam Hải
Ngạc Thần liền tung roi ngạc vĩ tiên lên quấn lấy.Roi lớn dây câu nhỏ,Phủ
tiên Điếu không dám để cho quấn vào nhau,giật mạnh cần câu một cái,dây
câu bay lên trên không,thành đường vòng tròn nhằm sau gáy Nam Hải Ngạc
Thần chụp xuống.
Bảo Định Đế quan sát khắp các nơi tranh đấu,thấy bên mình không có chỗ
nào lâm nguy. Chỉ có cặp Tu la đao của Tần Hồng Miên là linh động,biến
ảo khôn lường,lưỡi đao lai tẩm thuốc độc ghê gớm.Thư Bạch Phụng võ
công cũng không kém sút.Nhưng chỉ e lưỡi Tu la đao quệt vào người một
chút cũng có thể nguy đến tính mạng.Nhà vua liền hạ lệnh cho Cao Thăng
Thái:
-Ngươi ở đây lược trận,nếu thấy nguy hiểm cho Vương phi,thì phải lập tức
đoạt lấy Tu la đao của Tần Hồng Miên.
Cao Thăng Thái vâng lời,ung dung đứng một bên,hai tay chắp sau
lưng,ngắm mây bay trên trời.Tuy bốn bề gươm đao đánh nhau loảng xoảng
mà Thiện Xiển Hầu Cao thăng Thái vẫn phớt tỉnh như không thấy gì.
Bảo Định Đế đi rảo bước vào trong nhà,lên tiếng gọi:
-Dự con!Con ở chỗ nào?
Không thấy ai thưa,nhà vua lai vào cửa phòng bên trái để tìm Đoàn Dự. Đột
nhiên một bóng xanh lè như cây roi dài ngoe nguẩy nhằm cổ Bảo Định Đế
bay tới. Bảo Định Đế giật mình nhìn kỹ lại thì ra là một con rắn nhỏ sắc
xanh,liền đưa ngón tay ra búng một cái.Da thịt con rắn này tuy dầy và cứng
rắn lạ thường,vậy mà bị cái búng đứt làm hai khúc,rớt xuống đất quằn quại
mấy cái rồi nằm lăn ra chết đứ đừ.
Bỗng nghe tiếng cô gái la thất thanh:
-Trời ơi,ông này đánh chết con Thanh Linh của tôi rồi!
Bảo Định Đế thấy cô bé chừng 15,16 tuổi hoảng hốt ở phía sau cửa chạy
ra,hỏi ngay:
-Đoàn công tử ở đâu?
Cô bé hỏi lại:
-Ông kiếm Đoàn công tử làm chi?
Bảo Định Đế đáp:
-Ta đến cứu y.
Cô bé lắc đầu nói:
-Ông không cứu được đâu.Công tử bị giam trong nhà đá rất kiên cố,lại có
người canh giữ ghiêm ngặt.
Bảo Định Đế nói:
-Cháu cứ đưa ta đến,ra đánh bại người canh gác,xô đẩy tàng đá mở cửa cứu
y ra.
Cô gái vẫn lắc đầu nói:
-Không được đâu!Tôi đưa ông đến thì gia gia tôi sẽ giết tôi.
Bảo Định Đế hỏi:
-Gia gia cháu là ai?
Thiếu nữ đáp:
-Tôi họ Chung,gia gia tôi là chủ nhân động này.
Cô bé này chính là Chung Linh,sau khi ở núi Vô Lượng về,cô vẫn ở nhà.
Bảo Định Đế gật đầu nghĩ thầm:”Dù ta thí dổ hay bức bách y cũng mất cả
thể thống. Đoàn Dự đã ở đây,thế nào cũng tìm ra” Nghĩ vậy,nhà Vua trở ra
kiếm người dẫn đường cho mình.
Nhắc lại chuyện Đoàn Dự cùng Mộc Uyển Thanh ở trong nhà đá nghe
Thanh Bào Khách tự xưng là người ác số một trên thế gian,ngoại hiệu là ác
Quán Mãn Doanh thì kinh hãi vô cùng,trong lòng bối rối,tinh thần bạc
nhợc,rồi không hiểu sao hai người lại ngồi tựa vào nhau.
Đoàn Dự khẽ bảo:
-Uyển Thanh em ơi!Anh em ta mắc vào tay lão này thì vô phước mất rồi.
Mộc Uyển Thanh nói ú ớ,thấy mặt đỏ bừng như lửa đốt,liền rúc đầu vào
lòng Đoàn Dự cho đỡ nóng.Đoàn Dự vuốt tóc nàng.Quần áo hai người mồ
hôi ra ớt đẫm như vừa ngâm mình xuống nước.Nhiệt khí trong người bốc
lên,mũi thở hơi ra càng kích thích mạnh đối phương.Hãy nói một chàng trai
đầy nhựa sống ngồi bên cô gái đang tuổi dậy thì,không bị thuốc kích
động,cũng khó bề dập tắt lửa lòng.Huống chi lại bị “âm dương hoà hợp tán”
thúc đẩy con người vào vòng tội lỗi,dể khiến kẻ sĩ thẳng thắn trở nên dâm
dựt,người trinh nữ biến thành cô gái lẳng lơ.Chỉ một phut mê muội thì đến
bậc thánh hiền cũng hóa ra cầm thú.May mà Đoàn Dự tinh thần vẫn tỉnh
táo,không lúc nào quên thanh danh họ Đoàn. Chàng phải gắng gượng dẹp
lòng thú dục.
ác Quán Mãn Doanh Thanh Bào Khách đứng ngoài nói:
-Anh em mi mau mau hoàn thành hảo sự đi.Sinh con sớm ngày nào là thoát
khỏi vòng lao lung sớm ngày ấy.Ta đi đây.
Dứt lời,cành lá bức tường cây động rào rào.Lão đã đi xa rồi.
Đoàn Dự cất tiếng gọi to:
-Nhạc lão tam!Sư phụ ngươi gặp nạn.Ngươi may mau đến giải cứu!
Gọi mãi chẳng thấy ai thưa,chàng nghĩ thầm:”Trong lúc nguy cấp này mà ta
phải thờ lão làm thầy cũng đành.Thà thờ một người độc ác làm sư phụ để
chịu lỡ một đời mình,con hơn để luỵ đến gia gia cùng bá phụ” .Thế rồi
chàng gọi to hơn:
-Nam Hải Ngạc Thần!Tôi cam chịu thờ ông làm thầy đây,tôi nguyện ý làm
người nối nghiệp cho phái Nam Hải.Sư phụ mau mau đến cứu đồ đệ.Tôi
chêt thì không bao giờ ông kén chọn được đệ tử như tôi đâu.
Chàng gào rát cổ họng cũng chẳng thấy ma nào xuất hiện.
Bỗng Mộc Uyển Thanh cất tiếng hỏi:
-Đoàn Lang ơi!Em cùng chàng kết nghĩa phu thê,thì đứa con đầu lòng
chàng muốn trai hay gái?
Đoàn Dự mơ màng buột miệng đáp liền một tiếng:
-Trai.
Bất thình lình,bên ngoài có tiếng một cô gái nói vọng vào:
-Trời ơi!Đoàn công tử!Đoàn công tử!Công tử là anh ruột chị Uyển
Thanh,sao lại kết hôn được?
Đoàn Dự giật mình hỏi:
-Phải.. phải Chung cô nương đó không?
Cô gái đó chính là Chung Linh.Cô cả mừng đáp:
-Chính tôi đây!Tôi nghe trộm được lão ác nhân áo xanh nói chuyện mới biết
công tử ở đây.Tôi đang tìm cách cứu công tử ra khỏi nơi này.
Đoàn Dự cả mừng đáp:
-Nếu vậy hay!Nếu vậy hay!Cô nương mau đi lấy trộm thuốc giải độc cho
tôi.
Chung Linh đáp:
-Tôi tưởng tìm cách mở cửa nhà mật thất này cứu công tử trước hay hơn.
Đoàn Dự vội nói:
-Đừng đừng!Cô nương tìm thuốc mau đi.Tôi . . . tôi không chịu nổi nữa
rồi.Mau . . . mau lên,tôi muốn chết đây.
Chung Linh cả kinh hỏi:
-Sao mà không chịu nổi được nữa.Công tử đau bụng lắm à?
Đoàn Dự đáp:
-Không phải đau bụng . . .
Chung Linh lại hỏi:
-Vậy thế nhức đầu hay sao?
Đoàn Dự đáp:
-Tôi có nhức đầu đâu.
Chung Linh lại hỏi:
-Vậy công tử đau chỗ nào? Bệnh gì?
Đoàn Dự chỉ phải một tội không ngăn nổi tình dục,nhưng biết mở miệng nói
sao với một thiếu nữ.Chàng ấp úng:
-Toàn thân tôi khó chịu lắm,rất cần cô tìm lấy thuốc giải độc đến đây cho. .
Chung Linh chau mày nói:
-Công tử không nói rõ bệnh trạng thì biết lấy thuốc gì bầy giờ.Gia gia tôi
thuốc gì cũng có.Nhưng phải biết rõ:buốt óc,đau bụng,hay đau tim. . . mới
được chứ.
Đoàn Dự thở dài nói:
-Tôi chằng đau đâu hết,tôi. . .tôi ăn phải thứ thuốc kêu bằng “âm dương hoà
hợp tán”
Chung Linh vỗ tay cười nói:
-Công tử đã biết tên thuốc độc,thế là được rồi.Để tôi đi kiếm cho.
Nói xong,nàng bon bon chạy đi,nhảy vót lên đầu cành,chuyền qua bức
tường cây về nói với cha lấy thuốc giải âm dương hoà hợp tán.
Nào ngờ vừa nói đến âm dương hoà hợp tán ,bộ mặt ngựa của Chung Vạn
Cừu đã sa sầm, mắng luôn:
-Con nhãi này!Mi hỏi cái đó làm chi?Còn nói lăng nhăng nữa ta sẽ xẻo tai
đi?
Chung Linh vội đáp:
-Đâu phải con nói lăng nhăng. . .
Chưa dứt lời,bỗng đoàn người của Bảo Định Đế đến tấn công.Chung Vạn
Cừu vội chạy ra nghinh địch,bỏ mình Chung Linh ở lại trong phòng.
Chung Linh nghe tiếng gươm đao loãng choảng biết rằng hai bên đang đánh
nhau kịch liệt nhưng nàng mặc kệ không ra,lần lại tủ thuốc của cha tìm
kiếm.Chung Vạn Cừu có đến mấy trăm chai thuốc, chai nào cũng có đề tên
và chua rõ cách dùng.Song tìm mãi không thấy thuốc giải “âm dương hoà
hợp tán”. Nàng chưa biết tính sao,bỗng nghe tiếng phá cửa,liên không do
dự gì cả,quảng ngay con Thanh Linh ra.Nào ngờ con Thanh Linh mình
đồng ra sắt,mà không chịu nổi một cái búng của Bảo Định Đế,chết ngay lập
tức.
Đoàn Dự chờ lâu không thấy Chung Linh trở lại,lửa dục lên đến tột độ,mấy
lần ôm chặt Mộc Uyển Thanh vào lòng.Sau cùng chang không chịu nổi
nữa,liền bảo nàng:
-Thanh em ơi!Anh đành chịu chết thôi.Cho anh một mũi tên độc.
Mộc Uyển Thanh thều thào nói:
-Em không cho.
Rồi nàng thò tay ra nắm chặt lấy tay chàng.Đoàn Dự dùng hết sức đâm thọc
bàn tay vào bụng cho vỡ ra,tay chàng bỗng đụng vào một vật rắn chắc,thì ra
cái hộp đựng “Mãng Cổ chu cáp” giắt trong mình.Chàng sực nhớ ra ,nhủ
thầm:”Âu là ta cho Mãng Cổ Chu Cáp ra gọi đàn rắn độc về cắn chết ta đi là
xong.”
Chàng liền mở nắp hộp cho đôi mãng cổ chu cáp kêu oang oang.Nhưng vì
trong hang Vạn Kiếp này,Chung Linh thường thả con Kim Linh và con
Thanh Linh ra chơi,các loài rắn độc sợ hai con rắn thần này nên xa lánh
hết,không có con nào ở gần,nên không nghe tiếng Mãng Cổ Chu Cáp.Đoàn
Dự không thấy rắn độc đến mà mình thì miệng nóng,lưỡi khô,mổ hôi ra như
tắm,chàng nghĩ bụng:”Đôi mãmg cổ chu cáp này đã chế phục được các
giống rắn độc thì hẳn nó còn độc hơn rắn nhiều”. Chàng chẳng cần suy nghĩ
gì nữa,lấy một con bỏ vào mồm ăn.
Ăn xong một con,chàng thấy trong người mát mẻ dễ chịu,chàng liền ăn nốt
con thứ hai, Mộc Uyển Thanh thấy chàng đầu bù tóc rối,miệng đầy máu
tươi,khiếp quá.
Đoàn Dự ăn xong hai con mãng cổ chu cáp,thở lên hồng hộc chỉ chờ cho
chất độc hai con rắn ấy phát ra,kết quả tánh mạng mình để khỏi chịu đựng
ngọn lửa lòng nung nấu tâm can đến cực độ.
Lại nói đến Bảo Định Đế trở ra tìm người dẫn đường cho mình vào sau có
tiềng chân người chạy theo,quay đầu nhìn thì ra Chung Linh bèn đứng lại
chờ.
Chung Linh vừa chạy vừa gọi:
-Ông ơi!Tôi tìm không thấy thuốc giải độc.Tôi đưa ông đến nhà mật
thất,liệu ông có đẩy được tảng đá lớn đóng cửa cái nhà đó không?
Bảo Định Đế chẳng hiểu nàng nói gì,hỏi lại:
-Cháu nói thuốc giải độc gì?Tảng đá lớn nào?
Chung Linh đáp:
-Ông theo tôi đến đó sẽ rõ.
Đường lối trong hang Vạn Kiếp tuy khuất khúc nhưng có Chung Linh dẫn
đi,thoáng cái đã đến bức tường cây.Chung Linh còn đang ngơ ngác ,chưa
biết tính cách nào cho ông trèo lên,chỉ vút một cái,Bảo Định Đế đã nhảy lên
trên không,vượt tường cây một cách dễ như chơi.Chung Linh vỗ tay khen:
-Tuyệt quá!Tuyệt quá!Trời ơi!Dễ ông này biết bay chắc?
Người ngồi gác thạch thất chính là Thanh bào quái khách,Chung Linh sợ
quá nói khẽ:
-Chúng ta chạy đi thôi ông ạ.Đợi lão đi rồi sẽ trở lại.
Bảo Định Đế nhìn thấy Thanh Bào Khách cũng rất lấy làm kỳ dị,vỗ về bảo
Chung Linh:
-Có ta đây,cháu đừng sợ gì hết!Phải chăng Đoàn Dự bị nhốt trong nhà đá
kia?
Chung Linh gật đầu, chui vào sau lưng Bảo Định Đế, Bảo Định Đế ung
dung tiến lại gần Thanh bào khách nói:
-Xin tôn giá chiều ta một chút,tránh sang bên cho!
Thanh bào khách tựa như không nghe tiếng,vẫn ngồi yên không nhúc nhích.
Bảo Định Đế nói:
-Tôn giá không chịu tránh ra,thì đừng trách ta vô lễ.
Dứt lời,nghiêng mình lướt qua mặt Thanh Bào Khách,đưa tay lên tảng đá
lớn,toan đẩy. Bỗng thấy Thanh Bào khách rút bên sờn ra một cành trúc
nhằm đúng huyệt ” Khuyết bồn” Bảo Định Đế.Ngọn roi chỉ rung động bên
ngoài,chứ không điểm vào người.Nhưng một khi Bảo Định Đế vận nội lực
đẩy tảng đá là sẽ bị cành trúc điểm huyệt tức khắc, không còn cách nào
tránh kịp.
Bảo Định Đế biết chừng nghĩ thầm:”phép điểm huyệt của lão này xem ra có
vẻ đến mức tuyệt cao,trên thế gian sao cũng có người giỏi môn này.”Ông
liền giơ tay phải lên khẽ đánh một luồng chường lực,tay trái luồn xuống
dưới tay phải,đặt lên tảng đá đóng cửa thạch thất.
Cành trúc của Thanh bào khách chuyển hướng nhằm huyệt”Thiên đia” Bảo
Định Đế.
Chưởng lực Bảo Định Đế chuyển nhanh như gió,liền một lúc thay đổi đến
bảy phương vị,mà lần nào cũng bị Thanh bào khách chống chế rất tài tình.
Hai tay cao thủ gặp nhau,đòn đánh ngang nhau,biến hoá mau le cũng tương
đương, thành ra Bảo Định Đế không được rảnh tay chút nào để vận nội công
đẩy tảng đá.
Bảo Định Đế thấy Thanh bào khách cùng mình không phân cao thấp,so với
Đoàn Chính Thuần thì lão còn cao hơn một bực.Ông lại hất tay trái đánh
xéo lên một chưởng,bỗng nghe xuỳ một tiếng,chưởng pháp vụt biến thành
phép điểm huyệt “nhất dương chỉ”, điểm lên cành trúc.Giả tỷ mà điểm trúng
thì đừng nói cành trúc,mà đến cành gang thép đúc nên cũng bị bẻ cong
lại.Không ngờ cành trúc phát ra một tiếng véo điểm ngược lại.Hai luồng
chưởng lực chạm nhau trên không trung mà Bảo Định Đế bị hất lùi lại còn
Thanh bào khách cũng bị rung chuyển.Trên mặt Bảo Định Đế loé ra những
ánh hồng quang,trên mặt Thanh Bào Khách cũng thoáng hiện một luồng
thanh khí.
Bảo Định Đế rất lấy làm kỳ nghĩ thầm:người này không những võ công
tuyệt cao,mà rõ ràng đối với ta có mối liên hệ chi đây.Cái cành trúc kia
dùng làm trượng pháp cũng na ná như phép nhất dương chỉ.Nghĩ vậy liền
chắp tay hỏi:
-Tiền bối quý tính đại danh là chi?Xin cho biết.
Bỗng nghe tiếng người hỏi lại:
-Ngươi là Đoàn Chính Minh hay Đoàn Chính Thuần?
Bảo Định Đế thấy lão không nhếch mép mà nói được,lại càng rất đỗi ngạc
nhiên,trịnh trọng đáp:
-Tôi là Đoàn Chính Minh.
Thanh Bào Khách lại hỏi:
-Phải chăng ngươi là đương kim Hoàng đế nước Đại Lý?
Bảo Định Đế đáp:
-Chính phải.
Thanh Bào Khách lại hỏi:
-Võ công ngươi so với ta,ai hơn?
Bảo Định Đế trầm ngâm một lát rồi đáp:
-Kể về võ công thì tiền bối hơn tôi chút đỉnh,nhưng đánh nhau thực sự thì
tôi thắng tiền bối.
Thanh Bào Khách nói:
-Ngươi nói đúng lắm!Thân ta tàn tật thế này thì sức lực bằng ngươi thế nào
được.Thế ra lên ngôi hoàng đế rồi,ngươi vẫn không chút sao lãng việc luyện
võ?
Tiếng lão tuy từ trong bụng thốt ra,vẫn lộ vẻ ảo não thất vọng. Bảo Định Đế
nghĩ mãi không ra lai lịch lão.Trong óc nảy ra vô số nghi vấn,bỗng nhiên từ
trong thạch thất vọng ra một tiếng hét lớn,rõ ràng tiếng Đoàn Dự.
Bảo Định Đế gọi to:
-Dự con!Con làm sao thế?Con hãy cứ yên tâm,có ta đến cứu đây.
Đoàn Dự từ lúc nuốt đôi mãng cổ chu cáp,lúc đầu thấy mát ruột dễ
chịu.Ngờ đâu mãng cổ chu cáp là một vật kỳ dị,hiếm có trên thế gian do
dương khí thuần nhất sinh ra.Giả tỷ Mộc Uyển Thanh ăn vào,thì âm dương
giao hợp,lập tức tiên tan được chất độc trong người.Nhưng Đoàn Dự dương
khí đã thịnh,nuôt mãng cổ chu cáp vào chẳng khác chi lửa cháy đỏ thêm
dầu,nhiệt khí nung nấu không thể chịu thêm được,phải mở miệng hét lên
một tiếng thật to,uất kết trong người mới nhẹ đi được đôi chút.
Bên ngoài Bảo Định Đế cùng Thanh bào khách đối thoại cả đến câu Bảo
Định Đế biểu “hãy cứ an tâm” có lọt vào tai chàng,mà chàng chẳng hiểu gì
ráo.
Thanh bào khách nói tiếp:
-Thằng lỏi này bản lãnh nó gớm thật,ta đã cho nó uống âm dương hoà hợp
tán mà nó còn chống trọi được đến bây giờ.
Bảo Định Đế giật mình hỏi:
-Tiền bối cho nó uống thuốc dâm độc đó là có ý gì?
Thanh bào khách đáp:
-Ta nhốt cả con em gái nó trong thạch thất này.
Bấy giờ Bảo Định Đế mới hiểu rõ mưu sâu kế độc của lão.Tuy nhà vua đã
tu tâm dưỡng tánh mà không nhẫn nại được nữa,phải nổi trận lôi đình,phất
tay áo một cái điểm huyệt lão già quái ác, nhà vua lại phóng chỉ lực sức
mạnh ở ngón tay điểm huyệt”đản trung” , một yếu huyệt trí mạng.
Bảo Định Đế đã yên trí thế nào lão cũng đưa toàn lực ra để phản ứng.Nào
ngờ lão bật lên hai tiếng cười “hích hích” rồi ngôi yên chịu chết, chứ không
né tránh,cũng không chống đối.
Ngón tay Bảo Định Đế vừa chạm tới áo ngoài,trong bụng sinh nghi lập tức
thu ngón tay về hỏi:
-Tại sao tiền bối cam tâm chịu chết?
Lão đáp:
-Ta được chết dưới tay ngươi thì còn gì hay bằng.Vì tội nghiệp họ Đoàn lại
tăng thêm một từng nữa.
Bảo Định Đế hỏi:
-Tiền bối là ai?
Thanh bào khách nói rất khẽ chỉ đủ cho Bảo Định Đế nghe rõ.

Hết Chương 18

Hết Hồi 18

=================================================================

Chương 19   Hồi 19

Người áo xanh là ai

    Bảo Định Đế nghe Thanh bào khách nói, biến sắc đáp:
– Tôi không thể tin ông được.
Thanh bào khách liền cầm gậy trúc sang tay trái, đưa ngón tay trỏ bên phải
ra đánh vèo ra điểm huyệt Bảo Định Đế. Bảo Định Đế nghiêng mình tránh
khỏi xong, trả đũa luôn một ngón.
Thanh bào khách cùng Bảo Định Đế lại lần lượt đến ngón tay giữa, ngón vô
danh, ngón út rồi sau cùng là ngón cái đều theo đúng phép “Nhất Dương
Chỉ” ăn miếng trả miếng.
Chung Linh đứng bên nhìn thấy lạ mắt, động tính hiếu kỳ của trẻ thơ, quên
cả sợ hãi ông già áo xanh cười hỏi:
– Hai ông chơi trò oản tù tỳ đấy ? Hết ông này đưa tay lại đến ông kia chìa
ngón. Như vậy ai thua ai được?
Nàng vừa nói vừa lân la lại gần, thốt nhiên một luồng gió cực mạnh thổi
đến, Chung Linh đang nẩy người lên một cái, tựa như bị mũi dao nhọn đâm
vào trước ngực, thì Bảo Định Đế đánh hất lại một chưởng đẩy người nàng
lùi lại phía sau. Nàng sợ run, mặt tái mét. Bảo Định Đế giữ cho nàng đứng
lại được rồi hỏi:
– Liệu cháu có bị nguy đến tính mạng không?
Chung Linh kêu “ối” lên một tiếng, miệng hộc máu tươi ra, run lập cập đáp:
– Ông… ông kia muốn giết tôi.
Bảo Định Đế lắc đầu đáp:
– Không phải đâu! Ông ấy đang cùng ta tỷ thí võ công, người ngoài chớ có
đến gần.
Đoạn đưa tay ra vỗ nhẹ lưng nàng mấy cái để an ủi.
Thanh bào khách hỏi Bảo Định Đế:
– Bây giờ ngươi đã tin lời ta cha?
Bảo Định Đế vội tiến lên mấy bước, khúm núm lạy phục xuống nói:
– Chính Minh này xin bái kiến tiền bối.
Thanh bào khách nói:
– Ngươi chỉ gọi ta bằng tiền bối thôi ? Thế là ngươi chưa tin nên mới
không nhận ta.
Bảo Định Đế nói:
– Chính Minh này làm chúa tể một nước, trên vai nặng trĩu gánh sơn hà đâu
dám có hành động lỗ mãng, cẩu thả? Mình đã không con, dòng dõi chính
thống lại còn một mình Đoàn Dự, xin tiền bối rộng lượng buông tha y ra.
Thanh bào khách đáp:
– Ta chỉ cần cho họ Đoàn nước Đại Lý loạn luân, thất đức, tuyệt diệt dòng
giống, đã ráng chờ cho có ngày nay, có lý đâu lại nới tay một cách dễ dãi
thế được?
Bảo Định Đế to tiếng:
– Đoàn Chính Minh này nhất định không để cho tiền bối làm như vậy đâu.
Thanh bào khách cũng hằn học:
– Trời ơi! Ngươi cứ tự xưng là Hoàng đế nước Đại Lý. Ta cho ngươi chỉ là
kẻ loạn thần tặc tử, đã mưu đồ chiếm đoạt ngai vàng mà thôi. Ta thách
ngươi có giỏi thì về điều động cả thần sách quân lẫn ngự lâm quân tới đây.
Ta nói cho ngươi hay: dù thế lực ta còn kém ngươi xa, nhưng ta giết thằng
giặc non Đoàn Dự dễ như trở bàn tay.
Nét mặt Bảo Định Đế hết xám xanh lại trắng bợt. Ông biết rằng lão nói thật.
Đừng nói đến chuyện điều động thần sách quân cùng ngự lâm quân tới, mà
mình chỉ thêm một tay giúp sức là lão cũng không địch nổi rồi. Nhưng lúc
đó lão sẽ gia hại Đoàn Dự ngay tức khắc. Huống chi lão còn là tiền bối
mình, kẻ dưới không nên xúc phạm người trên cho loạn mối cương thờng.
Nghĩ vậy nhà Vua đành đánh lá bài xử nhũn:
– Vậy tiền bối muốn thế nào sẽ phóng xá Đoàn Dự xin cho biết!
Thanh bào khách đáp:
– Điều đó phỏng có khó gì? Ngươi phải xuất gia đầu Phật, nhường đế vị lại
cho ta, ta sẽ tha nó.
Bảo Định Đế nói:
– Cơ nghiệp của tổ tiên truyền đời để lại, tôi đâu dám tự tiện chắp tay đem
dâng cho người?
Thanh bào khách lại nói:
– Vậy thì ngươi phải ráng chờ. Khi nào Đoàn Dự cùng em gái ăn ở với nhau,
sanh hạ được chút con, bất luận trai hay gái ta sẽ tha ra.
Bảo Định Đế vẫn ngọt nhạt:
– Nếu vậy thì thà rằng tiền bối giết y đi còn hơn.
Thanh bào khách lại nói:
– Ngoài ra còn có hai đờng để giải quyết: một là ngươi lừa lúc ta không
phòng bị, ám toán giết ta đi rồi ngươi tự ý tha nó ra.
Bảo Định Đế nói:
– Không đời nào tôi ám toán giết tiền bối.
Thanh bào khách tiếp:
– Nói vậy thì nói chứ ám toán ta đâu phải chuyện dễ dàng? Còn đường thứ
hai nữa là ngươi bảo Đoàn Dự đem phép Nhất Dương Chỉ ra đấu với ta. Nếu
thắng tự nhiên y sẽ tẩu thoát.
Nói xong lão cười sằng sặc trong cổ họng. Bảo Định Đế nổi giận nhưng cố
nén, chậm rãi nói:
– Đoàn Dự không biết chút võ nghệ nào chứ đừng nói gì đến phép Nhất
Dương Chỉ nữa.
Thanh bào khách đáp:
– Trai họ Đoàn mà bảo rằng không biết Nhất Dương Chỉ thì ai tin được?
Bảo Định Đế nói:
– Đoàn Dự từ thuở nhỏ học Thi, Thư cùng kinh Phật, tâm địa từ bi, kiên
quyết không chịu học võ.
Thanh bào khách nói:
– Đó chỉ là một lối giả nhân nghĩa. Hạng ấy mà lên ngôi Vua thì chưa chắc
đã là hạnh phúc cho lê dân Đại Lý, giết quách đi là hơn.
Bảo Định Đế xẵng giọng hơn:
– Xin tiền bối cho biết còn đường lối nào khác nữa không?
Thanh bào khách đáp:
– Ngươi còn hỏi chi đến đường lối nào khác? Giả tỷ năm nọ có đường lối để
thoát thì ta đâu đến nỗi thân tàn ma dại thế này? Kẻ khác không cho ta lối
thoát có lý đâu ta chịu tìm lối thoát cho các ngươi?
Bảo Định Đế cúi đầu ngẫm nghĩ một lúc, rồi vẻ mặt cương quyết gọi to:
– Dự con ơi! Ta sẽ tìm cách cứu con ra khỏi chốn lao lung. Con chớ quên
mình là con cháu họ Đoàn nghe!
Bỗng nghe Đoàn Dự la lớn:
– Bá phụ ơi! Bá phụ lại gần đây đem phép Nhất Dương Chỉ ra xử tử cháu đi
cho rồi.
Bảo Định Đế giật giọng hỏi:
– Thế nào? Mi làm bại hoại gia phong họ Đoàn rồi sao?
Đoàn Dự đáp:
– Không! không phải thế. Cháu thấy trong lòng nóng như thiêu như đốt,
không thể sống được nữa.
Bảo Định Đế nhủ:
– Con người ta sống chết có số mệnh, con đành phó mặc Hoàng thiên tới
đâu hay đó.
Đoạn nhà Vua cầm tay Chung Linh vừa nhảy qua bức tường cây vừa nói:
– Tiểu cô nương! Đa tạ cháu đã đa đường cho ta, sau này sẽ có ngày trả ơn.
Rồi theo lối cũ đi ra trước cửa toà nhà chính. Lúc đó mọi người giao đấu,
phân thắng bại đã hơi rõ rệt: Phủ tiên điếu Lăng Thiên Lý cùng Điểm
Thương Nông Đổng T Quy hai người hiệp lực đánh Nam Hải Ngạc Thần
đã có vẻ thắng thế. Bút Mặc Sinh Chu Đan Thần cùng Thái Tân Khách Tiêu
Đốc Thành đã uy hiếp được thanh bạc đao của Diệp Nhị Nương. Cây phất
trần của Thư Bạch Phụng vây bọc cặp Tu la đao của Tần Hồng Miên xem
chừng đã khó bề xoay sở. Ngoài hiên bên kia cặp giò Vân Trung Hạc tuy
vẫn lanh lẹ dị thường nhưng miệng đã thở hồng hộc như trâu cày mệt nhọc
mà Ba Thiên Thạch vẫn nhảy lên chồm chồm, còn đang sung sức. Thiện
xiển hầu Cao Thăng Thái vẫn chắp hai tay để sau lưng, thủng thẳng đi lại
ung dung, có vẻ nắm chắc phần thắng về phe mình. Tuy ông giả bộ chẳng
quan tâm gì đến những trận chiến đấu khốc liệt xung quanh nhưng kỳ thực
mắt nhìn khắp sáu mặt, tai nghe hết tám phương, tinh thần sáng suốt bao
trùm cả cục diện. Vì thấy phe mình không ai lâm vào tình trạng nguy kịch
nên Hầu chẳng cần ra tay tiếp viện.
Bảo Định Đế không thấy em đâu liền hỏi:
– Chú Thuần đâu?
Cao Thăng Thái tâu:
– Trấn Nam Vương đang đuổi Chung động chúa để đi tìm Đoàn công tử.
Bảo Định Đế hạ lệnh:
– Công việc nơi đây sẽ có kế hoạch khác, các ngươi hãy ngừng tranh đấu để
quay về đã.
Ba Thiên Thạch nghe lệnh bỗng nhiên đứng lại. Vân Trung Hạc nhảy bổ
tới, Ba Thiên Thạch thừa cơ đánh vút ra một chưởng. Vân Trung Hạc đưa cả
hai tay ra chống đỡ cảm thấy trong người nôn nao, rồi miệng trào máu tươi
ra. Y cố gượng trấn tĩnh nhưng mắt hoa lên, nhìn không rõ đường quyền
đánh tới đành phải bỏ chạy. Ba Thiên Thạch cũng không đuổi theo, chỉ cười
hềnh hệch nói:
– Ta đã biết sức nhau rồi.
Đoàn Chính Thuần ở trong bụi rậm đi ra hỏi Bảo Định Đế:
– Hoàng huynh đã tìm thấy chỗ thằng Dự chưa?
Bảo Định Đế gật đầu đáp:
– Tìm thấy rồi! Ta hãy về thành rồi sẽ nói chuyện.
Bọn Lăng Thiên Lý, Chu Đan Thần thấy nhà vua hạ lệnh đình chiến cũng
đều muốn dừng tay song phe Diệp Nhị Nương, Nam Hải Ngạc Thần, Tần
Hồng Miên đang hăng không chịu bãi chiến cứ đánh hoài. Bảo Định Đế
chau mày nói:
– Chúng ta đi thôi!
Cao Thăng Thái “vâng” một tiếng, đoạn rút ống ngọc địch ra, ống tay áo
rộng lùng thùng, bay phất phới nhằm đánh vào sau lưng Tần Hồng Miên.
Tần Hồng Miên cất tiếng mắng liền:
– Bọn mi cậy đông ngời để thủ thắng sao không biết thẹn?
Bỗng nghe hai tiếng “loảng choảng”, ngọc địch đã đánh trúng vào hai ngọn
Tu la đao của Tần Hồng Miên. Cặp đao phải hạ thấp xuống, Thư Bạch
Phụng liền nhân lúc đó quay lại, nhảy ra đằng sau.
Cao Thăng Thái phất tay áo lùng thùng một cái, phát ra một luồng kình
phong cản Tần Hồng Miên lại, không cho đuổi theo nữa. Rồi cầm ngọc địch
nhằm Nam Hải Ngạc Thần đánh tới, đoạn hất tay đánh sang Diệp Nhị
Nương. Cả hai đòn này đều nhằm đánh vào huyệt trọng yếu đối phương.
Nam Hải Ngạc Thần cùng Diệp Nhị Nương đồng thời kinh hãi lùi lại phía
sau ba bước.
Thực ra thì võ công Cao Thăng Thái đâu có thể lấy một chọi ba được nhưng
ông đứng lược trận từ lâu, nhìn nhận kỹ càng, rồi đột nhiên sử dụng đòn
tuyệt kỹ để đối phó với cả ba người cùng một lúc khiến họ nhất thời phải
hoang mang, chân tay quờ quạng, tuy ông vẫn ung dung như không. Thực
ra thì ba đòn này ông đã tốn không biết bao nhiêu công phu tập luyện và đã
phải dùng toàn lực thi thố. Hơn nữa ông đã suy đi tính lại rất kỹ, ba đòn này
cực kỳ hiểm độc, đối phương chỉ còn một lối lùi lại phía sau để tránh, tuyệt
không còn cách nào để trả đòn lại được.
Nam Hải Ngạc Thần giương đôi mắt ti hí lên mà nhìn Cao Thăng Thái, vừa
kinh hãi vừa bội phục nói:
– Mẹ cái thằng cừu non này gớm thật, ta không ngờ…
Lão không thốt ra hết lời nhưng ý lão định nói: Ta không ngờ mi ghê gớm
đến thế, ta đây khó có thể ăn đứt được thằng lỏi này.
Thư Bạch Phụng hỏi Bảo Định Đế:
– Tâu Hoàng huynh! Cháu Dự có sao không?
Bảo Định Đế tuy trong lòng rất lo ngại nhưng ngoài mặt vẫn giữ vẻ thản
nhiên đáp:
– Không sao đâu! Thật là cơ hội rất tốt để rèn luyện cho y. Chỉ mấy hôm
nữa là ra được. Thôi ta hãy về Triều rồi sẽ nói chuyện.
Bảo Định Đế đi đầu, vợ chồng Đoàn Chính Thuần nối gót rồi đến bọn tuỳ
tùng. Sau bọn tuỳ tùng là bốn gã Ngư, Tiều, Canh, Độc. Cao Thăng Thái đi
hậu đoạn, vì mấy đòn vừa đây Cao đã làm bên địch khiếp sợ. Nam Hải
Ngạc Thần hung hãn là thế mà cũng không dám đuổi theo khiêu chiến.
Đoàn Chính Thuần đi chừng mời trượng không nhịn được, phải quay lại
nhìn theo Tần Hồng Miên. Tần Hồng Miên cũng run run nhìn theo ông.
Bốn mắt gặp nhau, hai bên đều có vẻ ngẩn ngơ.
Nam Hải Ngạc Thần quát hỏi:
– Con cừu kia! sao không cút đi cho lẹ, còn tiếc rẻ cái gì? Hay muốn chơi
nhau với lão gia đây một trận nữa?
Đoàn Chính Thuần giật nảy mình, vội quay mặt về phía trước thấy vợ đang
trố mắt nhìn mình ông đành phải rảo bước chạy theo, ra khỏi hang Vạn
Kiếp.
Đoàn người về đến nước Đại Lý, Bảo Định Đế bảo mọi người vào luôn
trong cung thương nghị. Vào đến thư phòng, chia thứ bậc an toạ xong, Vua
truyền cho nột thị lui ra rồi đem tình hình Đoàn Dự bị giam giữ thuật lại.
Bấy giờ mọi người mới hiểu việc này mấu chốt đều ở cả trong tay Thanh
bào khách. Nhưng lại nghe Bảo Định Đế nói: không những lão đã giỏi phép
Nhất Dương Chỉ mà võ công cũng hơn ngài một bậc nên không ai dám nói
gì.
Ta nên nhớ rằng phép Nhất Dương Chỉ họ Đoàn chỉ truyền cho con trai chứ
không truyền cho con gái. Thanh bào khách đã hiểu phép này tất nhiên phải
là con cháu chính phái họ Đoàn.
Mọi người nghe Bảo Định Đế nói đều cả kinh thất sắc. Đoàn Chính Thuần
nói:
– Thái tử Diên Khánh đã qua đời rồi còn đâu? Chắc lão này mạo nhận đó
thôi.
Bảo Định Đế thở dài nói:
– Tên tuổi thì còn có thể nhận càn chứ phép “Nhất Dương Chỉ” thì có lý nào
giả mạo được? Học võ phải đường hoàng, nếu nghe trộm học lỏm thì chỉ là
hạng tầm thường trong phái võ lâm. Nội công tâm pháp những kẻ học lỏm
có đâu đến mực cao siêu như lão? Lão đích là thái tử Diên Khánh rồi không
còn nghi ngờ gì nữa.
Đoàn Chính Thuần ngẫm nghĩ một lúc rồi tiếp:
– Đại ca đã nhận rõ lão là thái tử Diên Khánh thì dù sao cũng dòng giống họ
Đoàn, vì lẽ gì lão lại cố làm bại hoại gia phong nhà ta?
Bảo Định Đế nói:
– Lão khắp người tàn tật nên tính tình kỳ dị, nhất thiết không thể lấy lý lẽ
thông thường mà lường được. Lão ôm một mối căm thù bất diệt, cố tìm
cách phá hoại được thanh danh anh em ta mới hả giận.
Đoàn Chính Thuần nói:
– Đại ca lên ngôi báu đã được bấy nhiêu lâu, thần dân đội đức, bốn cõi yên
vui. Đừng nói là thái tử Diên Khánh xuất hiện, giả tỷ Thượng Đế Đức có
phục sinh cũng không trở lại ngôi Vua được nữa.
Cao Thăng Thái cũng đứng lên tâu:
– Lời Trấn Nam Vương thật là chí lý. Thái tử Diên Khánh biết điều trao trả
Đoàn công tử thì thôi bằng không thì ta không thể nhìn nhận ông là người
đứng đầu bốn nhân vật kỳ dị trên đời này nữa mà chỉ coi ông là kẻ thất phu,
ai cũng có quyền tru lục. Bất luận võ công ông ta cao đến mực nào cũng
không thể địch lại số đông.
Nguyên mười bốn năm trước đây, Thượng Đức Đế Đoàn Liêm Nghĩa trị vì
nước Đại Lý. Nhằm năm Thượng Đức thứ 5, Thượng Đức Đế bị gian thần là
Dương Nghĩa Trinh giết chết. Sau người cháu gọi Thượng Đức Đế bằng bác
là Đoàn Thọ Huy được vị trung thần Cao Trí Thăng phò tá giết Dương
Nghĩa Trinh, đưa lên kế vị hiệu là Thượng Minh Đế. Thượng Minh Đế
không muốn làm Vua, trị vì được 1 năm rồi xuất gia đầu Phật nhường ngôi
báu lại cho đường đệ là Đoàn Chính Minh tức Bảo Định Đế. Đoàn Liêm
Nghĩa có sinh được một người con trai là thái tử Diên Khánh, song sau khi
gian thần Dương Nghĩa Trinh giết Vua cướp ngôi không thấy thái tử Diên
Khánh đâu nữa. Ai cũng cho là thái tử Diên Khánh bị Dương Nghĩa Trinh
hạ sát rồi.
Nhắc lại Bảo Định Đế nghe lời Cao Thăng Thái tâu, lắc đầu nói:
– Ngôi báu này chính là của thái tử Diên Khánh, chỉ vì khi trước không tìm
thấy người nên Thượng Minh Đế mới lên kế vị, sau Thượng Minh Đế truyền
lại cho ta. Nay thái tử Diên Khánh đã trở về, lý đương nhiên ta phải trả ngôi
báu lại cho người.
Đoạn nhìn Cao Thăng Thái nói tiếp:
– Giả tỷ lệnh tôn mà còn dĩ nhiên cũng nghĩ như ta.
Nguyên Cao Thăng Thái là con vị công thần Cao Trí Thăng. Hồi đó sở dĩ
trừ gian giệt nịnh được toàn là nhờ công Cao Trí Thăng cả.
Cao Thăng Thái tiến lên một bước, nằm phục xuống đất tâu:
– Tiên phụ kẻ vi thần này tuy có dạ trung chúa yêu dân thật nhưng Thanh
bào khách này là người đứng đầu bọn Tứ ác, giả tỷ mà ông lên làm vua
nước Đại Lý, sửa trị muôn dân thì trăm họ điêu linh biết bao nhiêu mà kể.
Việc chúa thượng định nhường ngôi này, kẻ vi thần là Cao Thăng Thái dù
tội đáng muôn thác cũng không dám tuân lệnh.
Lăng Thiên Lý cũng phủ phục tâu:
– Thần là Lăng Thiên Lý đã nghe Nam Hải Ngạc Thần, người thứ ba trong
Tứ ác hú lên những tiếng ghê hồn, biểu người đứng đầu Tứ ác là ác quán
mãn doanh. Nếu ác quán mãn doanh không phải là thái tử Diên Khánh thì
dĩ nhiên không thể lên ngôi báu được rồi, giả tỷ lão chính là thái tử Diên
Khánh thì cũng dâm ác bằng mấy Nam Hải Ngạc Thần. Chúa thượng nỡ để
lão lên sửa trị muôn dân nước Đại Lý này cho giang sơn điên đảo, xã tắc
khuynh nguy hay sao?
Bảo Định Đế khoát tay nói:
– Hai người hãy đứng dậy. Lời các ngơưi quả là có lý, nhưng Đoàn Dự đã
mắc vào tay thái tử Diên Khánh ngoài việc ta nhường ngôi lại cho người
phỏng còn cách nào lấy được thằng Dự ra?
Đoàn Chính Thuần nói:
– Bẩm đại ca! Xưa nay chỉ có chuyện vua cha lâm nạn, kẻ làm tôi con phải
lăn vào cứu cấp. Thằng Dự tuy là đứa cháu thương yêu của đại ca nhưng có
lý đâu vì y mà đại ca phải bỏ ngôi trời? Vậy thì y có thoát nạn cũng thành
kẻ đại tội ở nước Đại Lý.
Bảo Định Đế đứng lên, tay trái vuốt chòm râu dài, hai ngón tay phải gõ nhẹ
vào trán, bước thủng thỉnh đi trong thư phòng. Mọi người đều biết khi gặp
việc khó giải quyết ngài thường có cử chỉ như vậy để xuất thần suy nghĩ nên
không ai dám lên tiếng, để ngài được tĩnh trí.
Bảo Định Đế đi đi lại lại hồi lâu rồi nói:
– Thái tử Diên Khánh là một tay rất hiểm độc, cho thằng Dự uống “Âm
dương hoà hợp tán”. Chất thuốc này phát động ghê gớm, người tầm thờng
khó lòng chống chọi nổi. Chỉ sợ… chỉ sợ lúc này thuốc độc làm cho y mê
muội rồi cũng chưa biết chừng. Than ôi đó là tại người ngoài bầy ra mưu
sâu kế độc, chứ nào phải tại y, mình trách y thế nào được?
Đoàn Chính Thuần cúi gằm mặt xuống, xấu hổ vô cùng. Ông tự trách mình:
Hoạ này xét cho cùng chỉ tại mình quá lãng mạn gây ra.
Bảo Định Đế quay đầu lại hỏi Cao Thăng Thái:
– Thăng Thái! Con gái ngươi năm nay bao nhiêu tuổi?
Thăng Thái tâu:
– Tiểu nữ năm nay 18 tuổi.
Bảo Định Đế nói:
– Nếu vậy hay! Này Thuần đệ! Ta cho đưa sánh lễ sang bên Thiện xiển hầu
để hỏi Cao tiểu thư về làm dâu.
Nhà Vua lại gọi:
– Ba Tư Không! ngươi sang bàn với bộ Lễ sắp đồ nạp thái vấn danh, cùng
thảo luận các nghi tiết. Việc này càng làm rầm rộ càng hay, cốt cho khắp
nước Đại Lý đều biết tiếng.
Vợ chồng Đoàn Chính Thuần, Cao Thăng Thái, Ba Thiên Thạch nghe đức
Vua phán truyền, ai nấy đều sửng sốt song đều hiểu thâm ý của Ngài. Sở dĩ
ngài có hành động này là muốn bảo toàn thanh danh cho họ Đoàn lẫn Đoàn
Dự, cốt tỏ cho thiên hạ biết Đoàn Dự đã có vợ con hẳn hoi. Nếu rồi đây thái
tử Diên Khánh có biêu diếu rằng Đoàn Dự cùng em gái làm trò đồi bại thì
người ngoài chỉ cho là lão bịa chuyện phao vu, hay ít ra cũng gieo được mối
nghi ngờ vào lòng người.
Đoàn Chính Thuần nói:
– Kế đó của Hoàng huynh quả là tuyệt diệu. Đệ có được nghe từ lâu Cao
tiểu thư tính hạnh đoan trang, tài mạo song toàn, thực là một mối tương
duyên. Có điều thằng Dự tính nết kỳ quặc, khó bảo. Đệ tưởng hãy chờ y
thoát khỏi tai nạn trở về, báo cho y biết, rồi hãy nạp sính hay hơn.
Bảo Định Đế nói:
– Ta vẫn biết tính y cố chấp. Anh em mình bảo y học phép Nhất Dương Chỉ
y cũng không chịu. Đúng là một đứa không biết điều hơn lẽ thiệt. Nhưng
hôn nhân là việc hệ trọng, phải tuỳ nơi cha mẹ xếp đặt, chẳng lẽ y dám cãi
lời vợ chồng Hoàng đệ hay sao? Việc này không những bảo vệ thanh danh
cho họ Đoàn mà còn có quan hệ đến cả đời y, nhất quyết y phải tuân lệnh.
Đoàn Chính Thuần nói:
– Đệ thấy nói Cao tiểu thư gầy yếu lắm. Việc này nên bàn kỹ đã.
Bảo Định Đế vẻ mặt cương quyết nói:
– Gầy yếu thì đã làm sao? Cao hiền đệ đây võ nghệ cao cường sẽ truyền dạy
con gái chút ít phép hô hấp chỉ trong một vài năm là khoẻ mạnh ngay.
Đoàn Chính Thuần ngập ngừng nói:
– Chẳng qua…
Bảo Định Đế ngắt lời:
– Thuần đệ! Sao cứ gàn mãi là có ý gì vậy? Hay hiền đệ có điều gì bất mãn
với Cao đệ?
Đoàn Chính Thuần vội nói:
– Đâu có chuyện ấy? Cao hiền đệ với em như tình ruột thịt nay lại kết thân
gia nữa thì còn gì hay bằng? à… mà Ba Tư Không cũng có một vị tiểu thư…
rồi Phạm tư mã cũng còn những hai cô. Xin bàn lại xem sao đã.
Ba Thiên Thạch cười nói:
– Tiểu nữ chưa đầy một tuổi, còn hai tiểu thư con quan Phạm Tư mã thì một
là con dâu tôi và một nữa cũng đã đính hôn cùng cậu con cả con quan tư đồ
họ Hoa.
Bảo Định Đế tỏ vẻ không bằng lòng gắt:
– Thuần đệ! Thiên thạch là quan đồng triều mà hiền đệ chưa biết những việc
đó sao?
Đoàn Chính Thuần thấy Hoàng huynh gay gắt không dám nói nữa.
Cao Thăng Thái nói:
– Trấn Nam Vương! Thăng Thái này cùng Vương gia chơi với nhau từ thuở
nhỏ, hai ta chưa có chuyện gì biết mà không nói, nói mà không hết. Vương
gia thấy tiểu thư có điều chi thất đức nên không muốn cho nó về làm con
dâu phải không? Xin Vương gia cứ nói thật đi! Tôi không để tâm đâu.
Đoàn Chính Thuần ngần ngừ một lát rồi nói:
– Đã thế tôi xin nói thực! Cao hiền đệ đừng giận nhé.
Cao Thăng Thái đáp:
– Xin Vương gia cứ nói thẳng, đừng úp mở gì.
Đoàn Chính Thuần nói:
– Lệnh ái mất Từ mẫu từ thuở nhỏ, tất nhiên hiền đệ cưng chiều quá độ. Tôi
lại nghe lệnh ái hay làm nũng, hơn nữa hiền đệ truyền dạy võ nghệ, bản
lãnh lệnh ái cũng suýt soát hiền đệ. Sau khi về làm dâu tôi chỉ e… chỉ e….
hà hà… thằng Dự sẽ bị lệnh ái lấn át. Y chẳng biết chút võ công nào chỉ học
được môn Lăng Ba Vi Bộ. Trong chốn khuê phòng lệnh ái mà lên chân
xuống tay thì y chỉ còn môn Lăng Ba Vi Bộ mà lẩn tránh và chạy khắp
phòng thì khổ.
Bảo Định Đế cười ha hả:
– Trời ơi! Ông em tôi cứ ấp a ấp úng mãi, té ra chỉ vì thế.
Đoàn Chính Thuần quay lại đưa mắt nhìn Thư Bạch Phụng cười nói:
– Thưa đại ca! Em dâu đại ca cùng tiểu đệ ý kiến thường mâu thuẫn. Lúc
nào gây lộn, giả tỷ mà võ công tiểu đệ đối với nàng không suýt soát thì có
phen lôi thôi to rồi.
Ai nghe Đoàn Chính Thuần nói cũng phải mỉm cười. Vơng phi Thư Bạch
Phụng nói bằng một giọng lạnh nhạt:
– Thằng Dự chỉ cần học được phép Nhất Dương Chỉ của họ Đoàn là thiên hạ
vô địch rồi. Dù y có lấy năm bảy con ác phụ cũng chả sợ gì ai.
Vương phi ra chiều châm biếm phép Nhất Dương Chỉ để xói móc Đoàn
Chính Thuần. Đoàn Chính Thuần biết vợ mỉa mình chỉ cười không đáp.
Cao Thăng Thái nói:
– Tiểu nữ tuy ít được giáo huấn nhưng đâu đến nỗi cả gan làm bậy? Có điều
Thăng Thái này chịu ơn nặng đã nhiều không dám mong được chúa thượng
cùng Vương gia ban cho thêm nữa.
Bảo Định Đế cười nói:
– Lệnh ái mà quản cơ được cái thằng nhỏ tính khí luông tuồng đó cho chúng
ta thì anh em ta rất cám ơn. à mà này Thăng Thái! Lệnh ái tên gì nhỉ?
Nhiều khi cái tên cũng ảnh hưởng đến tính tình.
Cao Thăng Thái tâu:
– Tiểu nữ hạ thần chỉ vẻn vẹn có một chữ tên là My mà thôi. Từ thuở nhỏ
đến giờ y không ra khỏi cửa, tính nết y vẫn ngoan ngoãn. Hẳn có người bất
mãn với hạ thần phao đồn tiếng không hay, thậm chí lọt đến tai Vương gia.
Đoàn Chính Thuần liền chạy đến cầm tay Cao Thăng Thái vừa cười vừa nói:
– Cao hiền đệ đó là ngu huynh lỡ lời, hiền đệ đừng để ý.
Bảo Định Đế cười nói:
– Thế là xong rồi! Thiên Thạch ta uỷ thác cho ngươi việc sửa lễ, nạp thái rồi
hai nhà sẽ tạ ơn ông mai.
Ba Thiên Thạch tươi cười cúi đầu vâng mệnh. Bảo Định Đế lại truyền chỉ
xuống hàn lâm viện thảo chế Gia phong. Hoàng đệ Đoàn Chính Thuần lên
chức Hoàng thái đệ.
Đoàn Chính Thuần cả kinh vội quỳ xuống tâu:
– Hiện nay đại ca đang độ tuổi xuân còn thịnh, muôn dân đội đức cao dầy.
Hoàng thiên tất sẽ trông lại, con cháu đề huề. Xin đại ca hãy gác việc gia
phong cho em lên tước Hoàng thái đệ.
Bảo Định Đế cầm tay nâng dậy nói:
– Hoàng đệ cùng ta hai người chỉ là một. Giang sơn nước Đại Lý này cả hai
anh em ta chấp chưởng. Đừng nói là ta không có con, dù có Hoàng nam đi
nữa ta vẫn truyền ngôi cho Hoàng đệ kia mà. Việc ta quyết lập em làm thừa
kế cả nước đều biết. Ngày nay càng cần định rõ danh phận để thái tử Diên
Khánh đừng mong gì nữa.
Đoàn Chính Thuần tái tam từ khước không được đành phải khấu đầu tạ ơn.
Bọn Cao Thăng Thái lần lượt đến trước mặt Đoàn Chính Thuần ngỏ lời chúc
tụng. Ba Thiên Thạch quay sang nhìn Cao Thăng Thái mỉm cười chìa bàn
tay trái ra, tuy không nói ra miệng nhưng có ý bảo:
– Sau này Đoàn Dự lên kế vị, con gái anh sẽ là Hoàng hậu nương nương.
Phần hậu tạ cho ông mai phải đặc biệt đấy.
Bảo Định Đế phán:
– Ai nấy về nghỉ đi! Câu chuyện thái tử Diên Khánh nhất thiết không tiết lộ
ra ngoài.
Mọi người vâng lệnh cúi đầu cáo biệt. Bảo Định Đế cũng đi ngủ.
Sáng hôm sau, lúc Đế tỉnh dậy thấy âm nhạc du dương, pháo nổ rầm trời,
nội giám vào chầu chực thay áo rồi bẩm:
– Hôm nay Trấn Nam Vương thế tử đưa lễ nạp thái kết thân cùng Thiện xiển
hầu tiểu thư. Ngoài cửa cung trăm họ đến hoan hô chúc tụng rất là náo
nhiệt. Mấy năm nay nước Đại Lý không phải nạn binh đao. Triều đình
thanh chính, dân sự yên vui. Trăm họ rất kính phục đức Vua cùng Trấn
Nam Vương và Thiện xiển hầu. Nay nghe tin hai họ Đoàn, Cao kết thân
khắp thành Đại Lý hoan hô cổ võ.
Bảo Định Đế phán bảo nội giám:
– Ngươi cho loan tin ngày mai ta xuống chỉ mở hội hoa đăng các chức kim
ngô không phải dẹp đường, lại mở tiệc lớn khao thưởng ba quân, cùng ban
rượu thịt cho kỳ lão cô nhi.
Chỉ vừa ban ra tiếng trăm họ hoan hô nổi dậy vang trời.
Hôm ấy trời xế chiều, Bảo Định Đế ăn mặc giả dạng bình dân, một mình đi
ra ngoài thành, đầu đội mũ rộng vành, kéo sụp xuống che mặt, không còn ai
nhận ra nhà Vua nữa. Dọc đường thấy tiếng trăm họ múa hát rất là vui vẻ.
Thời bấy giờ nhân sĩ Trung nguyên coi nước Đại Lý là đất man di mọi rợ,
nghi lễ khác xa với Trung nguyên. Trên đường cái thanh niên nam nữ dắt
nhau đi lả lơi cười nói là sự rất thường. Bảo Định Đế nghĩ thầm: “Ta chỉ
mong cho dân tộc nước Đại Lý đời đời được tự do hoan lạc thế này, dù ta
không con cái cũng chẳng có gì đáng phàn nàn”.
Nhà Vua ra khỏi thành rồi rảo bước đi mau. Đi được hơn 20 dặm thì bắt đầu
lên dốc núi. Đường xá mỗi lúc một vắng tanh, đi vòng hết bốn khu thung
lũng thì đến một ngôi chùa cổ nhỏ, ngoài cửa có đề ba chữ: “NIÊM HOA
Tự”. Bảo Định Đế đứng ngoài cổng chùa, tĩnh tâm mặc niệm một hồi rồi đi
thẳng vào gõ cửa ba tiếng. Một lát, cửa chùa mở, một chú tiểu chạy ra, chắp
tay hỏi:
– Tôn khách tới đây có việc gì?
Bảo Định Đế đáp:
– Phiền chú vào thông báo cùng Huỳnh My đại sư có cố nhân là Đoàn Chính
Minh xin vào ra mắt.
Chú tiểu nói:
– Mời tôn khách vào trong này chờ.
Rồi trở gót tăng tả đi ngay.
Bảo Định Đế cũng vào theo, vừa đi được mấy bước bỗng nghe hai tiếng
khánh keng keng âm u từ hậu viện vọng ra. Chỉ trong giây lát Bảo Định Đế
thấy trong người mát mẻ, thần trí tiêu dao. Bảo Định Đế dẫm chân lên
những tán lá rụng đi vào tới hậu viện.
Chú tiểu nói:
– Xin tôn khách chờ đây một chút! Sư phụ tôi sẽ ra ngay.
Bảo Định Đế khoanh tay đứng chờ trong sân nhìn chiếc lá vàng rụng phất
phới từ từ bay xuống. Suốt đời ít khi Đế đứng ngoài cửa chờ ai như bữa nay.
Nhất là từ khi lên ngôi báu thì chỉ có người khác đến chờ mình chứ chả bao
giờ Ngài đứng đợi ai. Mỗi khi đến chùa Niêm Hoa này lòng trần tục sạch
lâng lâng, tự nhiên quên cả mình là một vị quân Vương cõi Thiên Nam.
Chợt nghe tiếng một ông già cười nói:
– Đoàn hiền đệ đấy ? Hiền đệ có điều chi nan giải?
Bảo Định Đế quay đầu nhìn lại thấy từ trong căn nhà xép mở cửa bước ra
một vị lão tăng mặt mũi nhăn nheo, thân hình cao lớn, cặp lông mày dài sắc
vàng, đằng đuôi sa xuống thấp. Chính là Huỳnh My hoà thượng.
Bảo Định Đế chắp tay nói:
– Tôi đến cửa thiền quấy nhiễu đại sư đây.
Huỳnh My hoà thượng nói:
– Mời hiền đệ vào trong này.
Bảo Định Đế rảo bước theo vào căn nhà xép, đã thấy sáu vị hoà thượng
đứng tuổi mình mặc đồ đen cúi đầu thi lễ. Bảo Định Đế biết đây là đồ đệ
Huỳnh Mi hoà thượng liền giơ tay đáp lễ. Nhà Vua xếp bằng ngồi trên bồ
đoàn mé tây, chờ Huỳnh Mi hoà thượng ngồi xuống bồ đoàn mé đông rồi
mới bắt đầu vào chuyện:
– Tôi có thằng cháu là Đoàn Dự, lúc mới lên bảy tôi thường dẫn lại đây
nghe sư huynh giảng kinh.
Huỳnh Mi cười nói:
– Thằng nhỏ đó tính tình rất ngộ. Thật là một đứa bé ngoan.
Bảo Định Đế lại nói:
– Y được phép mầu đức Phật điểm hoá, dốc dạ từ bi, không chịu học võ để
tránh sát sinh.
Huỳnh Mi đáp:
– Y nghĩ thế là sai. Không hiểu võ nghệ vẫn giết người được. Trái lại có khi
giỏi võ vị tất đã giết người.
Bảo Định Đế nói:
– Vâng, sư huynh dạy chí phải.
Thế rồi Đế đem chuyện Đoàn Dự không chịu học võ bỏ nhà trốn đi thế nào,
cuộc gặp gỡ Mộc Uyển Thanh ra sao rồi bị người “ác nhất thiên hạ” là thái
tử Diên Khánh nhốt ở đâu, nhất nhất thuật lại cùng Huỳnh Mi.
Huỳnh Mi chỉ lắng tai nghe, không nói câu nào. Cả sáu gã đồ đệ thõng tay
đứng hầu sau lưng nét mặt cũng đều trầm tĩnh, không mảy may xúc động.
Chờ Bảo Định Đế nói xong Huỳnh Mi mới chậm rãi nói:
– Thái tử Diên Khánh đã là đường huynh hiền đệ, cố nhiên là hiền đệ không
nên động thủ. Thế mà sai thuộc hạ dùng bạo lực để cứu y xem chừng cũng
khó ổn phải không?
Bảo Định Đế đáp:
– Sư huynh thật là sáng suốt.
Huỳnh Mi gật đầu từ từ đa ngón tay giữa ra nhằm điểm vào ngực Bảo Định
Đế.
Bảo Định Đế mỉm cười chìa ngón tay trỏ ra, xỉa vào ngón tay giữa Huỳnh
Mi. Cả hai cùng rung chuyển liền thu ngón tay về.
Huỳnh Mi nhíu đôi lông mày nói:
– Hiền đệ! Sức Kim cương chỉ của ta không thể thắng nổi phép Nhất Dương
Chỉ của hiền đệ.
Bảo Định Đế nói:
– Sư huynh là bậc đại trí tuệ bất tất phải lấy chỉ lực để thủ thắng?
Huỳnh Mi cúi đầu không nói gì. Bảo Định Đế đứng dậy nói:
– Mười năm trước đây sư huynh có bảo tiểu đệ xá thuế muối cho nhân dân
nước Đại Lý nhưng một là vì nhu dụng trong nước chưa đủ hai là tiểu đệ
muốn chờ Chính Thuần kế vị sẽ thi hành nhân chính về khoản đó, để nhân
dân đội đức Thuần đệ. Nay tiểu đệ nghĩ lại, sáng mai cho ban hành sắc lệnh
xoá thuế muối.
Huỳnh Mi hoà thượng đứng ngay lên, khom lưng rồi lạy phục xuống, cung
kính nói:
– Hiền đệ ban phước cho dân, lão tăng cũng cảm đức vô cùng.
Bảo Định Đế cũng sụp lạy đáp lễ xong ra về ngay không nói gì nữa. Bảo
Định Đế về cung lập tức sai nội giám triệu Ba tư không và Hoa tư đồ đến
truyền ban sắc lệnh xoá bỏ thuế muối. Hai người tạ ơn nói:
– Như vậy thì lê dân được nhờ phước lớn của chúa thượng.
Bảo Định Đế tiếp:
– Tất cả mọi nhu dụng trong cung nhất thiết là phải tiết kiệm. Vậy hai người
thương lượng với nhau đi xem nơi đâu đáng tính giảm được chừng nào hay
chừng nấy.
Hai người vâng lệnh lui ra.
Việc Đoàn Dự bị bắt tuy Bảo Định Đế đã dặn mọi người không nên tiết lộ
ra ngoài song Hoa tư đồ và Phạm tư mã đều là người rất thân tín của Bảo
Định Đế nên Ba Thiên Thạch cũng không giấu giếm đã đem kể cho hai
người biết cả rồi. Phạm tư mã đang ngồi nhà ngóng tin thì hai ông Hoa, Ba
đến báo việc nhà Vua xoá bỏ thuế muối. Nói về quan Tư mã họ Phạm tên
Hoa vốn có tính khôi hài, đã hay trào phúng lại lắm cơ mưu. Vậy mà ông
nói bằng một vẻ trịnh trọng:
– Hoa đại ca cùng Ba hiền đệ! Trấn nam thế tử mắc vào tay gian đãng. Chúa
thượng xuống chỉ xá thuế là Ngài ban phúc cho dân để cầu đảo Hoàng thiên
thương hại, phù hộ cho thế tử đặng yên lành trở về. Bọn mình không biết
chia sẻ mối lo cùng vua cha thì còn mặt mũi nào đứng ở trong triều đình
nữa?
Ba Thiên Thạch nói:
– Chính thế! Phạm nhị ca có diệu kế gì để cứu điện hạ được chăng?
Phạm Hoa nói:
– Đối thủ lại chính là thái tử Diên Khánh thì chúa thượng nhất định không
nỡ ra mặt đánh nhau đâu. Tiểu đệ có kế này nhưng chỉ sợ nhọc sức Hoa đại
ca nên không dám nói ra.
Hoa tư đồ vội hỏi:
– Việc gì mà nhọc sức ta? Nhị đệ nói ngay đi xem nào!
Phạm Hoa nói:
– Chúa thượng đã bảo võ công thái tử Diên Khánh còn cao hơn cả ngài. Bọn
ta đối phó bằng phương pháp cứng rắn là không được rồi. Vậy Hoa đại ca,
cái nghề sinh nhai của đại ca 20 năm trước đây liệu còn thi thố được nữa
chăng?
Bộ mặt vuông chữ “quốc” của Hoa tư đồ đang tím bỗng đỏ gay. Ông cười
nói:
– Nhị đệ lại nói giỡn ta rồi.
Quan tư đồ họ Hoa trước tên gọi A Căn, hiện thời làm đến tam công nước
Đại Lý, xuất thân là người cùng túng. Thời cha phát tích Hoa làm nghề
đào mả trộm đồ, có một bản lĩnh rất kiên trì. Ông chuyên lấy các báu vật
quý giá trong các mồ mả Vương, Công. Nên nhớ các bậc phú quý chết
thường chôn theo cả đồ trân bảo, dị vật. Hoa A Căn nhiều khi đào đường
hầm từ nơi rất xa vào tới phần mộ để trộm. Việc đào đường hầm của Hoa
thật là những công trình vĩ đại, phải một hai tháng là thưuờng. Cách đào
đường hầm của Hoa như vậy nên không ai bắt gặp. Có lần Hoa lấy được
trong mộ một tập “võ công bí quyết” đem về cứ theo đó luyện tập thành một
tay trác tuyệt về ngoại công. Rồi từ đó Hoa phế cái nghề mưu sinh ty tiện,
theo phò Bảo Định Đế lập được nhiều kỳ công thăng lên đến chức tư đồ. Từ
khi làm quan to Hoa thấy cái tên A Căn có vẻ hủ lậu nên mới đổ là Hoa
Hách Căn. Ngoài hai người bạn chí thân là Phạm Hoa và Ba Thiên Thạch
rất ít người biết rõ lai lịch Hoa tư đồ.
Phạm Hoa nói:
– Tiểu đệ đâu dám nói giỡn đại ca. Bọn ta phải đi bằng đường hầm đến hang
Vạn Kiếp, vào thạch thất thần không hay, quỷ không biết mới cứu thế tử ra
đợc.
Hoa Hách Cấn vỗ đùi khen:
– Thật là tuyệt diệu! Tuyệt diệu!
Hoa thật có thiên tài về nghề đào hầm. Tuy là việc 20 năm trước nhưng lắm
lúc nhớ lại vẫn tiếc nghề cũ làm cho chân tay ngứa ngáy. Khốn nỗi đã làm
đến cực phẩm triều đình có lý đâu lại đi đào mả trộm thì còn ra thể thống gì
nữa? Bây giờ nghe Phạm Hoa đề nghị bất giác cả mừng.
Phạm Hoa tươi cười nói tiếp:
– Hoa đại ca chớ vội mừng vì trong còn nhiều vấn đề thực nan giải. Tứ ác
hiện nay ở cả trong hang Vạn Kiếp, ngoài ra còn vợ chồng Chung Vạn Cừu,
Tần Hồng Miên đều là những tay kiệt thiệt, qua được tai mắt bọn này đâu
phải chuyện dễ dàng? Hơn nữa đích thân thái tử Diên Khánh trấn giữ cửa
nhà mật thất, lão ngồi trên mà mình đào bên dưới giữ thế nào cho lão không
hay?
Hoa Hách Cấn trầm ngâm một lúc rồi nói:
– Vậy ta phải đào đường hầm về phía sau nhà mật thất, chừa chỗ thái tử
Diên Khánh ra.
Phạm Hoa lại nói:
– Thế tử còn bị nhốt trong đó giờ phút nào là còn nguy hiểm giờ phút ấy. Ta
đào dềnh dàng như thế liệu có kịp không?
Hoa Hách Cấn nói:
– Vậy ba ta cùng phải hợp lực. Hai hiền đệ cùng đi liền bên chỉ bảo đồng
thời học cái nghề đào trộm mả này mà chơi.
Ba Thiên Thạch cười nói:
– Tuy bọn ta đã ở ngôi tam công nơức Đại Lý nhng về nghĩa vụ thì dù là
cái việc đào mồ quật mả hay nghề ăn trộm đi nữa thì cũng không thể từ nan
được.
Ba người vỗ tay cả cười, Hoa Hách Cấn nói:
– Việc này không thể chậm được nữa, nói làm là làm.
Ba Thiên Thạch lấy bản đồ hang Vạn Kiếp ra. Hoa Hách Cấn vui sướng
khôn tả, ngồi coi bản đồ, hoạch định từ chỗ bắt đầu đào cho đến chỗ miệng
hầm chui lên. Hoa lại nói cả đến đường lối, cách thức phải tránh tai mắt bên
địch thế nào cùng vòng vèo ra sao để tránh những chỗ đá rắn. Thật là một
nghề tuyệt kỹ của Hoa, trên đời có một không hai.
Lại nói đến Đoàn Dự, sau khi nuốt Mãng Cổ chu cáp rồi, khắp mình dương
khí cực thịnh, hơi nóng bốc lên đến độ quá mức tối cao khiến chàng mê
man bất tỉnh. Nhưng cơn mê này dù sao cũng giúp cho chàng qua được một
ngày khỏi bị lửa dục nung nấu cực kỳ khổ sở. Chàng có biết đâu trong
khoảng thời gian một ngày một đêm này bên ngoài đã xảy ra bao nhiêu biến
chuyển quan trọng:
– Nào phụ thân chàng đã chịu sắc phong lên Hoàng thái đệ.
– Nào chàng đã có mệnh cha mẹ dạm hỏi lệnh ái thiện xiển hầu là Cao Mi
tiểu th cho chàng làm vợ.
– Nào khắp thành Đại Lý chiêng trống rầm trời, tu la dậy đất.
– Nào trăm họ nước Đại Lý đang hoan hô ca tụng đức Vua ban hành sắc
lệnh bãi bỏ thuế muối.
Mà chính chàng lại đang ngồi tựa vách đá trong nhà tù, thần trí mê man
chẳng biết trời đất là gì.
Trưa hôm sau chàng mới hơi hồi tỉnh một chút. Số là hai thứ Âm dương hoà
hợp tán cùng Mãng Cổ chu cáp phát tác kịch liệt cùng một lúc làm chàng
mê đi. Trận phát tác đi đến chỗ cùng cực lại dịu xuống nên chàng hồi tỉnh.
Đây chỉ là lúc tạm ngừng để đi đến những trận phát tác sau cùng mãnh liệt
hơn.
Đoàn Dự chưa biết những nguy cơ đang rình rập. Tuy thấy trong mình còn
mệt mỏi, song chàng yên trí chất độc đã bắt đầu lui dần, toan cất tiếng gọi
Mộc Uyển Thanh thì chợt nghe bên ngoài có tiếng một ông già giọng khàn
khàn:
– Cả thảy 19 đường vừa ngang vừa dọc mà làm cho bao người phải say mê.
Nếu cư sĩ cao hứng thì cùng lão tăng vui chơi một cuộc.
Đoàn Dự lấy làm kỳ ghé mắt vào chỗ lỗ hổng vẫn đưa cơm nhìn ra ngoài,
thấy một vị hoà thượng mặt đầy nếp dăn deo, lông mày vàng khè đang cúi
xuống lấy đầu ngón tay vạch vào một tảng đá xanh lớn, phát ra những tiếng
sè sè, bụi đá tung lên, nét vạch sâu xuống thành một đường rất thẳng như
sợi chỉ đặt.
Đoàn Dự cả kinh, tuy chàng không biết võ công nhưng là con một nhà võ
uyên thâm chàng được xem bá phụ cùng phụ thân luyện phép Nhất Dương
Chỉ đã nhiều. Chàng nghĩ bụng dường như mình đã được gặp vị sư già ở đâu
rồi thì phải, chỉ lực ông như vậy thật là ghê ngời, vạch đá thành rãnh một
cách dễ dàng. Cứ xem chỉ lực này đủ biết ngoại công của ông cương ngạnh
đến chừng nào! Cách luyện môn này tựa hồ khác xa với cách luyện Nhất
Dương Chỉ của cha, bác chàng.

Hết Chương 19

Hết Hồi 19

==============================================================

Chương 20   Hồi 20

Đôi Chu Cáp thần diệu thế nào

    Đoàn Dự bỗng nghe bên ngoài thạch thất có tiếng nói:
– Phép “kim cương chỉ” đó thật lắm công phu.
Giọng nói khàn khàn đầy uất hận đó chính ở Thanh bào khách ác quán mãn
doanh thốt ra. Chàng lại thấy lão cầm cành trúc vạch xuống phiến đá một
đường ngang cũng thẳng tắp. Nét vạch ngang tương xứng và giao nhau với
nét vạch dọc của Huỳnh Mi hoà thượng.
Đoàn Dự ở trong thạch thất không trông thấy mặt Thanh bào khách nhưng
chàng nhận thấy rằng cành trúc của lão cứng rắn chẳng kém gì ngón tay
Huỳnh Mi mà dùng nó để vạch phiến đá còn có phần tiện hơn. Vả ngón tay
ngắn mà cành trúc dài, cầm cành trúc vạch xuống phiến đá thành đường
rãnh sâu so với cách vạch bằng tay thì khí lực Thanh bào khách tương đối
phải mạnh hơn Huỳnh Mi hoà thượng.
Đoạn chàng lại nghe tiếng Huỳnh Mi hoà thượng cười nói:
– Đoàn thí chủ đã thụ giáo vậy lão tăng xin vạch nữa.
Dứt lời nhà sư lại lấy ngón tay vạch vào tảng đá một đường dọc. Thanh bào
khách chờ nhà sư vạch xong lão lại vạch bằng cành trúc một đường ngang.
Hai người cứ thế tiếp tục luân lưu mỗi bên vạch một đường. Về sau cả hai
ông: ông vạch bằng ngón tay cũng như ông vạch bằng cành trúc mỗi lúc
một thong thả lại và mỗi lúc một cẩn thận cố gắng hơn vì không ông nào
chịu thua về những đường vạch của mình hoặc sâu nông khác nhau hoặc nét
vạch kém chỉnh tề thẳng thắn. Thì ra những tay cao thủ họ ăn thua nhau
từng ly từng tý, không chỉ ở chỗ có sức mạnh hơn là được. Chừng trong
khoảng thời gian ăn xong bữa cơm, Huỳnh Mi hoà thượng cùng Thanh bào
khách vạch xong ngang dọc mỗi bề 19 đường, thành hình một bàn cờ rất
vuông vắn.
Huỳnh Mi nghĩ thầm: “Bảo Định Đế nhận định thật không sai chút nào, nội
lựa lão Thái tử Diên Khánh này quả đã không vừa. Môn Nhất Dương Chỉ
của lão nhất định không thua Bảo Định Đế”. Huỳnh Mi hoà thượng vào đây
đã có chủ ý nhưng thái tử Diên Khánh thấy Huỳnh Mi đến một cách đột
ngột thì không khỏi ngạc nhiên, lão tự hỏi: “ông sư ghê gớm này ở đâu lẩn
vào đây làm gì? Rõ ràng Đoàn Chính Minh mời y đến tiếp tay cho hắn. Nếu
hắn thừa cơ mình ngồi đây để vào cứu Đoàn Dự thì mình đâu có thể chia
người ra làm hai để đối phó?”.
Huỳnh Mi lại nói tiếp:
– Đoàn thí chủ võ nghệ cao thâm, lão tăng rất là khâm phục. Về môn cờ
chắc thí chủ cũng cao gấp mười bần tăng. Bây giờ ta đánh cờ chơi, lão tăng
xin thíù chủ chấp cho bốn con.
Thanh bào khách giật mình nghĩ thầm: “mình tuy không biết lai lịch nhà sư
này nhưng xem chỉ lực cũng đã biết y là bậc cao nhân. Lão đến đây khiêu
chiến lại mở miệng đòi xin nhân nhượng là nghĩa làm sao?”. Nghĩ vậy liền
đáp:
– Đại sư bất tất quá khiêm? Nếu đại sư muốn cá cuộc hơn thua thì cứ để
bằng quân.
Huỳnh Mi nói:
– Tôi nhất quyết xin thí chủ chấp cho bốn con.
Thanh bào khách đáp bằng một giọng lạnh lùng:
– Đại sự đã tự biết mình kém nước thì bất tất phải đấu nữa.
Huỳnh Mi nói:
– Thế thì thí chủ chấp lão tăng ba con vậy.
Thanh bào khách chậm rãi:
– Tôi chấp đại sư một con thôi.
Huỳnh Mi cười khà khà nói:
– Thế là lão tăng đủ biết rồi. Thí chủ còn kém lắm. Lão tăng dám chấp thí
chủ ba con.
Thanh bào khách bình thản đáp:
– Bất tất phải thế, ta cứ để nguyên bằng quân nhau.
Huỳnh Mi trong dạ nôn nao nghĩ thầm: “lão này đã không kiêu ngạo lại
không nóng nảy, thực là thâm độc gan góc. Mình khích bác thế nào lão
cũng vẫn giữ được vẻ bình tĩnh, không sao làm cho lão xúc động được thế
mới là kẻ kình địch ghê gớm”. Huỳnh Mi hoà thượng vốn vẫn chưa nắm
vững được phần thắng thường thấy người chơi cờ hay có tính hiếu thắng nên
mở miệng xin được chấp ba bốn con để làm kiêu binh dò tính tình thái tử
Diên Khánh. Chẳng ngờ lão không xúc động mảy may vẫn giữ một niềm
nghiêm cẩn, kín đáo.
Huỳnh Mi lại nói:
– Thôi thế cũng được. Nhưng thí chủ là chủ mà tôi là khách, chủ phải
nhường khách đi trước.
Thanh bào khách đáp:
– Không được! Tôi đi trước mới hợp lý. Tiền chủ hậu khách mà.
Huỳnh Mi không chịu nói:
– Nếu vậy thì phải bói. Năm nay lão tăng tuổi chẵn hay tuổi lẻ, nếu thí chủ
đoán trúng thì đi trước, bằng trật thì phải nhường lão tăng.
Thanh bào khách hỏi lại:
– Thế ngộ tôi đoán trúng mà đại sư cứ bảo trật thì ai mà biết được?
Huỳnh Mi đáp:
– Được! Lão tăng đã có cách chứng minh, muốn cãi cũng không được. Lão
tăng xin hỏi: sau khi được 70 tuổi, tổng số ngón cả hai bàn chân lão tăng lẻ
hay chẵn?
Thanh bào khách vừa nghe câu đố rất lấy làm kỳ, nghĩ bụng: “cứ bình
thường mà nói thì hai bàn chân ai chả có 10 ngón và đương nhiên là số
chẵn rồi. Câu lão hỏi rõ sau khi 70 tuổi bao nhiêu ngón? Làm như khi lão
được 70 tuổi bị cụt đi một ngón mới thành số lẻ là có ý đãnh bẫy mình.
Trong binh pháp có câu “hư thành ra thiệt, thiệt lại ra hư”, lão lừa mình thế
nào được?”.
Nghĩ vậy Thanh bào khách đáp:
– Vẫn số chẵn.
Huỳnh Mi đáp:
– Trật rồi, số lẻ mới đúng.
Thanh bào khách nói:
– Đại sư tháo giày ra cho coi!
Huỳnh Mi tháo giày và bít tất chân trái trước. Năm ngón chân hãy còn
nguyên vẹn. Thanh bào khách để ý quan hình sát sắc đối phương, thấy
Huỳnh Mi vẫn tỏ vẻ bình tĩnh tươi cười thì tưởng chân phải nhà sư chỉ có
bốn ngón thật. Huỳnh Mi lại ung dung tụt giày chân phải đang đưa tay ra
tháo bít tất. Thanh bào khách đã toan gạt đi bảo bất tất phải chứng nghiệm
nữa, mời đại sư đi nước trước. Nhưng nghĩ sao lão lại để cho Huỳnh Mi
tháo nốt bít tất thì rõ ràng đầy đủ cả năm có cụt ngón nào đâu? Tuy Thanh
bào khách tàn tật đầy người, mặt trơ như gỗ tựa hồ tâm trí không mảy may
xúc động nhưng kỳ thực bao nhiêu ý nghĩ đang quay lộn trong đầu óc. Lão
chưa đoán ra Huỳnh Mi có dụng ý gì. Bỗng thấy Huỳnh Mi giơ bàn tay phải
lên làm lưỡi dao, đánh xuống đánh “phập” một tiếng, ngón chân út đã đứt
rơi ra. Sáu đồ đệ đứng ở phía sau, toàn là những tay tu luyện cửa Phật lâu
ngày, có thể xứng đáng với câu: “Non Thái lở trước mặt thần sắc vẫn điềm
nhiên, hươu nai chạy rầm rập bên mình không ghé mắt” vậy mà trước cảnh
sư phụ chặt ngón chân, máu chảy lênh láng không khỏi giật mình kinh hãi.
Người ít tuổi nhất là Phá Mạn hoà thượng buột miệng khẽ la lên một tiếng
“ối”. Đồ đệ thứ tư là Phá Sa hoà thượng vội vàng lấy thuốc dấu trong bọc ra
rịt vào vết thương cho sư phụ.
Huỳnh Mi hoà thượng cười nói:
– Năm nay lão tăng 69 tuổi, có phải 70 tuổi thì số ngón chân thành số lẻ rồi
không?
Thanh bào khách đáp:
– Đúng rồi xin mời đại sư đi nước trước.
Thanh bào khách nổi tiếng là người ác nhất thiên hạ thì hẳn đã nhìn thấy và
đã gây ra bao nhiêu thảm cảnh hung ác, rùng rợn chẳng chút sờn lòng vậy
mà đối với việc chặt ngón chân nhỏ mọn làm cho lão phải suy nghĩ. Phải
chăng vì thấy Huỳnh Mi muốn tranh tiên một nước cờ mà coi lẹ việc chặt
đứt một ngón chân như trò đùa. Cái chí quyết thắng một ván cờ này của nhà
sư lão đã nhìn thấy rõ rệt, nếu mà lão thua tất sẽ bị nhà sư đưa ra điều kiện
khắt khe vô cùng.
Huỳnh Mi nói: “Xin vâng” rồi đưa hai đầu ngón tay ra xoáy vào 2 điểm tứ
tứ cả hai bên trên mặt bàn cờ cho lõm xuống. Đó là dấu hiệu hai con cờ
đen.
Thanh bào khách cũng cầm cành trúc khoanh ở hai điểm tứ tứ bên mình hai
vòng tròn nhỏ để tượng trưng cho hai con cờ trắng đặt xuống đó. Bốn góc
bàn cờ ở điểm tứ tứ thoạt đầu đặt bốn con gọi là “thế tứ”. Đây là phép đánh
vi kỳ thuở xa ở Trung Quốc. Hiện nay phế bỏ lối cờ này rồi. Đến con thứ 5
Huỳnh Mi đặt ở điểm lục tam “bình vị”. Bên Thanh bào khách lại đặt ở
điểm ngũ tam. Lúc mới đánh hai bên ra quân rất lẹ, Huỳnh Mi không dám
chú ý thái quá để duy trì tinh thần về sau. Từ con thứ 18 trở đi, cuộc tranh
thủ đã bắt đầu gay cấn. Chỉ lực hai bên hao tốn rất nhiều, một mặt phải
dùng hết tâm trí để suy tính nước cờ, một mặt phải vận khí bồi bổ sức lực,
mỗi lúc cờ đi một chậm thêm. Trong sáu đồ đệ của Huỳnh Mi thì ông thứ
ba là nhà sư Phá Sản cao cờ hơn hết. Phá Sản thấy bên sư phụ đi nhiều nước
hay và có vẻ thắng thế trong bụng đã mừng thầm và thán phục. Đến nước 24
Thanh bào khách xuất kỳ binh một cách đột ngột thế cờ đại biến. Bên
Huỳnh Mi lâm vào tình trạng bế tắc. Góc trên về bên phải (khứ vị) một mối
đe doạ rất lớn đang rình rập, nếu đem một con ra cố thủ thì lại thiệt mất
nước tranh tiên. Huỳnh Mi còn đang suy tính chưa tìm ra lối thoát bỗng
trong thạch thất có tiếng vọng ra:
– Phản công ở khứ vị thì vẫn giữ được nước tranh tiên.
Người mách nước này chính là Đoàn Dự. Đoàn Dự vốn giỏi chơi cờ vây từ
thuở nhỏ. Lúc đó thấy hai người đấu đang hăng say không khỏi đứng ngoài
ngứa miệng. Người ta thường nói “cờ ngoài bài trong”, bản lãnh về cờ chàng
còn cao hơn Huỳnh Mi một bậc. Hơn nữa chàng đứng ngoài cuộc lại càng
đắc nước.
Huỳnh Mi nghe Đoàn Dự mách nước đáp vọng vào:
– Lão tăng đã nghĩ tới nước cờ này rồi còn đang cân nhắc. Giờ được thí chủ
đồng ý thì lão tăng không phân vân gì nữa.
Đoạn Huỳnh Mi làm dấu đặt con cờ xuống điểm thất tam ở khứ vị. Thanh
bào khách lạnh lùng đọc hai câu thơ: “Bàng quan ngậm miệng là quân tử.
Tự ý ra quân đáng trượng phu”.
Đoàn Dự nghe lão đọc tức mình la lên:
– Tự nhiên vô cớ ngươi nhốt ta vào đây thì ngươi có phải là quân tử không?
Huỳnh Mi cũng cười nói:
– Lão tăng đây là đại hoà thượng chứ đâu phải đại trượng phu?
Thanh bào khách khinh khỉnh mạt sát:
– Nói thế mà không biết ngượng.
Vừa nói vừa khoanh tròn ở Khứ vị. Đi mấy nước nữa Huỳnh Mi lại lâm vào
thế bí. Phá Sản hoà thượng nóng ruột nghĩ không ra nước gỡ mà Đoàn Dự
lại lặng thinh. Phá Sản liền chạy đến bên nhà thạch thất khẽ hỏi:
– Đoàn công tử bây giờ đi nước nào cho phải?
Đoàn Dự khẽ đáp:
– Ta có cách gỡ dễ lắm. Thế cờ này gồm bảy nước bí hiểm, nếu đọc ra cho
bên địch nghe tiếng nước thì cờ ảo diệu sẽ bị tiết lộ nên không tiện nói.
Phá Sản liền viết vào tay phải ba chữ: “Xin viết ra”. Rồi nhà sư luồn tay qua
lỗ hổng luồn vào trong. Đoàn Dự nghĩ thầm: “kế này tuyệt diệu” đoạn viết
cả bảy nước cờ vào tay Phá Sản. Phá Sản rút tay ra xem, suy tính kỹ lại thì
quả là những nước cờ rất cao liền chạy trở lại sau lưng Huỳnh Mi giơ tay áo
rộng thùng thình lên để che cho khỏi lộ cơ mưu rồi thò ngón tay phải ra viết
cả bảy nước cờ vào lưng sư phụ. Huỳnh Mi hoà thượng định thần một lúc
hiểu cả, cứ thế ra quân. Thanh bào khách đằng hắng rồi nói:
– Quả lại có kẻ ngấm ngầm mách nước, tôi xem bản lãnh đại sư chưa thể tự
mình nghĩ ra được những nước cờ này.
Huỳnh Mi cười nói:
– Đánh cờ là một trò chơi đấu trí. Hay ở chỗ không để cho đối phương trông
rõ bản lãnh vì thế mà các tay cao thủ chỉ thò những ngón dở ra. Nếu lão
tăng để thí chủ tỏ tường hư thực ngay từ lúc đầu thì cuộc cờ còn chi là ảo
diệu nữa?
Thanh bào khách nói:
– Thôi đừng có ỡm ờ, bịp bợm, hòng lấy tay che mặt trời nữa.
Lão thấy rõ Phá Sản chạy đi chạy lại rồi lấy tay che áo lên lưng Huỳnh Mi
đã sinh nghi. Nhưng vì tâm trí bận chuyên chú vào thế cờ biến ảo nên không
để ý soi mói đến chuyện khác được. Huỳnh Mi theo kế Đoàn Dự đi được
đến nước thứ sáu, tuyệt không phải nhọc lòng suy nghĩ, chuyên chú vận nội
công vào đầu ngón tay xoáy thành sáu lỗ tròn trĩnh, đều đặn tỏ ra khí lực có
thừa. Thanh bào khách thấy sáu nước cờ của Huỳnh Mi nước nào cũng hiểm
hóc, lão phải đem hết tâm lực ra suy nghĩ, luẩn quẩn đối phó trong vòng thế
thủ. Ngọn trúc khoanh vòng tròn trên bàn đá đã hơi lộ ra chỗ sâu chỗ nông
chứ không được đều tăm tắp. Lão phải ngừng lại tính toán dây lâu, rồi đột
nhiên biến thế, hạ một con cờ vào nhập vị. Nước cờ xoay thành thế công
mãnh liệt không dính líu gì vào thế cờ của Đoàn Dự. Huỳnh Mi cả kinh
nghĩ thầm: “bảy nước cờ của Đoàn công tử bố cục rất tinh vi, những nước
kia mình đi có nước tranh tiên được một thành hai mà sao nước thứ bảy
không đi được nữa? Thế này thì uổng mất cả những nước trước ?”.
Nên nhớ rằng nếu thả sức cho hai người đấu với nhau thì Thanh bào khách
tất nhiên ăn đứt Huỳnh Mi hoà thượng. Lão thấy thế cờ bất lợi là lập tức tìm
cách biến đổi, không chịu chui vào cạm bẫy Đoàn Dự.
Phá Sản hoà thợng thấy tình thế đại biến, sư phụ khó lòng giải quyết nổi,
bèn lập tức chạy lại bên nhà thạch thất, khẽ báo tin cho Đoàn Dự hay. Đoàn
Dự nghĩ ngay được cách phá, chìa ngón tay ra để viết vào bàn tay Phá Sản.
Vừa viết được hai chữ bất thình lình toàn thân run bắn, một luồng hoả khí
trong huyệt đan điền bốc lên dữ dội, môi khô lưỡi bỏng, hai mắt lại quáng
loá. Chàng tiện tay nắm chặt lấy tay Phá Sản. Phá Sản vừa bị Đoàn Dự nắm
lấy bàn tay biết ngay lập tức là nguy đến nơi vì thấy chân khí trong mình bị
bàn tay Đoàn Dự hút đi hoài. Nhà sư cả sợ la lên:
– Đoàn công tử! Công tử làm gì vậy?
Nên biết rằng đối với các nhà nội công phái võ, chân khí có mối quan hệ rất
lớn đến tính mạng. Chân khí sung túc bao nhiêu thì nội công cao lên bấy
nhiêu. Chân khí thoát đi hết thì người chẳng chết cũng mất hết nội công mà
thành phế nhân.
Phá Sản xuất gia từ thuở nhỏ, khổ công tu luyện dư bốn mươi năm, chân khí
rất là sung mãn. Thế mà chỉ chạm tay vào Đoàn Dự một lần chân khí thoát
đi chẳng khác gì sông đang bành chướng bị vỡ đê nước chảy đi như tháo,
không còn cách gì thu về được nữa. Nhà sư hỏi luôn mấy tiếng nhưng Đoàn
Dự thần trí mê man, chẳng biết gì hết nên không trả lời. Phá Sản muốn rút
tay ra khỏi nhưng lạ thay hai tay dường như dính liền vào nhau, rút thế nào
cũng không rời ra được mà chân khí trong người thoát đi không ngớt.
Tại sao Mãng Cổ chu cáp lại có sức công hiệu ghê gớm như vậy? Số là có
một giống vật kỳ dị chuyên ăn nọc những loài rắn độc đã lâu đời rồi do sự
giao hợp ngẫu nhiên sinh ra Mãng Cổ chu cáp là vật rất hiếm có trên thế
gian.
Vợ chồng Chung Vạn Cừu cùng Chung Linh chỉ biết mỗi khi đôi chu cáp
kêu lên là bao nhiêu rắn nghe tiếng đều đến hết nhưng có biết đâu nuốt nó
vào bụng lại sinh ra hiện trạng quái gở như vậy? Nếu không có Đoàn Dự
cam tâm chịu chết thì cũng không ai dám cả gan nuốt giống vật kỳ độc,
ngàn năm chưa chắc đã có một lần. Đoàn Dự nuốt vào bụng đôi chu cáp,
trộn lẫn với Âm dương hoà hợp tán rồi chất độc cả hai thứ sinh khắc biến
hoá chẳng những làm cho khí dương cực thịnh, khiến sức người không thể
chống chế nổi lại còn phát sinh một đặc tính hút chân khí của người khác
một khi đụng chạm vào. Lúc đó chân khí của Phá Sản hoà thượng bị hút
mãi vào thân thể Đoàn Dự. Ngay khi tỉnh táo chàng còn chẳng biết vận nội
công để giật tay mình ra khỏi tay Phá Sản, cho chân khí nhà sư hết lối chạy
sang mình huống chi chàng lại mê man bất tỉnh, chẳng còn biết trời đất là gì
nữa. Phá Sản thấy chân khí mình bị hút đi mãi, không biết làm thế nào la
lên:
– Sư phụ cứu tôi với!
Năm vị huynh đệ nghe tiếng chạy đến bên nhưng không trông rõ tình hình
bên trong thạch thất, chỉ nghe tiếng gọi thất thanh “sư huynh”, “sư đệ” rối rít
vội hỏi:
– Có chuyện chi? Có chuyện chi?
Phá Sản đáp:
– Tay… tay tôi…
Ông cố sức giãy giụa để rút tay ra không được. Mười phần chân khí đã thoát
đi đến tám chín, nói không ra hơi nữa. Đồ đệ thứ sáu là Phá Mạn hoà
thượng cầm tay Phá Sản để giúp sức sư huynh rút tay ra, không ngờ vừa mó
tay vào cũng bị dính chặt, toàn thân run bắn lên như bị điện giật, chân khí
cũng bị tiết đi. Nhà sư trẻ sợ quá la lên:
– ối chao! ối chao!
Nguyên hấp lực của chu cáp vô hạn lượng, có thể hút chân khí người thứ ba
chuyển qua người thứ hai.
Nhắc lại chuyện tam công nước Đại Lý là tư đồ Hoa Hách Cấn, tư mã Phạm
Hoa, tư không Ba Thiên Thạch trà trộn vào hang Vạn Kiếp chẳng khó khăn
gì. Cửa hang trước có người canh giữ nhưng từ khi Bảo Định Đế vào đã san
phẳng ngôi mộ ngoài cửa hang nên người ra vào không bị cản trở. Ba ông
đào đường hầm, mới đào trong một đêm đã xa chừng được vài chục trượng.
Hoa Hách Cấn dĩ nhiên là tay thiện nghệ, còn Phạm Hoa và Ba Thiên Thạch
giỏi môn nội công cũng rất được việc. Hoa đào đến đâu thì hai ông lại cào
đất đi đến đấy. Lúc ăn lương khô hay uống nước cũng thay phiên nhau để
công cuộc đào hầm được luôn luôn tiếp tục không bị ngừng trệ. Hôm sau ba
người đào một ngày nữa. Vào khoảng xế chiều tính ra đã gần đến thạch
thất. Biết rõ thái tử Diên Khánh võ nghệ cao siêu, ba ông phải đào một cách
cực thận trọng, nạo đất nhẹ nhàng không để phát ra mảy may tiếng động.
Họ hiểu rằng những tay võ công trác tuyệt thì dù lúc đang ngủ say, chỉ khẽ
một tiếng động khác lạ cũng đủ làm cho tỉnh giấc. Vì thế mà cuộc đào hầm
chậm đi rất nhiều. Họ có biết đâu lúc này thái tử Diên Khánh đang mải miết
đem hết tâm lực vào cuộc đấu cờ với Huỳnh Mi hoà thượng nên lão không
thể phát giác ra những tiếng động ngầm dưới đất.
Lúc này tay Phá Sản hoà thượng vẫn dính chặt vào tay Đoàn Dự, chân khí
trong người vẫn cuồn cuộn thoát đi gần hết, bắt buộc nhà sư phải kêu cứu.
Sau Huỳnh Mi hoà thượng lại thấy cả sáu gã đồ đệ xúm xít lại trước cửa
thạch thất, tình trạng có vẻ nguy ngập khác thường. Huỳnh Mi tưởng là thái
tử Diên Khánh ngấm ngầm đặt cơ quan hiểm độc và các đồ đệ mình bị sa
vào cạm bẫy rồi liền nói:
– Tôn giá thật là lắm chuyện quái ác, làm cho đồ đệ lão tăng lâm nạn cả rồi.
Lão tăng phải lại đó xem sao.
Nói xong đứng dậy toan đi. Thanh bào khách vừa đưa cành trúc tay trái ra
điểm vào vai Huỳnh Mi vừa nói:
– Bàn cờ chưa phân thắng bại. Đại sư có chịu thua cuộc thì mới bỏ đi được.
Huỳnh Mi xoay tay trái lại toan chụp lấy đầu roi. Cành trúc rung rung nhằm
vào huyệt đạo dưới vú bên tả Huỳnh Mi. Bàn tay Huỳnh Mi đang chụp biến
ra thế chém xuống. Đầu cành trúc cũng biến đổi thế đánh. Chỉ trong chớp
mắt hai người đã xoay nhau đến tám đòn. Huỳnh Mi nghĩ bụng: “tay mình
ngắn mà cành trúc của đối phương dài thì mình chỉ thủ chứ không công
được tức là mình chỉ có phần thua chứ không thể thắng. Bỗng thấy cành trúc
lại điểm tới, hoà thượng vụt đa ngón tay ra nhằm đúng đầu roi điểm lại.
Thanh bào khách không chịu thu roi về, cứ phóng tới. Ngón tay và đầu roi
chạm nhau, hai người cùng vận nội công tranh đấu. Bấy giờ Huỳnh Mi mới
biết rõ bên trong cành trúc có đặt giấu một cây roi bằng thép nên mới cứng
rắn như vậy. Hai tay cao thủ mỗi người một đầu roi cùng vận nội lực đẩy
mạnh thế mà cành trúc vẫn không cong đi chút nào.
Thanh bào khách giục:
– Nước cờ này đại sư mãi không đi được, chịu thua quách đi cho rồi.
Huỳnh Mi cười ha hả đáp:
– Chưa chắc.
Rồi đặt ngón tay bên phải xuống bàn cờ đá xanh xoáy một điểm. Thanh bào
khách không cần nghĩ ngợi đi cờ luôn. Lúc này tình thế cực kỳ nghiêm
trọng. Tay trái hai người đều đang vận nội lực để khuynh loát nhau không
bên nào dám nới tay ra một chút, đồng thời trên bàn cờ nước nào cũng khẩn
cấp, chỗ nào cũng gay go. Huỳnh Mi biết rằng nếu mình còn phân tâm nghĩ
đến chỗ đệ tử lâm nạn thì chẳng những không được ích gì mà để kẻ đại địch
nhân chỗ mình sơ hở, dồn sức mạnh đánh ập vào thì chính mình sẽ mất
mạng như chơi. Nhà sư nhớ lại mười năm trước đây, vì muốn nâng đỡ cho
cả dân tộc nước Đại Lý đã xin Bảo Định Đế xoá thuế nhập cảng muối, đến
nay mới được nhà Vua chuẩn cho. Tuy Vua không nói ra miệng nhưng nhà
sư có nghĩa vụ phải thay ngài trong công cuộc cứu Đoàn Dự thoát nạn. Nhà
sư lại nghĩ rằng: “mình sống hay chết cũng chẳng đáng quan tâm nhưng nếu
không cứu thoát được Đoàn Dự thì còn mặt mũi nào trông thấy hiền đệ
Đoàn Chính Minh?”. Nghĩ thế nhà sư đành bỏ mặc đám đồ đệ, gắng vận nội
lực, bao nhiêu tấm trí để cả vào bàn cờ.
Đại phàm các phái võ lúc luyện nội công cần nhất là phải tĩnh trí, song đánh
cờ thì trái lại phải suy nghĩ rất nhiều tính toán từng ly từng tý cho khỏi kém
nước. Hai việc mâu thuẫn nhau là thế. Huỳnh Mi hoà thượng biết rõ thế cục
hôm nay nguy hiểm khác thường.
Kể ra thi đấu về cờ cũng như về nội lực tựa hồ Thanh bào khách đều có vẻ
trội hơn Huỳnh Mi hoà thượng đôi chút. Cũng may mà hoà thợng nhất tâm
quyết sống mái, chỉ biết cung cúc tận tuỵ để đáp lòng tri kỷ của Bảo Định
Đế còn chính thân mình thì dù sống thác cũng chẳng quan tâm nên mới
chống chọi được đến thế.
Hấp lực của đôi chu cáp thần diệu dị thường. Mười phần chân khí của nhà
sư Phá Sản đã bị trút sang thân thể Đoàn Dự đến tám chín. Đoàn Dự một
anh chàng chưa từng luyện võ bao giờ, phút chốc biến thành người có một
nội lực mười mấy năm tu luyện. Trong mình có thêm nội lực sức hút lại
càng mạnh hơn, chẳng khác gì đá nam châm hút sắt. Vì thế mà nhà sư Phá
Mạn bám vào Phá Sản cũng bị hút chặt luôn và chân khí trong mình cũng bị
lôi cuốn theo, qua người Phá Sản nhập vào thân thể Đoàn Dự. Lát sau hai
nhà sư Phá Tham, Phá ái cũng bị hút mất chân khí theo kiểu ấy.
Phá Tham, Phá ái là hai đại đồ đệ của Huỳnh Mi hoà thượng, nội công còn
thâm hậu hơn mấy vị sư đệ kia, vừa cảm thấy chân khí bị thoát đi, lập tức
vận nội công chống lại. Nhưng cũng chỉ giữ được một lúc rồi sau tâm thần
phân tán đi một chút, tức khắc chân khí bắt đầu bị hút đi từ từ ít một rồi dần
dần mỗi lúc tiết đi một nhiều hơn.
Đồ đệ thứ tư là Phá Si, thứ năm là Phá Dục đứng ngoài thấy thế hoang
mang quá đỗi, chạy đi kêu sư phụ đến cứu thì lại gặp lúc tối nguy nan.
Huỳnh Mi cũng phải đem hết tâm lực cùng đối phương quyết sống mái. Hai
người chạy tới, chạy lui mặt sợ tái xanh. Rút cục nghĩ tình đồng môn,
không còn biết làm thế nào Phá Si, Phá Dục đành nghiến răng gắng sức lại
lôi Phá Tham, Phá ái ra. Nhưng lúc này ngoài sức chu cáp thần công còn
thêm nội lực bốn nhà sư nhập vào nữa thì hai nhà sư Phá Si, Phá Dục lôi ra
thế nào được mà trái lại, chẳng những không lôi ra được, chính hai người
cũng bị hút chặt luôn.
Sáu nhà sư lâm vào tình trạng thụ động, đành cho là kiếp vận xui nên mắc
vào tai nạn hiếm có này, khiến cho bao nhiêu năm khổ công tu luyện tan ra
mây khói. Mọi người chẳng còn biết nói sao, chỉ trông nhau thở dài. Phá Si
và Phá Dục không cầm lòng được, bất giác hai mắt rnưng rnưng đẫm lệ.
Lại nói đến bọn Hoa Hách Cấn hôm đó đào hầm cho đến giờ Dậu độ chừng
đã tới gần nhà thạch thất và đoán rằng chỉ còn cách chỗ thái tử Diên Khánh
ngồi gác chừng một trượng nên hành động phải cực kỳ thận trọng, không
dám để phát ra một tiếng động nhỏ. Hoa Hách Cấn bỏ xẻng cuốc xuống,
dùng mười ngón tay móc đất. Hoa đã rèn luyện phương pháp này gọi là “Hổ
trảo công” rất lợi hại. Những ngón tay vận nội lực vào cứng tựa móng sắt, dù
đất cứng đến đâu cũng móc ra được từng khối lớn chuyền tay cho Ba Thiên
Thạch và Phạm Hoa chuyển ra xa. Đã đến lúc không đào tiến về phía trước
nữa mà đào ngược lên để chui ra. Phạm, Ba hai ông biết công cuộc mạo
hiểm sắp hoàn tất chỉ còn việc có cứu được Đoàn Dự hay không lúc nữa mới
rõ nên cảm thấy nóng ruột, trống ngực đánh thình thình. Công cuộc đào
ngược lên dễ dàng hơn trước nhiều, chỉ động vào là đất rụng xuống. Hoa
Hách Cấn đứng thẳng đợc người lên đào lại càng mau. Thỉnh thoảng Hoa
dừng lại chú ý lắng tai nghe xem trên mặt đất đã thấy động tĩnh gì cha. Từ
lúc bắt đầu đào ngược lên, mới trong khoảng thời gian thắp hết tuần hương
thì chỉ còn cách mặt đất chừng một thước. Hoa Hách Cấn càng đào thong
thả hơn, móc đất nhẹ nhàng. Sau cùng Hoa đụng vào một tấm ván gỗ mặt
phẳng, trong bụng sinh nghi tự hỏi: “tại sao trong thạch thất không lát đá
phiến mà lại lát ván gỗ? Nhưng thế này càng tiện việc cho mình”. Hoa Hách
Cấn vận cả nội lực vào đầu ngón tay, từ từ khoét vuông vắn mỗi bề hai xích
thành cái cửa hầm vừa một người chui lọt. Khoét xong cúi xuống ra hiệu
cho hai ông bạn Phạm, Ba đỡ lấy rồi buông tay để tấm ván hạ xuống. Hoa
Hách Cấn giơ xẻng lên khoa trên miệng hầm để đề phòng có người đột kích,
chợt nghe tiếng lanh lảnh một cô gái la lên: “trời ơi” đầy vẻ kinh hoàng.
Hoa Hách Cấn khẽ gọi:
– Mộc cô nương! chớ to tiếng! Người nhà đến cứu các ngươi đây mà.
Chưa dứt lời Hoa đã nhảy vọt lên. Vừa thoáng nhìn Hoa đã giật mình kinh
hãi vô cùng: nhà tù gì mà bàn ghế cửa sổ chỗ nào cũng sạch như lau? Trong
tủ trên giá chỗ nào cũng bày la liệt những chai lọ đựng thuốc… một cô gái
chừng 15, 16 tuổi xiết bao kinh hãi phải lui ẩn vào góc nhà. Hoa Hách Cấn
biết là mình tính sai, đào không đúng chỗ, vào lầm nhà người khác mất rồi.
Sở dĩ có sự sai lầm này là vì chính mắt Hoa Hách Cấn không trông thấy thật
sự thạch thất ở chỗ nào, chỉ được Ba Thiên Thạch nghe lời Bảo Định Đế kể
lại cho nghe. Câu chuyện từ miệng người nọ sang tai người kia nên nỗi sai
một ly đi một dặm. Đây là nhà ở Chung Vạn Cừu còn cô gái đó tức là
Chung Linh.
Nguyên Chung Linh đang ở phòng thuốc của cha để lần tìm thuốc giải độc,
lấy trộm đem cho Đoàn Dự. Nàng có biết đâu rằng những thuốc giải độc
tầm thừng đối với chất độc Âm dương hoà hợp tán hoàn toàn vô hiệu. Lúc
này vợ chồng Chung Vạn Cừu đang ở ngoài sảnh đường tiếp đãi tân khách
yên ấm nên Chung Linh một mình lén vào phòng khách cố tìm. Bất thình
lình ở dưới đất chui lên một người to lớn thì làm gì mà nàng chẳng sợ tái
mặt? Hoa Hách Cấn tâm linh ứng biến cực kỳ mau lẹ, nghĩ bụng: “việc
mình đào lầm đường, cố nhiên là phải đào lại nhưng đã trót lộ hình tích.
Nếu giết nàng đi để bịt miệng thì rồi người trong hang Vạn Kiếp này thấy
thi thể nàng nằm đó, tức khắc sẽ điều tra gắt gao. Mình chưa vào đến nhà
thạch thất đã bị khám phá ra đường hầm rồi thì hỏng bét. Chỉ còn cách là
đem nàng xuống hầm, mọi người không thấy nàng nhất định chạy ra ngoài
bổ đi tìm nàng. Vừa nghĩ tới đó chợt ngoài phòng có tiếng chân người đi tới
Hoa Hách Cấn bèn khoa tay trước mặt Chung Linh ra hiệu cấm nàng không
được lên tiếng. Rồi giả vờ trở gót, tựa như kiểu muốn chui xuống hầm
nhưng vụt một cái Hoa nhảy phắt lại phía sau, giơ tay trái bịt miệng Chung
Linh còn tay phải quờ ra sau lưng quắp nàng đem vào miệng hầm thả
xuống. Phạm Hoa đưa tay ra đón lấy. Hoa Hách Cấn lấy ngay một nắm đất
nhét vào miệng nàng, đậy tấm ván lại cho bằng bặn như trước rồi ghé tai
vào kẽ hở nghe ngóng. Những cử động vừa rồi Hoa làm lẹ như chớp, Chung
Linh kinh hãi vô cùng tự nghĩ không biết bọn cướp này bắt mình có dụng ý
gì, miệng lại bị nhét đất chặt rất là khó chịu. Chợt thấy hai người đi vào
phòng, một người bước chân nặng trịch còn một người nhón gót nhẹ nhàng.
Rồi thấy tiếng đàn ông hỏi:
– Hẳn nàng đối với hắn còn có mối dư tình chưa cắt đứt. Không thì sao tôi
muốn phá hoại thanh danh họ Đoàn, can gì đến nàng mà nàng ngăn cản?
Đoạn thấy tiếng đàn bà đáp:
– Chàng nói… dư… dư… chi đó? Tôi cho chàng hay tôi không còn tình
nghĩa với người đó đâu.
Gã đàn ông lại nói:
– Nếu vậy thì còn gì hay bằng?
Giọng nói đầy vẻ hớn hở vui mừng. Người đàn bà lại tiếp:
– Chẳng qua Mộc Uyển Thanh là con gái sư tỷ tôi, tuy tính y ngang chướng,
có vô lễ với vợ chồng mình đi nữa thì cũng là người một nhà. Tôi thấy
chàng làm cái việc này không ổn chút nào.
Hoa Hách Cấn nghe đến đây biết ngay hai người này là vợ chồng Chung
động chúa. Vì thấy câu chuyện có liên quan đến Đoàn Dự nên Hoa vẫn chú
ý lắng tai nghe nữa.
Lại thấy tiếng Chung Vạn Cừu nói:
– Sư tỷ nàng ngấm ngầm chạy đi trả Đoàn Dự may mà Diệp Nhị Nương phát
giác kịp thời. Thế thì mụ đã thành cừu địch với mình rồi, hà tất nàng còn
phải quan tâm đến con gái mụ nữa? A Bảo nàng ơi, bao nhiêu khách khứa
ngoài đại sảnh toàn là những nhân vật có tên tuổi trong võ lâm. Nàng đối
với họ đã có vẻ lãnh đạm thì chớ lại còn bỏ chạy vào đây như thế là mất mặt cho tôi quá.
Chung phu nhân vùng vằng đáp:
– Chàng mời bọn này đến làm chi? Nào Nộ Giang Vương Tần Nguyên Tôn,
nào Nhất phi xung thiên Kim Đại Bằng, nào đại đệ tử phái Điểm Thương
Liễu Chi Hư, lại còn Tả Tử Mục phe Đông, Song Thanh đạo cô phe Tây
phái Vô Lượng kiếm và gã võ sư Mã Ngũ Đức ở phổ nhị gì gì nữa. Bọn này
liệu có dám chống chọi với Hoàng Đế đương kim nớc Đại Lý không?
Chung Vạn Cừu nói:
– Tôi có mời họ về tiếp tay làm phản đâu mà ngại? Chẳng qua họ ở gần
quanh đây nên mời đến để chứng kiến hai đứa con Đoàn Chính Thuần cùng
ở trong nhà thạch thất làm chuyện loạn luân ô uế, chứ có gì đâu? Đám
khách hôm nay còn lại Tuệ Thuyền hoà thượng ở chùa Thiếu Lâm rồi Giả
Diệp thiền sư chùa Đại Giác, hắc bạch kiếm Sử An, toàn là những bậc hào
kiệt đất Trung Nguyên. Sáng sớm mai sẽ mở cửa thạch thất để mọi người
coi cho rộng tầm con mắt. Các đức tính nhà họ Đoàn nổi tiếng về phép Nhất
Dương Chỉ sẽ thêm lừng danh trên chốn giang hồ.
Nói xong hắn đắc ý cười ha hả. Chung phu nhân đằng hắng một tiếng rồi
xẵng giọng:
– Thật là tuồng đê hèn vô liêm sỉ.
Chung Vạn Cừu hỏi:
– Nàng bảo ai đê hèn, vô liêm sỉ?
Chung phu nhân đáp:
– Kẻ nào làm việc đê hèn vô liêm sỉ thì kẻ ấy là quân đê hèn vô liêm sỉ chứ
còn ai? Tôi mắng không đáng sao?
Chung Vạn Cừu nói:
– Phải lắm! Phải lắm! Đoàn Chính Thuần cậy mình là gã phong lưu công tử,
gây ra bao oan nghiệt, thế nào trời quả báo đến nỗi hai đứa con mình sinh ra
giở thói loạn luân, đúng là quân đê hèn đến cùng cực.
Chung phu nhân cười lạt không đáp. Chung Vạn Cừu lại hỏi:
– Sao nàng lại cười? quân đê hèn vô liêm sỉ nàng vừa mắng đó không phải là
Đoàn Chính Thuần ?
Chung phu nhân nói:
– Mình không địch lại người họ Đoàn, suốt đời chui rúc trong hang ẩn nấp,
giả chết, không dám thò mặt đi đâu thì đành nằm chịu thế mới phải. Con
người biết liêm sỉ cũng là một điều dũng. Chàng bắt nhốt con cái người ta,
còn bày trò đê tiện. Tôi chỉ sợ các vị anh hùng hảo hán trong thiên hạ chẳng
những không ai chê cười họ Đoàn, còn quay lại thoá mạ chàng mà thôi.
Chung Vạn Cừu tức quá nhảy lên chồm chồm:
– Nàng… nàng thoá mạ tôi là kẻ đê hèn, vô liêm sỉ ?
Chung phu nhân ứa nước mắt nghẹn ngào nói:
– Không ngờ tôi lấy phải người chồng là… là một nhân vật như chàng.
Chung Vạn Cừu vốn thiết tha yêu vợ. Sở dĩ hắn ghét cay ghét đắng Đoàn
Chính Thuần là do sự ghen tuông mà ra. Hắn vừa thấy vợ ứa nước mắt, bất
giác chân tay luống cuống, nói chiều lòng:
– Tốt! Tốt lắm! Nàng muốn mắng tôi thì cứ việc mà mắng cho sướng miệng.
Tôi được mình mắng cũng vui lòng kia mà.
Hắn chạy lui chạy tới trong phòng tìm lời tạ lỗi với vợ mà không biết nói
sao. Chợt nhìn thấy thùng chai, lọ thuốc để lung tung liền nói:
– Trời ơi! Con Linh phá quá trời. Mới bé bằng ấy mà đã hỏi tới Âm dương
hoà hợp tán làm gì? Không biết ai xúi nó lại vào lục tìm loạn cả lên.
Vừa nói vừa xếp những chai thuốc lại, chân bước thế nào lại trúng vào tấm
gỗ miệng hầm. Hoa Hách Cấn phải vận nội lực chống cho nắp hầm khỏi rớt
xuống, sợ Chung Vạn Cừu khám phá ra hầm bí mật của mình.
Chung phu nhân cất tiếng gọi:
– Linh con ơi! Nó lại đi đâu rồi? Tôi đã bảo nó mấy bữa nay kẻ gian trà trộn
vào rất nhiều, dặn nó đừng có đi ra đi vô bữa bãi. Tôi thấy thằng cha Vân
Trung Hạc có đôi mắt diều hâu thường lấm la lấm lét nhìn con Linh nhà này
nên tôi bảo nó phải đề phòng.
Chung Vạn Cừu cười hềnh hệch nói:
– Tôi để ý đề phòng mình nàng mà thôi. Con người nguyệt thẹn hoa nhường
thế kia, đứa nào trông thấy mà chả thèm khát?
Chung phu nhân chặc lưỡi rồi cất tiếng gọi to:
– Linh! Linh ơi!
Một con nữ tỳ chạy ra tha:
– Con vừa thấy tiểu thư qua đây.
Chung phu nhân gật đầu nói:
– Mi đi kêu tiểu thư về đây ta bảo.
Chung Linh ở dưới hầm, từ nãy đến giờ nghe rõ mồn một. Khốn nỗi miệng
bị nhét đầy đất, không sao la lên được, trong lòng áy náy vô cùng.
Chung Vạn Cừu bảo vợ:
– Thôi nàng hãy nằm đây nghỉ một lát để tôi ra tiếp khách.
Chung phu nhân lạnh lùng đáp:
– Chàng vốn có cái ngoại hiệu: Kiến nhân tựu sát không ngờ tuổi già một
chút hoá ra Kiến nhân tựu pha.
Mấy bữa nay Chung Vạn Cừu mắc bận bù đầu. Bất luận hắn thốt ra câu gì
cũng là một dịp để cho vợ mỉa mai. Hắn biết vợ trước có tư tình với Đoàn
Chính Thuần. Bữa nay hoa xa ong cũ được dịp trùng phùng tránh sao khỏi
mối tình trước kia chớm nở khiến lòng người đàn bà sinh ra bực bội. Tuy
hắn căm giận vô cùng mà không dám dây miếng với nàng, chỉ cười hề hề đi
ra nhà khách.
Nói về Bảo Định Đế xuống chỉ xoá thuế muối, muôn dân nớc Đại Lý ca
tụng ơn đức vô cùng. Trong địa hạt Vân Nam sản xuất muối rất ít, không đủ
luật cung cầu, phải mua thêm muối ở đất Thục. Dân đã nghèo thuế muối lại
nặng nên hàng năm có đến mấy tháng phải ăn nhạt. Nhà Vua biết rằng một
khi miễn thuế muối, thế nào Huỳnh Mi hoà thượng cũng tìm cách đi cứu
Đoàn Dự để trả ơn. Ngài vẫn khâm phục Huỳnh Mi võ công trác tuyệt, lại
lắm cơ mưu, ngoài ra hoà thợng còn có sáu tên đồ đệ giỏi nội công. Cả bảy
thầy trò cùng ra tay quyết phải thành công. Nào ngờ đã qua một ngày một
đêm mà chẳng thấy hồi âm nhà Vua nóng ruột muốn phái Ba Thiên Thạch
đi dò la động tĩnh, nhưng sai người đi triệu thì cả ba ông Ba Thiên Thạch,
Hoa Hách Cấn cùng Phạm Hoa đều chẳng thấy đâu. Bảo Định Đế nghĩ
thầm: “phải chăng thái tử Diên Khánh vô cùng lợi hại khiến cho bảy thầy
trò Huỳnh Mi hoà thượng cùng cả ba quan tam công nước Đại Lý đều gặp
khốn đốn trong hang Vạn Kiếp. Nhà Vua lập tức tuyên triệu Thái đệ Đoàn
Chính Thuần, thiện xiển hầu Cao Thăng Thái cùng bọn Ngư, Tiều, Canh,
Độc và luôn cả vương phi Th Bạch Phụng lại đến hang Vạn Kiếp lần nữa.
Thư Bạch Phụng quá nóng lòng vì con xin nhà Vua đem cả ngự lâm quân đi
bình trị hang Vạn Kiếp.
Bảo Định Đế nói:
– Chưa phải lúc cạn tàu ráo máng, hãy theo lề lối giang hồ mà hành động.
Ta không muốn tự tay mình phá hoại thanh danh họ Đoàn đã được di truyền
từ mấy trăm năm nay.
Đoàn người vừa đến cửa hang Vạn Kiếp đã thấy Vân Trung Hạc cười khanh
khách ra đón tiếp. Gã xá dài nói:
– Chung động chúa biết đêm nay thế nào đại giá cũng giáng lâm nên cho tại
hạ ra đây chờ đợi. Giả tỷ mà các hạ điều động quân thiết giáp tới thì chúng
tôi đành chịu đánh bài “tẩu mã”. Nhưng các hạ vẫn giữ lề luật giang hồ, lấy
tư cách nhà võ họp bạn vậy xin mời liệt vị vào đại sảnh dùng trà.
Bảo Định Đế xem chừng đối phương vẫn bình tĩnh như thường, tuyệt không
lộ vẻ hoang mang, khác hẳn bữa trước chỗ nào cũng xảy cuộc ác chiến thì
trái lại nhà Vua thấy vậy rất quan tâm.
Bảo Định Đế cũng chắp tay đáp lễ nói:
– Được vậy là hay lắm!
Vân Trung Hạc đi trước dẫn đường. Vào tới đại sảnh, Bảo Định Đế thấy các
hào kiệt trong đám giang hồ ngồi đầy tại đó cũng hơi chột dạ. Vân Trung
Hạc lớn tiếng giới thiệu cùng cử toạ:
– Đây là chưởng môn Đoàn gia ở Thiên Nam Đoàn lão sư.
Sở dĩ Vân Trung Hạc không xưng hô Bảo Định Đế là Hoàng Đế bệ hạ nước
Đại Lý mà lại giới thiệu bằng danh hiệu võ lâm là theo quy của giang hồ.
Không cần nói đến ngôi chí tôn trong một nước, chỉ riêng về địa hạt võ lâm,
Đoàn Chính Minh cũng đã có một địa vị lừng lẫy, ai ai cũng ngưỡng mộ
ông là một bậc tôn sư cao cả.
Các vị anh hùng vừa nghe giới thiệu, ai nấy đứng lên răm rắp. Chỉ có mình
Nam Hải Ngạc Thần là chễm chệ ngồi yên nói đổng:
– Ta cứ tưởng là ai, té ra là ông Vua. Ông mạnh giỏi chứ?
Chung Vạn Cừu rảo bước tiến đến trước mặt Bảo Định Đế nói:
– Chung Vạn Cừu này chưa kịp ra xa nghênh tiếp, xin ngài thứ lỗi cho!
Bảo Định Đế đáp:
– Hà tất phải khách sáo?
Mọi người theo thứ bậc an toạ. Cuộc họp mặt này theo lề luật giang hồ nên
vợ chồng Đoàn Chính Thuần cùng Cao Thăng Thái không phải giữ lễ vua
tôi, ngồi gần bên Bảo Định Đế. Bọn Lăng Thiên Lý đứng đằng sau nhà
Vua.
Người nhà bưng trà lên mời. Bảo Định Đế đưa mắt nhìn một lượt, không
thấy thầy trò Huỳnh Mi hoà thượng và bọn Ba Thiên Thạch có mặt tại đây,
đang tìm câu để dò hỏi bỗng Chung Vạn Cừu lên tiếng:
– Được Đoàn chưởng môn hai phen hạ cố, tại hạ rất lấy làm vinh dự. Nay lại
được các vị bằng hữu tới đây đông đủ, tại hạ xin giới thiệu.
Rồi kể từng tên một, bắt đầu từ Tả Tử Mục, Mã Ngũ Đức, Tuệ Thuyền hoà
thượng, lần lượt đến tất cả mọi người.
Chừng quá nửa số người có mặt tại đó, Bảo Định Đế tuy chưa từng quen
biết nhưng cũng đã nghe danh.

Hết Chương 20

Hết Hồi 20

==============================================================

Chương 21   Hồi 21

Rõ ràng người đó chẳng là Chung Linh?

    Các vị giang hồ hào kiệt nhất nhất cùng Bảo Định Đế làm lễ tương kiến: Mã
Ngũ Đức và Tả Tử Mục tỏ ra rất mực khiêm cung, đặc biệt là Liễu Cung Hư
Tần Nguyên Tôn vẫn giữ thái độ kiêu kỳ. Bọn Kim Đại Bằng, Sử An thi lễ
theo tư cách hàng hậu bối, không dám bác bậc mà cũng không quá khúm
núm.
Sau cuộc lễ tương kiến Chung Vạn Cừu lên tiếng:
– Đoàn huynh chưa dễ mấy khi hạ cố, xin lưu lại đây mấy hôm cũng là một
dịp may cho anh em được học hỏi thêm.
Bảo Định Đế đáp:
– Xá điệt là Đoàn Dự, vì xúc phạm tới Chung động chúa, đã bị lưu lại quý
xứ nên hôm nay tại hạ thân hành đến đây một là để tỏ tình thân, hai là để
xin lỗi, dám mong Chung động chúa nể mặt tại hạ mà thứ tội cho đứa con
nít ngây ngô, dại dột, tại hạ xiết bao cảm kích.
Quần hùng nghe nhà Vua nói, ai cũng kính phục khen thầm:
– Lâu nay thường nghe Đoàn hoàng đế nước Đại Lý, bao giờ cũng theo
đúng quy luật võ lâm tiếp đãi đồng đạo, quả nhiên danh bất h truyền. Chỗ
này thuộc phạm vi giang sơn của mình, nhà Vua chỉ cần phái mấy trăm binh
mã đến bắt người về là được thế mà người lại thân hành tới nơi, dùng lời lẽ
ôn tồn, năn nỉ cầu xin.
Chung Vạn Cừu cời khanh khách chưa kịp trả lời thì Hắc Bạch kiếm Sử An
đã cướp lời:
– Thế ra công tử Đoàn Dự đắc tội với Chung động chúa.
Tại hạ đối với Đoàn công tử có mang ơn cứu mạng, cũng xin động chúa gia
ơn cho!
Nam Hải Ngạc Thần bỗng lớn tiếng quát:
– Đây là việc của đồ đệ ta, ai khiến mi nói chõ vào?
Cao Thăng Thái cười lạt nói:
– Đoàn công tử là sư phụ ngươi chứ? ngươi đã cúi đầu làm lễ bái sư rồi kia
mà? Chẳng lẽ bây giờ ngươi lại ăn lời?
Nam Hải Ngạc Thần thẹn đỏ mặt tía tai mắng lại:
– Mẹ nó! Lão gia không thèm nuốt lời đâu. Hôm nay lão gia muốn giết
quách gã sư phụ hữu danh vô thực đó đi. Lão đây phải thờ một gã tiểu tử
làm thầy, thẹn chết đi được.
Mọi người không hiểu đầu đuôi, đều phải sửng sốt. Thư Bạch Phụng nói:
– Chung động chúa! Tha hay không các hạ nói cho dứt khoát.
Chung Vạn Cừu cười đáp:
– Tha, tha chứ! tôi giữ lệnh lang ở đây làm chi?
Vân Trung Hạc tự nhiên nói xen vào:
– Đoàn công tử là một trang thiếu niên anh tuấn, Chung phu nhân lại là bậc
tuyệt sắc giai nhân nếu lưu Đoàn công tử ở đây phỏng có khác chi rước voi
dày mả tổ, nuôi ong tay áo. Chung động chúa dĩ nhiên phải tha công tử rồi,
chả dám giữ đâu.
Mọi người nghe gã đều phải ngạc nhiên. Ai cũng nghĩ bụng: “thằng cha
cùng hung cực ác này ăn nói càn dở, chẳng kiêng nể gì, thậm chí đến Chung
Vạn Cừu mà gã cũng chẳng coi vào đâu. Không trách gã tự xưng là cùng
hung cực ác thật đúng lắm”.
Chung Vạn Cừu căm giận quay lại bảo Vân Trung Hạc:
– Vân huynh! Sau khi đã giải quyết xong vụ này tại hạ sẽ xin lãnh giáo mấy
hiệp.
Vân Trung Hạc đáp:
– Hay lắm! Hay lắm! Ta vẫn có ý định giết anh chồng để chiếm cô vợ, mưu
đoạt gia tài, chiếm luôn nhà ở.
Mọi người cả kinh thất sắc. Nhất phi xung thiên Kim Đại Bằng lên tiếng:
– Anh hùng hảo hán trong chốn giang hồ chưa chết hết đâu. Các ngươi bản
lãnh cao cường đến mấy chăng nữa rút cục cũng không thoát khỏi đạo trời
chí công được đâu.
Diệp Nhị Nương bật lên tiếng cười the thé phản đối:
– Kim tướng công! Nhị Nương này chưa hề xúc phạm gì tới ngươi, sao
ngươi vơ đũa cả nắm?
Nghe giọng nói thôi miên trấn áp cả tâm hồn Kim Đại Bằng không khỏi
rùng mình. Tả Tử Mục sực nhớ chuyện mụ cướp con mình bữa trước, trong
bụng hãy còn nơm nớp lo âu, đa mắt nhìn trộm mụ một cái. Diệp Nhị
Nương cười sằng sặc hỏi:
– Tả chưởng môn! Mấy bữa nay chắc lệnh lang lớn lên và mập mạp trắng
trẻo lắm đấy nhỉ?
Tả Tử Mục bất đắc dĩ hàm hồ khẽ đáp:
– Bữa trước cháu bị cảm mạo phong hàn, tới nay vẫn chưa khỏi.
Diệp Nhị Nương nói tiếp:
– A! Đó đều là lỗi tại tôi. Lúc quay về tôi sẽ qua thăm thằng cháu Sơn Sơn
rất ngoan ngoãn.
Tả Tử Mục thất kinh, vội gạt đi:
– Không dám phiền đại giá giáng lâm lần nữa.
Bảo Định Đế thấy rõ tình hình, nghĩ thầm: “thế này thì ra bon tứ ác hoành
hành quá tệ, kết oán đã nhiều. Đợi khi cứu Đoàn Dự ra rồi ta phải tìm cơ
hội tiêu diệt bọn chúng để trừ mối đại hại. Đứng đầu bọn tứ ác là thái tử
Diên Khánh, tay cùng người họ Đoàn ta không tiện hạ thủ nhưng nếu xét ra
quả tội ác đầy rẫy thì cũng không thể dung thứ được.
Thư Bạch Phụng thấy mỗi người một điều, toàn chuyện đâu đâu, liền trở lại
vấn đề. Bà đứng phắt lên nói:
– Chung động chúa đã nhận lời tha thằng nhỏ. Vậy xin cho gọi nó ra để mẹ
con ta được gặp nhau.
Chung Vạn Cừu cũng đứng lên đáp:
– Được rồi.
Rồi đột nhiên quay lại hầm hầm, trừng mắt nhìn Đoàn Chính Thuần và than
rằng:
– Đoàn Chính Thuần! Mi đã có vợ đẹp con khôn như thế mà lòng tham vẫn
chưa đủ ? Hôm nay mi mang tiếng ô nhục với thiên hạ, đó là mình làm
mình chịu, đừng oán trách gì Chung Vạn Cừu này nữa.
Đoàn Chính Thuần ngay từ lúc đầu nghe Chung Vạn Cừu hứa trả con trai đã
nghĩ ngay: câu chuyện đâu có thể dễ dàng như thế được? Tất nhiên đối
phương còn có âm mưu, quỷ kế gì đây. Bây giờ nghe hắn nói vậy càng thêm
chột dạ, vội đứng phắt dậy, bước tới trước mặt Chung Vạn Cừu bảo:
– Chung động chúa! Nếu ngươi còn cố ý hại người thì Đoàn mỗ sẽ có
phương pháp đối phó khiến ngươi cũng phải hối hận suốt đời.
Chung Vạn Cừu thấy Vương gia tướng mạo đường đường, phong độ thanh
cao đài các, mình thực chẳng bén gót chân. Phần thì thẹn vì mình xấu xa,
phần thì ghen tức, lửa giận bốc lên đùng đùng, lớn tiếng quát:
– Đã đến nước này Chung mỗ có bị nhà tan người chết, thây phân muôn
đoạn cũng quyết theo đuổi ăn thua với mi cho đến cùng. Mi muốn lấy lại
con, được lắm, hãy đi theo vào đây.
Nói xong hùng hổ rảo bước ra ngoài sảnh đường. Đoàn người đi theo Chung
Vạn Cừu đến trước bức tường cây. Vân Trung Hạc muốn phô tài khinh
công, liền nhảy vọt sang qua bên kia trước tiên. Đoàn Chính Thuần nghĩ
bụng: “Việc này không thể giải quyết êm đẹp được rồi, chi bằng mình ra oai
trước để đối phơng biết chừng mà nhượng bộ” bèn hạ lệnh:
– Đốc Thành! Ngươi chặt mấy gốc cây này để mở lối cho mọi người đi!
Thái Tân Khách Tiêu Đốc Thành đáp:
– Xin vâng!
Đoạn giơ búa thép lên chặt ngang từng gốc cây chẳng khác gì dao bén thái
đậu phụ. Điểm Thương Nông Đổng Tư Quy phóng chưởng lực ra đánh bật
những cây đã ngã xuống hất ngược lên dựa vào rặng cây hai bên, để lộ ra
một lối nhỏ. Cây cương phủ loá lên một vài nhát nữa, thế là 5 gốc cây bị
chặt phăng trong nháy mắt và mở thành một lối đi rộng rãi. Chung Vạn Cừu
trồng bón được thành một bức tường đã tốn bao nhiêu tâm huyết chứ đâu
phải chuyện dễ dàng? bây giờ bỗng bị Tiêu Đốc Thành vung 5 nhát búa
chém mất 5 cây lớn thì tức giận vô cùng nhưng hắn lại nghĩ rằng: “họ Đoàn
nước Đại Lý phen này bị nhục nhã ê chề, cái việc phá hoại nhỏ mọn này có
thấm vào đâu?”. Nghĩ vậy liền theo lối trống đi vào. Vừa đi khỏi bức tường
cây thấy Huỳnh Mi hoà thượng và Thanh bào khách mỗi người tay trái đang
cầm một đầu gậy trúc, trên đầu bật lên một luồng hơi trắng thì ra hai người
đang đấu nội lực. Thốt nhiên Huỳnh Mi đưa ngón tay bên phải ra xoáy
mạnh vào tảng đá xanh trước mặt, lõm xuống một lỗ nhỏ. Thanh bào khách
suy tính một chút, rồi tay phải cầm gậy trúc thứ hai vạch một vòng tròn lên
tảng đá đó. Bảo Định Đế chú ý nhìn biết ngay là Huỳnh Mi sư huyng đang
cùng thái tử Diên Khánh vừa đánh cờ vừa đấu nội công. Thế là vừa đấu trí
vừa đấu lực. Cuộc đấu đặc biệt lạ lùng này thật nguy hiểm khôn lường.
Thảo nào một ngày một đêm rồi mà sư huynh chưa thấy hồi âm. Té ra hai
người vẫn tiếp tục đấu chọi từ bấy đến giờ mà vẫn chưa thắng bại. Bảo Định
Đế đưa mắt nhìn vào bàn cờ, thấy hai người đang tranh đấu đến độ một còn
một mất, dường như cuộc thắng bại có quan hệ đến kiếp vận con người. Bên
Huỳnh Mi hoà thượng bị kém thế rõ ràng, đang chật vật gỡ cho thoát chết.
Bảo Định Đế lại quay nhìn về phía nhà đá thì thấy sáu tên đồ đệ của Huỳnh
Mi hoà thượng đương ngồi xếp bằng ở trước cửa, người nào nét mặt cũng
xám ngắt, hình như thần khí bị đoạn tuyệt gần chết đến nơi rồi. Đế thất kinh
trong bụng nghĩ thầm: “Có lẽ sáu người này đến giao đấu với thái tử Diên
Khánh trước nên đều bị trọng thương rồi chăng?”. Bảo Định Đế liền chạy
vội tới, đặt tay nghe huyệt mạch môn Phá Tham hoà thượng thì thấy mạch
chạy nhát gừng, yếu quá, lúc có lúc không, xem chừng nguy đến nơi rồi.
Tức thời nhà Vua móc trong bọc ra một bình nhỏ bằng bạch ngọc, đổ lấy
sáu viên thuốc đỏ tươi như máu bỏ vào mồm 6 vị hoà thượng mỗi người một
viên. Đó là sáu viên hổ phách hoàn, thuốc chữa người bị thương rất hay và
kiêm cả công hiệu bồi bổ nguyên thần. Có biết đâu sáu hoà thượng này
không phải bị thương, mà bị hấp lực Chu cáp thần công hút hết mất chân
khí trong người. Bệnh một đằng, thuốc chữa một nẻo nên chẳng ăn thua gì.
Đoàn Chính Thuần hô bọn Thiên Lý:
– Bốn ngươi lại đẩy khối đá này đi để mở cho Đoàn Dự ra.
Bốn người vâng lệnh, nhất tề tiến lại, Chung Vạn Cừu thét:
– Hãy thong thả! Quý vị có biết trong nhà đá này còn có ai nữa không?
Đoàn Chính Thuần và bọn Lăng Thiên Lý đều không ai biết Mộc Uyển
Thanh đã bị thái tử Diên Khánh bắt về, đem giam cùng một chỗ với Đoàn
Dự và cũng không biết hai người đã uống phải Âm dơưng hoà hợp tán, một
thứ độc dược có tính chất mãnh liệt. Vì thế Chung Vạn Cừu mới cho cả
người ngoài vào, chủ ý để mọi người mục kích một tấn kịch nhơ nhuốc của
họ Đoàn là Đoàn Dự đã loạn dâm với em gái.
Nghe Chung Vạn Cừu hỏi, Đoàn Chính Thuần bất giác trống ngực đánh
thình thình, lo cho số phận con mình đang bị chặt tay chân hay bị khoét mắt
rồi cũng nên. Ông nói:
– Chung động chúa! Nếu động chúa làm cho con tôi thân thể tàn tật thì động
chúa cũng nên nhớ rằng người cũng có vợ con đấy.
Chung Vạn Cừu cười lạt mỉa mai:
– Hừ, ngươi nói đúng đó, Chung Vạn Cừu này cũng có vợ có con thật,
nhng nhờ trời không đến nỗi trai gái loạn luân như loài muông thú.
Đoàn Chính Thuần giận tái mặt quát hỏi:
– Mi nói lăng nhăng gì thế?
Chung Vạn Cừu hỏi lại:
– Hương dược xoa Mộc Uyển Thanh có phải là con ngoại tình của mi
không?
Đoàn Chính Thuần giận mắng:
– Thân thế Mộc Uyển Thanh có can dự gì đến mi? Sao mi lại cứ hay can
thiệp vào chuyện không đâu?
Chung Vạn Cừu cười ha hả nói:
– Việc đó chưa chắc đã là chuyện không đâu. Họ Đoàn nước Đại Lý trị vì
trời nam, làm chúa tể một phương, thanh dang vang dội khắp giang hồ.
Nhưng hôm nay các vị anh hùng hảo hán sẽ mở to mắt ra coi một tấn bi hài
kịch: con trai và con gái Đoàn Chính Thuần phượng đảo, loan điên kết
thành vợ chồng.
Nghe Chung Vạn Cừu nói Đoàn Chính Thuần trong lòng nghi hoặc: chẳng
lẽ Mộc Uyển Thanh cũng ở trong nhà đá này? Chẳng lẽ hai anh em nó lại…
nhưng khi đem những lời hắn nói từ trước tới sau, suy đi nghĩ lại thì thấy rõ
ràng không còn nghi ngờ gì nữa. Ông lạnh toát cả người như rơi vào hồ
băng tuyết, lòng ông tê tái, miệng lẩm bẩm: “mưu kế quá thâm độc, mưu kế
quá thâm độc”.
Chung Vạn Cừu quay về phía Nam Hải Ngạc Thần giơ tay làm hiệu rồi hai
người vung tay dùng chưởng lực để đánh tảng đá ở cửa nhà thạch thất. Đoàn
Chính Thuần định cản lại nói:
– Khoan đã!
Nhưng Diệp Nhị Nương và Vân Trung Hạc hai người hai bên cùng đánh ra
một chưởng. Đoàn Chính Thuần đưa hai tay ngăn chặn chưởng lực của Diệp
Nhị Nương còn Cao Thăng Thái thì nghiêng người bước xéo lên để cản
chưởng lực của Vân Trung Hạc. Không ngờ hai chưởng lực của Diệp Nhị
Nương và Vân Trung Hạc chỉ là đòn đánh dứ. Trong lúc vung tay phải lên
thì tay trái đã đánh ngoặt lại, đều nhằm vào chỗ tảng đá. Tảng đá này tuy
nặng tới mấy ngàn cân nhưng bị bốn chưởng lực đánh vào một lúc, tức thời
lăn hẳn sang bên phải. Kể ra Vân Trung Hạc cùng Chung Vạn Cừu không
ưa gì nhau nhưng trong vụ này họ đã có bàn định với nhau từ trước. Chúng
dàn cảnh hư hư thực thực, Đoàn Chính Thuần biết đâu mà ngăn chặn được?
Thực ra Đoàn Chính Thuần cũng nóng lòng, mong sớm được nhìn mặt con
nên cũng không cố tâm ngăn cản lắm. Khối đá vừa lăn ra, mở một lối đi tối
om, nhìn vào không rõ cảnh tượng bên trong.
Chung Vạn Cừu vừa cười vừa nói:
– Trai trơ, gái trọi, quần áo xốc xếch, cùng ở trong căn nhà tối thế thì họ
còn làm cái trò gì hay ho nữa chứ?
Vừa nói dứt lời, bỗng thấy một thanh niên đầu bù tóc rối, mình trần trùng
trục xồng xộc chạy ra. Thanh niên đó chính là Đoàn Dự, tay ôm ngang một
thiếu nữ, đang mê mẩn như là người say rượu. Bảo Định Đế thẹn quá mặt
đỏ bừng. Đoàn Chính Thuần cũng cúi gầm mặt xuống, không dám ngửng
lên, Thư Bạch Phụng thì hai mắt đẫm lệ, miệng lẩm bẩm: “oan nghiệt, oan
nghiệt”.
Hắc bạch kiếm Sử An vì nhớ ơn cứu mạng của Đoàn Dự bây giờ thấy chàng
bị biêu riếu trước công chúng, trong lòng không nỡ, nhảy thoắt lại, đứng
chắn trước mặt chàng.
Nam Hải Ngạc Thần quát lớn:
– Quân đê tiện này, đứng tránh ra!
Chung Vạn Cừu cười ha hả, đang dương dương đắc ý, thốt nhiên ngừng bặt,
nét mặt sa sầm, tiếng cười biến thành tiếng la bi thảm:
– Linh! Linh! Mi đấy hử?
Mọi người thấy vậy giật mình, ai cũng giương mắt nhìn theo thì thấy Chung
Vạn Cừu chạy tới trước mặt Đoàn Dự thò tay giật lấy thiếu nữ mà chàng
đang ẵm ngang trước bụng. Nhìn rõ cô bé diện mạo còn nhỏ tuổi hơn Mộc
Uyển Thanh mà vóc người cũng nhỏ thon hơn, nét mặt vẫn còn thơ ngây
măng sữa. Cô bé này đâu phải Mộc Uyển Thanh, chính là Chung Linh, con
gái Chung Vạn Cừu.
Vừa kinh hoàng vừa phẫn nộ, Chung Vạn Cừu đưa tay ẵm con nhưng vừa
chạm vào cánh tay Chung Linh thì bỗng toàn thân giật nảy lên một cái, rồi
chân khí trong người cuồn cuộn như muốn thoát ra.
Đoàn Dự thần trí vẫn chưa được tỉnh táo hẳn, trong lúc mơ màng thấy nhiều
người đứng xúm quanh trước mặt, chàng nhìn thấy có cả song thân và bá
phụ, vội buông Chung Linh ra ú ớ gọi:
– Má má, gia gia, bá phụ.
Đoàn Dự buông Chung Linh ra, chân khí trong người Chung Vạn Cừu mới
khỏi bị hấp lực Chu cáp thần công hút ra nữa. Vì bị giam hãm lâu trong nhà
tối, bây giờ bị ánh dương quang rọi vào, Đoàn Dự chói mắt không mở ra
được. Song chàng thấy tinh thần sung mãn, chân tay mình nhẹ nhàng như
muốn bay bổng khỏi mặt đất.
Thư Bạch Phụng chạy đến ôm Đoàn Dự vào lòng, ân cần hỏi:
– Dự con! Con… con làm sao đấy?
Đoàn Dự đáp:
– Con… con cũng không biết nữa. Hiện giờ con… ở chỗ nào đây?
Chung Vạn Cừu không ngờ muốn làm hại người mà thành ra hại mình. Hắn
ngẩn người ra một lúc rồi buông con gái xuống.
Chung Linh thấy mình mặc phong phanh có mỗi bộ quần áo lót, thẹn quá
mặt đỏ bừng. Chung Vạn Cừu cởi áo dài ra khoác vào cho nàng rồi đánh
theo luôn một chưởng, làm cho cô bé sưng húp một bên má. Hắn mắng con:
– Quân mặt dầy! Ai bảo mày theo thằng súc sinh đi ở với nhau một chỗ?
Chung Linh bị mắng oan nhưng không biết biện bạch sao được nàng chỉ nức
nở khóc. Chung Vạn Cừu chợt lại nghĩ ra một điều: tảng đá lớn như thế Mộc
Uyển Thanh chắc không thể nào đẩy mà ra được, nhất định nàng hãy còn ở
trong nhà đá, vậy hãy gọi nàng ra để cùng chia bớt một phần ô nhục với
Chung Linh.
Hắn gọi luôn ba tiếng mà tuyệt nhiên không thấy ai thưa. Chung Vạn Cừu
tiến thẳng vào trong nhà. Căn nhà này chả rộng là mấy, không quá một
trượng vuông, thoáng đưa mắt đã nhìn khắp lượt mà tuyệt nhiên không thấy
một bóng người nào. Chung Vạn Cừu tức vỡ ngực, nhảy thót ra, lại đánh
con gái thêm một chưởng nữa và quát mắng:
– Ta phải đánh chết con bé thối tha này.
Giữa lúc đó, thốt nhiên Chung Vạn Cừu thấy một bàn tay thò ra, rồi một
ngón vô danh và một ngón út đương nhằm điểm vào cổ tay hắn. Chung Vạn
Cừu vội rụt tay lại để tránh, nhìn ra thì người định điểm lén hắn chính là
Đoàn Chính Thuần. Hắn căm giận quát hỏi:
– Ta dạy đứa con gái mất nết của ta có can dự gì đến mi?
Đoàn Chính Thuần cười khì khì đáp:
– Chung động chúa! Động chúa thực đã ưu đãi thằng nhỏ nhà tôi, sợ nó ở
một mình tĩnh mịch, đã để lệnh ái là một vị thiên kim tiểu thư ở chung cho
có bạn. Tại hạ rất cảm kích. Bây giờ cơ sự đã đến thế này, lệnh ái đã thành
người nhà họ Đoàn rồi, tại hạ không thể không can thiệp được.
Chung Vạn Cừu quát hỏi:
– Làm sao lại bảo con gái ta là người họ Đoàn nhà mi được?
Đoàn Chính Thuần đáp:
– Lệnh ái ở trong nhà đá này cùng thằng Dự bầu bạn mấy ngày mấy đêm.
Trai trơ, gái trọi lại thân thể loã lồ, tất chúng đã thành hảo sự với nhau rồi.
Con tôi là thái tử của Trấn Nam Vương, tuy đã đính hôn cùng tiểu thư con
Thiện xiển hầu Cao hiền đệ, song làm trai năm thê, bảy thiếp vẫn được chứ
sao? Thế thì động chúa với tôi là chỗ thông gia với nhau rồi còn gì?
Nói xong lại tiếp một chuỗi cười ha hả. Chung Vạn Cừu giận muốn phát
điên, không nhịn được nữa, nhảy xổ vào đá “vu vu vu” luôn ba cước. Đoàn
Chính Thuần vẫn cười ngặt nghẽo, mà đối phương đánh cước nào ông cũng
tránh né dễ như chơi.
Các tay hào kiệt đều tự nghĩ: “Thế lực họ Đoàn nước Đại Lý quả là không
thể khinh thường được. Không hiểu họ dùng cách nào mà bắt được con gái
Chung Vạn Cừu nhốt vào nhà đá để đánh tráo đem Mộc Uyển Thanh đi.
Nguyên do vụ này là tự tay bọn Hoa Hách Cấn mà ra. Bản ý của họ lúc mới
bắt Chung Linh đem vào địa đạo chẳng qua là giữ cô bé khỏi tiết lộ sự bí
mật về công việc của họ mà thôi. Nhưng sau khi nghe thấy câu chuyện đối
thoại giữa hai vợ chồng Chung Vạn Cừu mới biết rõ hắn cùng thái tử Diên
Khánh xếp đặt một quỷ kế rất hiểm độc, cố ý làm bại hoại thanh danh nhà
họ Đoàn. Bọn Hoa Hách Cấn cùng nhau thương nghị, đều thấy rằng việc
này quan hệ rất lớn, lại là việc rất khẩn cấp. Chờ cho Chung phu nhân đã đi
khỏi, Ba Thiên Thạch từ trong đường hầm chui lên ra ngoài, dùng khinh
công tuyệt đỉnh điều tra đích xác vị trí ngôi nhà đá và còn cách xa bao nhiêu
rồi quay lại báo cho Hoa Hách Cấn biết rõ để ấn định lại lộ tuyến của đường
hầm. Ba ngời lại hì hục đào mải miết thêm một đêm nữa, đến sáng hôm
sau thì vừa tới đích. Hoa Hách Cấn khoét một lỗ từ dưới nhà đá chui lên,
thấy Đoàn Dự đang nắm chặt bàn tay của một người đứng bên ngoài nhà đá
thò vào. Hoa rất đỗi ngạc nhiên, không biết là bàn tay Phá Sản hoà thượng
mà cho là bàn tay thái tử Diên Khánh nên không dám lớn tiếng hỏi Đoàn
Dự mà chỉ khẽ đập nhẹ trên bàn tay trái chàng. Không ngờ ngón tay vừa
chạm vào mu bàn tay Đoàn Dự Hoa Hách Cấn thấy toàn thân run bắn lên
một cái, chẳng khác chi chạm phải một khối than hồng. Hoa nhìn lại Đoàn
Dự thì thấy mắt chàng dường như phun ra lửa không khỏi chột dạ. Trong
lúc vội vàng Hoa dùng sức kéo mạnh, mong lôi được chàng xuống đường
hầm để trốn thoát cho mau. Nào ngờ lúc vừa nắm chặt bàn tay Đoàn Dự,
Hoa Hách Cấn cảm thấy chân khí trong người cứ cuồn cuộn tiết ra ngoài,
không thể nhịn được hoảng hốt la: “ối chao! ối chao!”. Ba Thiên Thạch và
Phạm Hoa đều là người thính tai mẫn tiệp, từ đường hầm nhảy lên ngay,
hợp lực lôi Hoa Hách Cấn ra bấy giờ mới thoát khỏi sức hút của Chu cáp
thần công. nội lực của ba người so với Phá Sản hòa thượng cao hơn một bậc,
hơn nữa lại đều là tay cơ trí, ứng biến mau lẹ mà cũng sợ toát cả mồ hôi.
Trong bụng đều cho là tà phép của thái tử Diên Khánh cực kỳ lợi hại. Rồi
không ai dám đụng vào mình Đoàn Dự nữa vì sợ Diên Khánh dùng ta thuật,
chuyền qua cánh tay Đoàn Dự mà hút lấy chân khí của họ. Giữa lúc đó
bỗng thấy phía ngoài nhà có tiếng xôn xao, lại nghe rõ cả Bảo Định Đế và
Trấn Nam Vương cũng đã tới nơi. Chung Vạn Cừu thì đang huênh hoang
diễu cợt. Phạm Hoa một tay hoạt kê có biệt tài, lại lắm mưu nhiều trí,
thoáng nảy ra một ý nghĩ kỳ khôi: “Thằng cha Chung Vạn Cừu này thật là
khả ố, âu là ta chơi khăm cho hắn bị một vố ê chề để làm trò cười chơi”.
Nghĩ vậy Phạm Hoa vội cởi áo ngoài của Chung Linh ra, mặc cho Mộc
Uyển Thanh. Đoạn ra hiệu cho bạn đưa Mộc Uyển Thanh xuống đường
hầm, dắt Chung Linh vào chỗ Mộc Uyển Thanh. Xong xuôi lấy phiến đá
đậy cửa hầm lại, không còn để một dấu vết gì khả nghi nữa.
Đoàn Dự tuy hút được chân khí của sáu vị hoà thợng nhưng không biết quy
nạp vào huyệt đan điền để mà vận dụng nên chỉ thấy sáu luồng chân khí
chạy nhộn trong mình làm cho lục phủ ngũ tạng nôn nao, rất là khó chịu,
người cũng lảo đảo đi đứng không vững. Bảo Định Đế thấy thế, cho là Đoàn
Dự đã trúng phải kịch độc, liền đưa ngón tay điểm dứ vào ba huyệt: “nhân
trung”, “thái dương”, “linh đài” cho chàng. Sáu luồng chân khí không xông
vào óc được nữa, Đoàn Dự tuy trong người vẫn còn bứt rứt khó chịu, nhưng
đầu óc đã thanh sảng liền thưa với Bảo Định Đế:
– Bá phụ! Cháu bị trúng độc Âm dương hoà hợp tán.
Bảo Định Đế thấy tính mạng Đoàn Dự không có gì đáng lo ngại nữa đã hơi
yên lòng. Nhưng lại nghĩ tới cuộc đấu cờ thí mạng giữa Huỳnh Mi hòa
thượng và thái tử Diên Khánh đã tới giai đoạn ngàn cân treo sợi tóc. Bất
luận là đấu cờ hay đấu nội lực cả hai mặt đều nguy hiểm, chỉ sai một tý nữa
là nguy đến tính mạng nên Bảo Định Đế tạm ngưng việc giải độc cho Đoàn
Dự, chạy vội đến chỗ hai người đấu cờ.
Huỳnh Mi hòa thượng mồ hôi trán nhỏ giọt xuống bàn cờ, còn Diên Khánh
nét mặt vẫn thản nhiên. Xem qua tình thế đủ biết cuộc thắng bại đã rành
rành, sự sinh tử của Huỳnh Mi hòa thượng đã đến lúc cực kỳ nguy hiểm.
Đoàn Dự thần trí vừa được sảng khoái, cũng quan tâm ngay tới cuộc thắng
bại trên bàn cờ, vội chạy lại xem. Thấy quân bên Huỳnh Mi đã bị mất sạch,
Diên Khánh chỉ bắt thêm một quân nữa là Huỳnh Mi không còn quân ra, tất
phải chịu thua.
Thái tử Diên Khánh đưa đầu gậy trúc điểm xuống bàn cờ, trỏ đúng điểm
then chốt, chỉ đi một nước đó nữa là bên Huỳnh Mi vô phương cứu vãn.
Đoàn Dự trong dạ bồn chồn, liền nghĩ ra một kế: “A ta phải làm cho lão đi
sai một nước”. Nghĩ vậy chàng đưa tay giữ lấy đầu gậy của thái tử Diên
Khánh. Diên Khánh vừa đưa gậy trúc tới điểm “lục thất”, góc thượng vị thì
thốt nhiên lão cảm thấy lòng bàn tay nóng ran lên, rồi nội lực trên cánh tay
cuồn cuộn thoát ra ngoài. Thái tử Diên Khánh kinh ngạc vô cùng, ghé mắt
nhòm xuống thấy Đoàn Dự đưa hai ngón tay cặp vào đầu gậy.
Chính Đoàn Dự cũng không biết rằng sau khi mình nuốt đôi Mãng Cổ chu
cáp đã phát ra hiện tượng quái dị là hút cả được chân khí của người nào
chạm tới mình. Chàng thấy tay mình cầm vào đầu gậy trúc mà thái tử Diên
Khánh không điểm được gậy xuống bàn cờ, chàng chỉ mong kéo dài được
phút nào hay phút đó, trêu chọc cho lão rối loạn tâm trí, hoạ may Huỳnh Mi
có cơ xoay lại cục diện cũng chưa biết chừng nên chàng cứ bám chặt đầu
gậy, nhất định không chịu buông ngón tay ra.
Thái tử Diên Khánh trong đầu óc nẩy ra vô số nghi vấn: khi trước bọn mình
bắt thằng nhỏ này thấy nó không hiểu một chút võ công nào cả kia mà!
Nghệ thuật tối đa của nó chẳng qua là mấy bước bộ pháp để né tránh mà
thôi. Không hiểu sao mới trong vài ngày, đột nhiên nó lại nảy ra cái tà thuật
hút được nội công của người ta? Phải chăng lúc đầu nó có ý dấu diếm tài
nghệ, không chịu tiết lộ, chờ khi người tiếp viện đến rồi mới ra tay? Ngoài
ra không thể tìm được nguyên nhân minh bạch nào khác để giải đáp. Thái tử
Diên Khánh vừa nghĩ vừa vận khí vào huyệt đan điền, dồn sức mạnh ra cánh
tay. Chiếc gậy trúc lúc đó phát xuất được một sức mạnh tuyệt luân, đầu gậy
trúc rung lên một cái, đẩy bật cánh tay Đoàn Dự ra.
Nội lực của thái tử Diên Khánh thâm hậu dị thường, không mấy ai sánh kịp.
Đoàn Dự tuy mới hút vào người được chân lực của bọn Phá Tham hòa
thợng nhưng lại cha biết vận dụng, mơừi phần không phát động được một
nên đầu gậy trúc của thái tử Diên Khánh hất mạnh một cái chàng đã phải
buông tay ra.
Đoàn Dự cảm thấy nửa mình bị tê chồn, người lảo đảo muốn té vật xuống,
phải vội vàng đưa tay vịn vào phiến đá mới đứng vững lại được.
Thái tử Diên Khánh phát xuất kình lực đẩy bật được tay Đoàn Dự ra nhưng
lúc thu hồi chân khí chỉ còn được có phân nửa nên trong lòng rất đỗi kinh
hoàng, kinh hoàng hơn cả Đoàn Dự. Vì tâm trạng quá hoang mang, thái tử
Diên Khánh trước định đi nước cờ “lục thất”, giờ lại điểm sang nước “thất
bát” trên thượng vị. Lão biết mình đi lỡ, lẩm bẩm la lên: “thôi chết rồi”, lão
toan nhấc đầu gậy lên đi lại thì không kịp nữa. Trên điểm “thất bát” đã vạch
thành nửa vòng tròn. Những bậc cao thủ đấu cờ hạ tịch bất hồi, huống chi
đã khắc đá làm bàn, rạch đá làm quân, công lực điểm tới đâu đá nát tới đó,
có lý đâu đã hạ quân rồi lại bỏ được? Khốn nỗi đi vào điểm “thất bát” trong
góc thượng vị đó tức là tự mình lại lấp mắt mình. Phàm người đã biết đánh
cờ thì ai cũng hiểu: “hai mắt là sống, một mắt là chết”. Trong ván cờ này
thái tử Diên Khánh đã tạo thành thế đủ cả hai mắt để nhằm tấn công vào cơ
sở bên Huỳnh Mi hoà thượng, quyết không có lý nào lại tự lấp đi một mắt.
Theo lẽ đương nhiên là thế nhưng mà đã trót hạ lầm quân thì lại tỏ ra kém
nội lực để xẩy ra nước cờ lầm lạc. Cờ đi sai một nước đành thua cả bàn, thái
tử Diên Khánh lại là người rất có tên tuổi, hiểu lẽ “Tỉnh ăn, lầm thua”,
quyết không bao giờ tranh chấp về những việc đuối lý như thế. Lão lập tức
đứng dậy, hai tay chống bàn cờ, chú ý nhìn lại cuộc cờ hồi lâu không nhúc
nhích.
Các tay hào kiệt có mặt tại đây phân nửa chưa từng gặp mặt thái tử Diên
Khánh bây giờ thấy lão có nhiều vẻ khác thường nên ai cũng chăm chú nhìn
vào.
Thái tử Diên Khánh lặng lẽ ngó bàn cờ lúc lâu rồi đột nhiên cầm đôi gậy
trúc chống một đầu xuống đất, nhảy lên đi cao lênh khênh nhưư người đi cà
kheo, bước rất dài, thoáng cái đã đi khá xa. Bất thình lình một luồng gió tây
thổi ngược lại, tảng đá bàn cờ rung rung mấy cái, tiếp đó mấy tiếng loảng
choảng, tảng đá đó vỡ ra làm mười mấy mảnh, ngổn ngang trên mặt đất.
Thế là bàn cờ đá đánh dấu một cuộc đấu trí và đấu lực rất gay go, cổ kim hy
hữu đã vỡ tan tành, không còn gì lưu lại về sau nữa.
Mọi người đều thất kinh ngơ ngác nhìn nhau và trong lòng cùng nghĩ như
nhau: “lão Thanh bào quái khách này người chẳng ra người, quỷ chẳng ra
quỷ, trông như cái xác biết cử động mà sao võ công cao siêu tới mức không
thể lường được”.
Huỳnh Mi hòa thượng thắng cuộc một cách bất ngờ, hai tay vịn đầu gối
đứng dậy, tâm thần bàng hoàng, hồi tưởng lại tình trạng nguy nan lúc nãy,
vẫn hãy còn hồi hộp, chưa lấy lại được bình tĩnh. Trong bụng nhà sư vẫn
băn khoăn, không hiểu tại sao thái tử Diên Khánh đang lúc đã nắm vững
phần thắng rồi lại thốt nhiên hạ một nước cờ kỳ cục, lấp ngay một mắt của
mình đi rõ hình như có ý nhờng mình. Nhưng không lý nào trước tình thế
nghiêm trọng như vậy mà lão lại chịu nhường bao giờ.
Tất cả mọi biến cố đó Bảo Định Đế, Đoàn Chính Thuần và bọn Cao Thăng
Thái đều mơ hồ không ai hiểu ra sao cả. Nhưng may mà cứu được Đoàn Dự
ra về, thanh danh họ Đoàn không bị tổn thất mảy may, thái tử Diên Khánh
lại bị thua cờ bỏ trốn, có thể nói là chiếm được toàn thắng